Bài viết

Chiếc ba lô từ Phúc Sơn đi qua ngày toàn thắng

Nghệ An17/08/2026Xã Hùng Châu (Đoàn xã Hùng Châu)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Nhân vật: Cựu chiến binh Nguyễn Công Anh, sinh năm 1954, quê xã Phúc Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An.
Vai trò: Chiến sĩ Sư đoàn 305, sau thuộc Lữ đoàn Đặc công 316; tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh, tiếp quản sân bay Tân Sơn Nhất và làm nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia.

Trong ngôi nhà của cựu chiến binh Nguyễn Công Anh ở xã Phúc Sơn có một chiếc tủ đặc biệt. Chiếc tủ không đựng vật gì quý giá theo cách người ta thường nghĩ. Bên trong chỉ là một chiếc ba lô cũ, võng vải, màn tuyn, bi đông, cặp lồng, la bàn, tấm vải dù, mấy bức ảnh và những lá thư đã ngả màu.

Nhưng với ông Anh, đó là cả một thời trai trẻ.

Phúc Sơn nằm bên miền núi Anh Sơn, nơi dòng sông Lam chảy qua những bãi ngô, bãi mía và những làng quê nép dưới chân đồi. Nguyễn Công Anh lớn lên ở đó, quen tiếng gà gọi sáng, quen những buổi theo cha mẹ ra đồng và quen cả dáng núi xanh thẫm sau mỗi trận mưa.

Đầu năm 1974, khi vừa tròn hai mươi tuổi, ông nhập ngũ, được biên chế vào Sư đoàn 305 thuộc Bộ Tư lệnh Đặc công. Từ một chàng trai miền núi, ông bắt đầu những ngày huấn luyện nghiêm ngặt. Người chiến sĩ phải học tính kiên trì, khả năng quan sát và tinh thần phối hợp với đồng đội. Mọi công việc đều đòi hỏi sự cẩn trọng, bởi chỉ một sơ suất nhỏ cũng có thể ảnh hưởng đến cả đơn vị.

Sau thời gian huấn luyện, Nguyễn Công Anh được điều về Lữ đoàn 316, hoạt động tại miền Đông Nam Bộ, ở khu vực tiếp giáp Sài Gòn. Những cuộc hành quân ngày ấy không có con đường bằng phẳng. Chiếc ba lô trên vai phải chứa đủ đồ dùng cần thiết, nhưng không được quá nặng. Võng và màn giúp người lính có chỗ nghỉ giữa rừng. Cặp lồng, bi đông gắn với những bữa ăn vội. Có những hôm cơm chưa kịp nguội, đơn vị đã phải chuyển vị trí.

Chiếc ba lô vì thế không phải một vật vô tri. Nó theo người lính qua nắng, qua mưa; nằm bên cạnh trong những đêm rừng yên ắng và lại được khoác vội lên vai mỗi khi có lệnh hành quân. Nếu biết nói, chắc nó sẽ kể được bao câu chuyện về những người lính trẻ nhớ nhà nhưng vẫn động viên nhau hoàn thành nhiệm vụ.

Mùa Xuân năm 1975, Nguyễn Công Anh có mặt trong đội hình cánh quân từ phía Tây Bắc tiến vào giải phóng Sài Gòn. Càng đến gần thành phố, nhịp hành quân càng gấp gáp. Những người lính hiểu rằng giờ phút quyết định của cuộc kháng chiến đã tới. Tuy vậy, trong lòng họ không chỉ có niềm háo hức. Còn có sự lo lắng cho đồng đội, có nỗi nhớ cha mẹ và có ước mong chiến tranh sớm kết thúc để mọi người được trở về.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, đơn vị ông tham gia tiếp quản sân bay Tân Sơn Nhất. Giữa không gian rộng lớn của sân bay, chàng trai Phúc Sơn nhặt được một tấm vải dù, chiếc la bàn và một cuốn album bị bỏ lại. Ông giữ chúng như những dấu mốc của ngày đất nước thống nhất, chứ không phải như đồ vật có giá trị tiền bạc.

Tấm vải dù nhắc ông nhớ bầu trời Sài Gòn trong ngày cuối của chiến tranh. Chiếc la bàn gợi lại những chặng đường đã đi. Còn cuốn album dần trở thành nơi gìn giữ ảnh của đồng đội – những khuôn mặt có người đã trở về, có người còn mãi ở tuổi đôi mươi.

Sau ngày miền Nam giải phóng, Nguyễn Công Anh chưa được trở về Phúc Sơn ngay. Đơn vị ông tiếp tục làm nhiệm vụ tại Campuchia, cùng các lực lượng khác giúp nhân dân nước bạn thoát khỏi thảm họa do chế độ Khmer Đỏ gây ra. Chiếc ba lô lại theo ông qua một chặng đường mới.

Những năm ở xa nhà, ông viết thư về cho cha mẹ và anh chị em. Trong thư là lời hỏi thăm sức khỏe, là nỗi nhớ quê, là mong muốn người thân đừng quá lo lắng. Có lần tin nhà đến chậm, người lính không kịp trở về khi mẹ qua đời. Nỗi tiếc nhớ ấy theo ông rất lâu. Chiến tranh không chỉ thử thách con người ngoài mặt trận; nó còn tạo nên những khoảng trống âm thầm trong mỗi gia đình.

Hơn mười ba năm quân ngũ qua đi, ngày Nguyễn Công Anh trở về, người thân thấy trên vai ông vẫn là chiếc ba lô cũ. Mở ra, bên trong không có quà bánh hay vật quý. Chỉ có đồ dùng người lính, thư từ và ảnh cũ. Vậy mà ông giữ gìn từng thứ cẩn thận suốt mấy chục năm.

Có người từng hỏi mua một vài kỷ vật, nhưng ông không bán. Bởi bán một chiếc bi đông hay chiếc la bàn thì dễ, còn ký ức gắn với chúng làm sao định được giá. Đó là kỷ niệm của đồng đội, của những năm tuổi trẻ và của một thời đất nước đi qua gian khó để có ngày sum họp.

Mỗi khi con cháu tụ tập, chiếc tủ lại được mở. Ông Anh kể về cách người lính nhường nhau ngụm nước, chia nhau phần cơm, nâng đỡ nhau lúc mệt. Ông không tô vẽ chiến tranh thành chuyện phiêu lưu. Ông muốn các cháu hiểu rằng chiến tranh là mất mát, còn tình đồng đội và khát vọng hòa bình mới là điều đáng nhớ nhất.

Từ Phúc Sơn, chiếc ba lô đã theo Nguyễn Công Anh đến miền Đông Nam Bộ, qua sân bay Tân Sơn Nhất rồi sang Campuchia. Cuối cùng, nó trở về nằm yên trong căn nhà bên dòng sông Lam. Nó không còn dùng để mang quân trang nữa. Giờ đây, chiếc ba lô mang một nhiệm vụ khác: giữ cho ký ức không bị lãng quên.

Và mỗi lần nhìn chiếc ba lô bạc màu ấy, thế hệ trẻ có thể hiểu rằng ngày toàn thắng không tự nhiên mà đến. Trong niềm vui chung của đất nước có bước chân của một người lính quê Phúc Sơn, có nỗi mong chờ của cha mẹ già và có cả những lá thư viết vội giữa hai chặng hành quân.

Nguồn tư liệu đối chiếu: Báo Nghệ An – Bộ sưu tập kỷ vật của người lính đặc công xứ Nghệ.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Chiếc ba lô từ Phúc Sơn đi qua ngày toàn thắng | Câu chuyện thời hoa lửa