Chiếc bút Bác Hồ tặng người mở đường trên biển
Chiếc bút Bác Hồ tặng người mở đường trên biểnSau những chuyến trinh sát vượt biển mở đường vận chuyển vũ khí từ Bắc vào Nam năm 1961-1962, đồng chí Bông Văn Dĩa vinh dự được báo cáo với Trung ương Đảng và Bác Hồ về con đường vận tải trên biển. Với thành tích hai lần vượt biển từ Nam ra Bắc trinh sát và chỉ huy vận chuyển chuyến hàng đầu tiên từ Bắc vào Nam an toàn, đồng chĩ đã được Bác Hồ khen ngợi tặng Bằng khen và chiếc bút máy làm kỷ niệm.
Từ đầu những năm 1960, tuyến giao liên Trường Sơn - 559 làm nhiệm vụ vận chuyển, chi viện chiến trường miền Nam đã hoạt động nhưng chủ yếu mới đưa được người và vũ khí vào các tỉnh Khu 5, còn các tỉnh ven biển và Nam Bộ thì chưa tới được. Thời kỳ này phong trào cách mạng miền Nam đang phát triển mạnh mẽ, nhiệm vụ vận chuyển vũ khí cho chiến trường miền Nam vô cùng cấp bách. Đồng bào miền Nam đang cần vũ khí, việc chi viện cho cách mạng miền Nam vào thời điểm này không còn con đường nào khác là đường biển. Trong khi chờ đợi một phương thức vận chuyển vũ khí từ miền Bắc đi bằng đường biển vào miền Nam, Trung ương Đảng chỉ thị cho các tỉnh Nam bộ chuẩn bị bến bãi và cho thuyền ra miền Bắc vừa thăm dò, mở đường nghiên cứu phương tiện vận chuyển trên biển và báo cáo tình hình, nếu có điều kiện thì chở vũ khí về. Trong một thời gian ngắn, các tỉnh Bến Tre, Trà Vinh, Bạc Liêu, Bà Rịa đã gấp rút bắt tay chuẩn bị, tổ chức các đội tàu, mua sắm thuyền lưới và chọn người để lên đường vượt biển ra Bắc. Trong đó, tỉnh Bến Tre tổ chức hai đội tàu, tỉnh Trà Vinh tổ chức một đội tàu, tỉnh Bà Rịa một đội tàu, tỉnh Bạc Liêu cử hai đội thuyền ra Bắc, trong đó có tàu do Bông Văn Dĩa (Hai Dĩa) phụ trách được đồng chí Phạm Ngọc Sến, Bí thư Tỉnh ủy Cà Mau trực tiếp giao nhiệm vụ. 
Bút máy Bác Hồ tặng anh hùng Bông Văn Dĩa. Ảnh Thanh Hằng. Đêm ngày 1/8/1961, thuyền rời rạch Cá Mòi (mũi Cà Mau), chuyến đi khá thuận lợi nên đến chiều ngày 7/8/1961, thuyền cập vào cửa sông Nhật Lệ (Quảng Bình). Ngày 11/8, anh em được đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng tới thăm, hai hôm sau đoàn ra Hà Nội. Như vậy, cuối năm 1961, đầu năm 1962, thuyền của Nam bộ đã ra đến hậu phương lớn và báo cáo tình hình miền Nam. Ai ở miền Nam ra cũng có nguyện vọng lớn là được gặp Bác Hồ. Anh em trong 6 đội tàu Nam Bộ ra Bắc cũng vậy và nguyện vọng tha thiết đó đã được thực hiện. Đầu năm 1962, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng mời cơm thân mật anh em thuỷ thủ ở miền Nam ra, trước khi họ bắt tay vào nhiệm vụ mới. Xe đưa anh em tới Phủ Chủ tịch, ai cũng hồi hộp và xúc động. Ở phòng khách lớn có mặt các đồng chí: Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Phạm Hùng. Mấy phút sau Bác Hồ ra, mọi người đứng dậy vỗ tay, ai cũng mừng đến chảy nước mắt. Bác bắt tay từng người, hỏi thăm sức khoẻ anh em, hỏi về những chuyến vượt biển. Rồi bác vui vẻ hỏi: “Các chú ra đây có yêu cầu gì đối với Trung ương nào”? Tất cả đều đồng thanh thưa: “Thưa Bác, chúng cháu ra đây có một nguyện vọng là xin được thật nhiều vũ khí để về đánh giặc”. Anh Hai Tranh, đại diện đội tàu Trà Vinh, thưa thêm: “Thưa Bác, chúng cháu muốn xin loại vũ khí gì có thể phá được đồn bốt và ấp chiến lược của Mỹ - ngụy”. Bác cười: “Không chỉ đồn bốt… Mỹ có thể đưa quân vào. Phải chuẩn bị đánh lâu dài, đánh thắng quân đội có trang bị hiện đại của Mỹ nữa…!” Những chiếc thuyền vượt biển từ Nam bộ ra Bắc an toàn đã xúc tiến việc thành lập đoàn vận tải tàu biển. Ngày 23/10/1961, Bộ Quốc phòng ký quyết định thành lập Đoàn 759 – có nhiệm vụ vận chuyển vũ khí chi viện chiến trường miền Nam bằng đường biển. Ngay sau khi thành lập, đoàn đã tổ chức cho anh em ở các đội tàu học tập văn hoá, học kỹ thuật, học chính trị; huấn luyện hàng hải nhằm nâng cao trình độ về mọi mặt, đặc biệt là năng lực đi biển và những hiểu biết về công tác này.
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Bông Văn Dĩa. Ảnh tư liệu BTHQ. Tháng 2/1962, đồng chí Đoàn Hồng Phước và đồng chí Bông Văn Dĩa vào Quảng Bình kiểm tra chiếc tàu của tỉnh Bạc Liêu. Thấy chiếc tàu tuy có hư hỏng nhưng vẫn có thể đi biển được, đồng chí Phước quyết định để đồng chí Dĩa ở lại và nhờ công an vũ trang Quảng Bình đứng tên sữa chữa. Tháng 3/1962, chiếc thuyền Bạc Liêu đã sữa xong. Đồng chí Bông Văn Dĩa trở ra Hà Nội báo cáo với đoàn. Sau khi xin ý kiến của Quân ủy Trung ương, Đoàn 759 quyết định để thuyền Bạc Liêu đi chuyến trinh sát mở đường từ Bắc vào Nam. Chuyến trinh sát mở đường đầu tiên của đoàn gồm 6 đồng chí: Bông Văn Dĩa phụ trách, Bí thư Chi bộ; Hai Tranh, Phó Bí thư chi bộ; Ngô Văn Tân (Năm Kỷ), Tư Phước, Sáu Dũng, Bảy Cửa. Nhiệm vụ của đội thuyền khi trở lại Nam bộ là: Báo cáo với Khu ủy chủ trương của Trung ương về việc đưa vũ khí vào Nam bộ. Nhưng muốn như vậy phải có bến bãi để nhận hàng. Ngày 5/4/1962, 6 anh em vào đến Quảng Bình. Đêm 10/4/1962, chiếc thuyền rời của Nhật Lệ đi về hướng Nam. Khi thuyền đến vùng biển Nha Trang, cách bờ chừng 150 hải lý thì gặp hai tàu Mỹ từ Phi-líp-pin chạy về. Chúng cho tàu chạy vòng quanh chiếc thuyền, cách chừng mấy chục mét. Và cứ như vậy quần đảo tới 14 giờ. Nhờ bình tĩnh xử lý, đóng vai trò những dân chài ra khơi đánh cá bị gió đẩy xa bờ, nên bọn Mỹ không nghi ngờ. Tuy vậy, để đối phó với việc bất trắc, anh em trên thuyền thủ tiêu hết hải đồ, la bàn. Từ đây họ cứ nhìn hướng Nam mà đi. Ngày 14/4, thuyền về tới cửa Bồ Đề (thuộc Tân Ân, Ngọc Hiển, Cà Mau). Thuyền đi vào cửa Rạch Ráng, đến 10 giờ đêm hôm đó thì cập vào Vàm Lũng, chuyến đi trinh sát đã thành công. Sau khi báo cáo tình hình và chỉ thị của Trung ương về việc mở bến tiếp nhận vũ khí đưa vào bằng đường biển, Khu ủy đồng ý để đồng chí Bông Văn Dĩa đi ra các đảo nắm tình hình theo ý kiến của Trung ương. Nắm tình hình xong, ngày 1/8/1962, đồng chí Bông Văn Dĩa trở ra Trung ương báo cáo toàn bộ chuyến đi trinh sát của mình và ý định của Khu ủy Khu 9 xin Trung ương phê duyệt phương án cho tàu vào các luồng lạch. Đồng chí Lê Duẩn hỏi: “Theo đồng chí, nơi nào có thể cho tàu vào được? Đồng chí Bông Văn Dĩa đáp: “Vàm Lũng có thể vào được! Đồng chí Lê Duẩn hỏi tiếp: “Tàu 30 tấn có thể vào Vàm Lũng được không? Nếu chắc thì trên giao đồng chí đi chuyến đầu tiên”. Chuyến trinh sát trở ra thắng lợi và nghị quyết của Trung ương làm nức lòng cán bộ, chiến sĩ Đoàn 759, mở ra thời cơ chở vũ khí vào miền Nam. Tháng 8/1962, Đoàn 759 nhận bàn giao tàu gỗ từ Hải Phòng. Một số cán bộ thuyền, cán bộ kỹ thuật miền Nam từ các tàu vận tải, từ các đơn vị bộ đội, các đơn vị tàu đánh cá lần lượt được bổ sung cho đoàn. Công việc chuẩn bị cho chuyến vận chuyển đầu tiên bằng tàu gỗ có gắn máy được tiến hành khẩn trương và đến đầu tháng 10 thì hoàn thành.
Tập thể cán bộ, chiến sĩ tàu 41 (Phương Đông 1) trước giờ xuất phát tại bến K15 (Đồ Sơn, Hải Phòng) chở gần 30 tấn vũ khí đầu tiên vào Cà Mau thành công, ngày 19/10/1962. Đồng chí Bông Văn Dĩa Ngồi thứ 3 từ trái qua). Ảnh Thanh Hằng. Đêm 11/10/1962, chiếc thuyền gỗ có tên Phương Đông 1 đầu tiên chở 30 tấn vũ khí rời bến Đồ Sơn (Hải Phòng) lên đường đi Cà Mau. Chiếc thuyền này do đồng chí Lê Văn Một làm Thuyền trưởng, đồng chí Bông Văn Dĩa làm Chính trị viên. Các thuỷ thủ gồm: Huỳnh Văn Sao (Năm Sao), Nguyễn Văn Bé (Tư Bé), Ba Thành, Nguyễn Văn Phong, Nguyễn Văn Nhung, Nguyễn Xuân Lai (Sáu Lai), Sáu Rô, Thanh Đen, Trần Văn Kết (Tám Kết), Ngô Văn Tâm (Năm Kỷ), Nguyễn Long. Ngày 16/10, tàu vào cửa Vàm Lũng. Ở đây đoàn xuồng của anh Nguyễn Văn Phán (Tư Đức) được lệnh của Khu uỷ Khu 9 đã đón sẵn. Sau đó, tàu đưa đưa được vào nơi quy định là Rạch Chùm Gọng. Hàng chục chiếc xuồng lập tức ghé tới nhận súng đạn để đi cất giấu. Ba ngày đêm công việc đó mới xong. Tin vui thắng lợi của chuyến chở vũ khí đầu tiên vào Cà Mau được báo cáo lên Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương. Hồ Chủ tịch đã điện biểu dương những cán bộ, chiến sĩ, công nhân đã đóng góp công sức để lập nên chiến công xuất sắc đó. Người chỉ thị: “Hãy nhanh chóng rút kinh nghiệm, tiếp tục vận chuyển nhanh, nhiều vũ khí hơn nữa cho đồng bào miền Nam đánh giặc, cho Nam Bắc sớm sum họp một nhà”. Vậy là con đường biển nối liền hậu phương lớn với tiền tuyến lớn không chỉ là một dự định, một mong ước mà đã trở thành một hiện thực. Chuyến đi đầu tiên thắng lợi đã làm tiền đề cho những chuyến đi tiếp theo thành công. Đồng chí Bông Văn Dĩa sinh năm 1905, quê ở xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau, nhập ngũ năm 1945. Hơn 30 năm liên tục hoạt động cách mạng, đồng chí toàn tâm, toàn ý phục vụ lợi ích của Đảng, của dân tộc; được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công giải phóng hạng Nhì và 1 Huân chương Quân công giải phóng hạng Ba. Ngày 17/9/1967, đồng chí Bông Văn Dĩa được tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Chiếc bút máy Bác Hồ tặng đã theo suốt quá trình hoạt động cách mạng của đồng chí Bông Văn Dĩa như một báu vật – đã vạch đường, chỉ lối để “người mở đường trên biển” hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Sau này, đồng chí Bông Văn Dĩa đã tặng chiếc bút kỷ niệm lại cho Bảo tàng Hải quân cùng nhiều hiện vật khác để làm công tác giáo dục truyền thống./.

Bút máy Bác Hồ tặng anh hùng Bông Văn Dĩa. Ảnh Thanh Hằng. Đêm ngày 1/8/1961, thuyền rời rạch Cá Mòi (mũi Cà Mau), chuyến đi khá thuận lợi nên đến chiều ngày 7/8/1961, thuyền cập vào cửa sông Nhật Lệ (Quảng Bình). Ngày 11/8, anh em được đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng tới thăm, hai hôm sau đoàn ra Hà Nội. Như vậy, cuối năm 1961, đầu năm 1962, thuyền của Nam bộ đã ra đến hậu phương lớn và báo cáo tình hình miền Nam. Ai ở miền Nam ra cũng có nguyện vọng lớn là được gặp Bác Hồ. Anh em trong 6 đội tàu Nam Bộ ra Bắc cũng vậy và nguyện vọng tha thiết đó đã được thực hiện. Đầu năm 1962, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng mời cơm thân mật anh em thuỷ thủ ở miền Nam ra, trước khi họ bắt tay vào nhiệm vụ mới. Xe đưa anh em tới Phủ Chủ tịch, ai cũng hồi hộp và xúc động. Ở phòng khách lớn có mặt các đồng chí: Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Phạm Hùng. Mấy phút sau Bác Hồ ra, mọi người đứng dậy vỗ tay, ai cũng mừng đến chảy nước mắt. Bác bắt tay từng người, hỏi thăm sức khoẻ anh em, hỏi về những chuyến vượt biển. Rồi bác vui vẻ hỏi: “Các chú ra đây có yêu cầu gì đối với Trung ương nào”? Tất cả đều đồng thanh thưa: “Thưa Bác, chúng cháu ra đây có một nguyện vọng là xin được thật nhiều vũ khí để về đánh giặc”. Anh Hai Tranh, đại diện đội tàu Trà Vinh, thưa thêm: “Thưa Bác, chúng cháu muốn xin loại vũ khí gì có thể phá được đồn bốt và ấp chiến lược của Mỹ - ngụy”. Bác cười: “Không chỉ đồn bốt… Mỹ có thể đưa quân vào. Phải chuẩn bị đánh lâu dài, đánh thắng quân đội có trang bị hiện đại của Mỹ nữa…!” Những chiếc thuyền vượt biển từ Nam bộ ra Bắc an toàn đã xúc tiến việc thành lập đoàn vận tải tàu biển. Ngày 23/10/1961, Bộ Quốc phòng ký quyết định thành lập Đoàn 759 – có nhiệm vụ vận chuyển vũ khí chi viện chiến trường miền Nam bằng đường biển. Ngay sau khi thành lập, đoàn đã tổ chức cho anh em ở các đội tàu học tập văn hoá, học kỹ thuật, học chính trị; huấn luyện hàng hải nhằm nâng cao trình độ về mọi mặt, đặc biệt là năng lực đi biển và những hiểu biết về công tác này.

Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Bông Văn Dĩa. Ảnh tư liệu BTHQ. Tháng 2/1962, đồng chí Đoàn Hồng Phước và đồng chí Bông Văn Dĩa vào Quảng Bình kiểm tra chiếc tàu của tỉnh Bạc Liêu. Thấy chiếc tàu tuy có hư hỏng nhưng vẫn có thể đi biển được, đồng chí Phước quyết định để đồng chí Dĩa ở lại và nhờ công an vũ trang Quảng Bình đứng tên sữa chữa. Tháng 3/1962, chiếc thuyền Bạc Liêu đã sữa xong. Đồng chí Bông Văn Dĩa trở ra Hà Nội báo cáo với đoàn. Sau khi xin ý kiến của Quân ủy Trung ương, Đoàn 759 quyết định để thuyền Bạc Liêu đi chuyến trinh sát mở đường từ Bắc vào Nam. Chuyến trinh sát mở đường đầu tiên của đoàn gồm 6 đồng chí: Bông Văn Dĩa phụ trách, Bí thư Chi bộ; Hai Tranh, Phó Bí thư chi bộ; Ngô Văn Tân (Năm Kỷ), Tư Phước, Sáu Dũng, Bảy Cửa. Nhiệm vụ của đội thuyền khi trở lại Nam bộ là: Báo cáo với Khu ủy chủ trương của Trung ương về việc đưa vũ khí vào Nam bộ. Nhưng muốn như vậy phải có bến bãi để nhận hàng. Ngày 5/4/1962, 6 anh em vào đến Quảng Bình. Đêm 10/4/1962, chiếc thuyền rời của Nhật Lệ đi về hướng Nam. Khi thuyền đến vùng biển Nha Trang, cách bờ chừng 150 hải lý thì gặp hai tàu Mỹ từ Phi-líp-pin chạy về. Chúng cho tàu chạy vòng quanh chiếc thuyền, cách chừng mấy chục mét. Và cứ như vậy quần đảo tới 14 giờ. Nhờ bình tĩnh xử lý, đóng vai trò những dân chài ra khơi đánh cá bị gió đẩy xa bờ, nên bọn Mỹ không nghi ngờ. Tuy vậy, để đối phó với việc bất trắc, anh em trên thuyền thủ tiêu hết hải đồ, la bàn. Từ đây họ cứ nhìn hướng Nam mà đi. Ngày 14/4, thuyền về tới cửa Bồ Đề (thuộc Tân Ân, Ngọc Hiển, Cà Mau). Thuyền đi vào cửa Rạch Ráng, đến 10 giờ đêm hôm đó thì cập vào Vàm Lũng, chuyến đi trinh sát đã thành công. Sau khi báo cáo tình hình và chỉ thị của Trung ương về việc mở bến tiếp nhận vũ khí đưa vào bằng đường biển, Khu ủy đồng ý để đồng chí Bông Văn Dĩa đi ra các đảo nắm tình hình theo ý kiến của Trung ương. Nắm tình hình xong, ngày 1/8/1962, đồng chí Bông Văn Dĩa trở ra Trung ương báo cáo toàn bộ chuyến đi trinh sát của mình và ý định của Khu ủy Khu 9 xin Trung ương phê duyệt phương án cho tàu vào các luồng lạch. Đồng chí Lê Duẩn hỏi: “Theo đồng chí, nơi nào có thể cho tàu vào được? Đồng chí Bông Văn Dĩa đáp: “Vàm Lũng có thể vào được! Đồng chí Lê Duẩn hỏi tiếp: “Tàu 30 tấn có thể vào Vàm Lũng được không? Nếu chắc thì trên giao đồng chí đi chuyến đầu tiên”. Chuyến trinh sát trở ra thắng lợi và nghị quyết của Trung ương làm nức lòng cán bộ, chiến sĩ Đoàn 759, mở ra thời cơ chở vũ khí vào miền Nam. Tháng 8/1962, Đoàn 759 nhận bàn giao tàu gỗ từ Hải Phòng. Một số cán bộ thuyền, cán bộ kỹ thuật miền Nam từ các tàu vận tải, từ các đơn vị bộ đội, các đơn vị tàu đánh cá lần lượt được bổ sung cho đoàn. Công việc chuẩn bị cho chuyến vận chuyển đầu tiên bằng tàu gỗ có gắn máy được tiến hành khẩn trương và đến đầu tháng 10 thì hoàn thành.

Tập thể cán bộ, chiến sĩ tàu 41 (Phương Đông 1) trước giờ xuất phát tại bến K15 (Đồ Sơn, Hải Phòng) chở gần 30 tấn vũ khí đầu tiên vào Cà Mau thành công, ngày 19/10/1962. Đồng chí Bông Văn Dĩa Ngồi thứ 3 từ trái qua). Ảnh Thanh Hằng. Đêm 11/10/1962, chiếc thuyền gỗ có tên Phương Đông 1 đầu tiên chở 30 tấn vũ khí rời bến Đồ Sơn (Hải Phòng) lên đường đi Cà Mau. Chiếc thuyền này do đồng chí Lê Văn Một làm Thuyền trưởng, đồng chí Bông Văn Dĩa làm Chính trị viên. Các thuỷ thủ gồm: Huỳnh Văn Sao (Năm Sao), Nguyễn Văn Bé (Tư Bé), Ba Thành, Nguyễn Văn Phong, Nguyễn Văn Nhung, Nguyễn Xuân Lai (Sáu Lai), Sáu Rô, Thanh Đen, Trần Văn Kết (Tám Kết), Ngô Văn Tâm (Năm Kỷ), Nguyễn Long. Ngày 16/10, tàu vào cửa Vàm Lũng. Ở đây đoàn xuồng của anh Nguyễn Văn Phán (Tư Đức) được lệnh của Khu uỷ Khu 9 đã đón sẵn. Sau đó, tàu đưa đưa được vào nơi quy định là Rạch Chùm Gọng. Hàng chục chiếc xuồng lập tức ghé tới nhận súng đạn để đi cất giấu. Ba ngày đêm công việc đó mới xong. Tin vui thắng lợi của chuyến chở vũ khí đầu tiên vào Cà Mau được báo cáo lên Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương. Hồ Chủ tịch đã điện biểu dương những cán bộ, chiến sĩ, công nhân đã đóng góp công sức để lập nên chiến công xuất sắc đó. Người chỉ thị: “Hãy nhanh chóng rút kinh nghiệm, tiếp tục vận chuyển nhanh, nhiều vũ khí hơn nữa cho đồng bào miền Nam đánh giặc, cho Nam Bắc sớm sum họp một nhà”. Vậy là con đường biển nối liền hậu phương lớn với tiền tuyến lớn không chỉ là một dự định, một mong ước mà đã trở thành một hiện thực. Chuyến đi đầu tiên thắng lợi đã làm tiền đề cho những chuyến đi tiếp theo thành công. Đồng chí Bông Văn Dĩa sinh năm 1905, quê ở xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau, nhập ngũ năm 1945. Hơn 30 năm liên tục hoạt động cách mạng, đồng chí toàn tâm, toàn ý phục vụ lợi ích của Đảng, của dân tộc; được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công giải phóng hạng Nhì và 1 Huân chương Quân công giải phóng hạng Ba. Ngày 17/9/1967, đồng chí Bông Văn Dĩa được tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Chiếc bút máy Bác Hồ tặng đã theo suốt quá trình hoạt động cách mạng của đồng chí Bông Văn Dĩa như một báu vật – đã vạch đường, chỉ lối để “người mở đường trên biển” hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Sau này, đồng chí Bông Văn Dĩa đã tặng chiếc bút kỷ niệm lại cho Bảo tàng Hải quân cùng nhiều hiện vật khác để làm công tác giáo dục truyền thống./.



