Bài viết

Chiếc bi đông và chuyện chiến đấu trên “đỉnh máu”

Gia Lai17/05/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Chiếc bi đông và chuyện chiến đấu trên “đỉnh máu”Khi kể cho tôi nghe câu chuyện này, Thiếu tướng, Anh hùng LLVTND Lê Mã Lương không nén được xúc cảm. Ông cứ cầm chiếc bi đông nâng lên đặt xuống như chẳng muốn rời. Giọng ông rưng rưng như gọi tên những người đồng đội năm xưa.

Chiếc bi đông của Đại đội trưởng Đinh Đình Bình Điểm cao 1062 (ngọn đồi có thuộc địa phận huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam) luôn hằn sâu trong ký ức tôi bởi sự ác liệt và tàn khốc. Suốt đời, tôi không thể quên được cảnh tượng trận địa mù mịt trong lửa bom và đạn pháo của địch, những tiếng rên rỉ đau đớn, đứt đoạn của đồng đội khi bị thương đòi uống nước. Kể đến đây, ông nhớ lại: Đêm đó, tôi đi cùng Trung tá, Sư đoàn phó kiêm Tham mưu trưởng Sư đoàn 304 Lê Đắc Long lên đỉnh 1062 kiểm tra và động viên bộ đội trên các chốt. Bùn nước sền sệt ngập đến đầu gối. Đi trên đỉnh 1062, tựa như đi trong sình lầy, cây cối chỏng chơ không còn một chiếc lá trên cành, dù nơi đây từng là khu rừng già rậm rạp. Cứ một đoạn từ 25 đến 50 mét hào chiến đấu, anh em trong đoàn lại thấy lên một chiến sĩ đã hy sinh vùi trong bùn. Khi đến chốt của Đại đội 10, Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 24, tôi nghe Trung úy Đại đội trưởng Đinh Đình Bình báo cáo quân số hao hụt nhiều, cơ số đạn còn rất ít. Về ăn uống của anh em chỉ có cơm sấy, mắm kem, nước uống thiếu nghiêm trọng khiến sức khỏe của chiến sĩ ta giảm đi rõ rệt. Tuy nhiên, tinh thần anh em rất vững vàng, quyết tâm bám trụ, giành thắng lợi. Chiếc bi đông nước của tôi chỉ còn non nửa, tôi đưa cho anh em mỗi người nhấp một ngụm cho đôi môi đỡ nứt nẻ. Đến lượt Đinh Đình Bình nhấp xong, Bình cảm ơn tôi, rồi nói: “Em hết khát rồi. Em kiểm tra ai khát sẽ cho anh em uống. Thủ trưởng cứ yên tâm, chúng tôi sẽ quyết giữ chốt. Còn cái bi đông, cứ để em giữ. Thủ trưởng cầm tạm cái của em mà dùng”.
Chiếc bi đông kỷ vật gắn với câu chuyện của Thiếu tướng, Anh hùng LLVTND Lê Mã Lương mang số đăng ký 9819-K1-1312, hiện được lưu giữ và phát huy giá trị tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam. Ảnh BTLSQSVN. Tôi chia tay với anh em, đi tới chốt tiếp theo. Vừa đi khỏi một lúc, tôi nghe tiếng gầm rú của máy bay và ngay sau đó là một trận mưa bom. Bom cháy, bom na pan ngút trời. Ngoảnh lại, phía sau là cả một biển lửa kinh hoàng. Nếu chỉ chậm vài phút, có lẽ tôi đã không còn sống đến hôm nay. Vậy mà anh em vẫn trụ lại được, quần nhau với địch cho tới sáng. Tất cả đều quyết tâm không cho lính dù tái chiếm lại… Nhưng Đại đội trưởng Đinh Đình Bình cùng nhiều chiến sĩ khác đã ngã xuống. Nói tới đây, giọng ông như nghẹn lại… Trận Thượng Đức Chính lần kiểm tra chốt đó mà có câu chuyện xúc động về chiếc bi đông của Đại đội trưởng Đinh Đình Bình, ông kể cho chúng tôi nghe hôm nay, nhân ngày thương binh liệt sỹ 27/7. Câu chuyện này trở thành một phần máu thịt trong cuộc đời chiến đấu của ông. Trung tuần tháng 8 năm 1974, Trung đoàn 24 bộ binh được đưa vào mặt trận Thượng Đức. Ngày 26 tháng 9, Ban chỉ huy Sư đoàn 304 quyết định đưa Tiểu đoàn 7 thuộc Trung đoàn 24 vào chốt giữ điểm cao 1062. Tham gia chiến đấu tại điểm cao này còn có Trung đoàn 66 thuộc Sư đoàn 304 và Trung đoàn 3 thuộc Sư đoàn 324. Điểm cao 1062 là vị trí cực kỳ quan trọng của khu vực duyên hải Quảng Nam - Đà Nẵng. Từ đình đồi này có thể quan sát toàn bộ thung lũng sông Vu Gia. Đài quan sát pháo binh của ta được đặt ở đây để chỉ thị mục tiêu rất chính xác trong trận đánh vào chi khu Thượng Đức, khống chế các cơ sở quân sự của địch trong những trận đánh sau này. Sau khi mất Thượng Đức ngày 7 tháng 8 năm 1974, Bộ Tổng tham mưu ngụy quyết định điều hai lữ đoàn dù từ Quảng Trị vào Quảng Đà cùng với sư đoàn 3 ngụy, mở cuộc hành quân chiếm lại Thượng Đức. Ngày 8 tháng 8 năm 1974, lính dù đến Đà Nẵng. Tại đây, chỉ huy sư đoàn dù của ngụy là tướng Lê Quang Lưỡng hung hăng tuyên bố trước các nhà báo: “Nếu không tái chiếm được Thượng Đức thì xin thượng cấp giải tán sư đoàn dù”. Cuộc chiến đấu giữa Trung đoàn 24, Trung đoàn 66 thuộc Sư đoàn 304 và Trung đoàn 3 thuộc Sư đoàn 324 với sư đoàn dù của Quân đội Sài Gòn đã diễn ra quyết liệt ở khu vực điểm cao 1062 trong suốt tháng 3 tháng (tháng 9, 10, 11) năm 1974. Đây là cuộc đọ sức nảy lửa nhất, ác liệt nhất của hai bên.
Bộ đội ta tiếp quản Chi khu Thượng Đức năm 1974. Ảnh tư liệu Đỉnh máu Ông Lương kể: “Với cương vị Chủ nhiệm chính trị Trung đoàn 24, tôi có mặt ở điểm cao 1062 từ những ngày đầu tiên. Cùng đồng đội chân trần vượt qua núi cao, khe sâu hành quân lên chiếm lĩnh trận địa. Càng tiến gần về điểm cao 1062, địa thế càng hiểm trở, từng rậm hơn, cây to nhiều hơn, sườn càng dốc đứng, nhìn lên đỉnh thấy cao vời vợi. Việc vận chuyển vũ khí, đạn dược, lương thực của ta lên đỉnh núi cả là một vấn đề. Đặc biệt là nước. Những khó khăn gian khổ khi ấy không thể nào tả xiết. Phát hiện quân ta di chuyển, địch dùng máy bay, phi pháo dội bom đạn xối xả. Chỉ một loáng cả khu rừng nguyên sinh bị bom na pan thiêu rụi, cây cối trơ trụi, tan hoang. Bộ đội không chỉ đối phó với bom đạn địch mà còn hứng chịu thời tiết khắc nghiệt. Vào những ngày đó, trời thì đổ mưa tầm tã suốt ngày đêm. Mưa nhiều làm cho các tuyến hào chiến đấu ngược lên đỉnh 1062 đầy bùn nước sền sệt, hầm hào sụt lở từng mảng. Anh em chiến sỹ người nào người nấy trầy da, tứa máu, chân sưng vù, mặt mũi đều nhuốm màu vàng quạch bởi bùn đất. Vậy mà gương mặt họ ai nấy đều ánh lên một niềm tin vững chắc quyết tâm giữ điểm cao 1062 đến giọt máu cuối cùng. Về phía địch, chúng bỏ lối đánh ồ ạt chuyển sang áp dụng chiến thuật “ấn dũi”. Chúng hy vọng, với cách đánh “lấn dũi” cộng với bom, pháo bắn vào trận địa ta, quân ta sẽ bị hao mòn dần, không còn đủ sức giữ trận địa. Và khi đó, chúng sẽ “gặm nhấm” dần vùng giải phóng Thượng Đức. Mỗi khi quân ta chiếm được đỉnh 1062, lập tức địch cho phi, pháo dội bom, đạn xối xả, sau đó lính dù điên cuồng xông lên quyết chiếm lại. Nhưng tất cả những đợt phản kích của địch đều bị chặn đứng trước hàng rào “thép” của chiến sỹ ta. Cả hai bên ta và địch có lúc mất đi, rồi lại giật lại, máu của những người lính hai bên đã biến đỉnh 1062 thành “đỉnh máu”.
Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Lê Mã Lương. Ảnh BTLSQSVN.
Ngày 28 tháng 10 năm 1974, Sư đoàn 304 tổ chức một trận phản kích, chiếm lại toàn bộ điểm cao 1062. Súng cối của ta cấp tập, súng phun lửa đốt cháy dữ dội khiến các lực lượng dù phải rút khỏi điểm cao 1062. Tháng 11 năm 1974, sư đoàn dù đưa tiếp lữ đoàn dù 2 vào cuộc chiến hỗ trợ cho lữ đoàn dù 1 đã mất sức chiến đấu. Thực hiện chủ trương của Bộ chỉ huy chiến dịch, khi lữ đoàn dù 2 vừa chân ướt chân ráo đến khu vực tập kết, pháo binh của ta đánh phủ đầu khiến chúng thương vong nhiều. Ta còn cho trinh sát luồn vào nơi đóng quân của địch để tập kích trận địa pháo, đốt cháy kho đạn. Công binh dùng đạn pháo chưa nổ của địch liên kết với mìn làm giàn phóng vào địa hình của chúng gây hoang mang lo sợ, chúng không hiểu ta có vũ khí gì mới. Ngày 20 tháng 12 năm 1974, sau nhiều tháng bị giam chân ở chiến trường rừng núi, sư đoàn dù - sư đoàn được coi là thiện chiến bậc nhất của địch bị đánh qụy tại cao điểm 1062, buộc phải rút khỏi mặt trận Thượng Đức. Đây là trận đánh lớn nhất và cũng là trận thất bại nặng nề nhất của quân dù kể từ khi thành lập (các tài liệu của địch thú nhận sư đoàn dù đã bị thiệt hại đến 50% quân số). Thiếu tướng, Anh hùng LLVTND Lê Mã Lương tâm sự: Thượng Đức là một khúc ca bi tráng, một kỷ niệm khó phai mờ. Bên cạnh những chiến công còn rất nhiều nỗi đau mà tới nay mấy chục năm vẫn chưa bao giờ lành lặn nó luôn hiện hữu và hằn sâu trong ký ức tôi như mới ngày hôm qua. Đinh Đình Bình và rất nhiều đồng đội của tôi đã nằm lại trên đỉnh cao 1062 năm ấy. Bây giờ trên đình cao 1062 là ngôi mộ tập thể của hàng trăm cán bộ chiến sỹ của sư đoàn 304, Sư đoàn 324. Trên ấy rất cần có một tượng đài để tri ân, tưởng nhớ đến các anh hùng liệt sỹ đã hy sinh ngày ấy./.Trần Thanh Hằng

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Chiếc bi đông và chuyện chiến đấu trên “đỉnh máu” | Câu chuyện thời hoa lửa