Mùa đông năm 1967, tại một cao điểm trơ trụi đá trên dãy Trường Sơn, đơn vị của Hùng bị địch bao vây và cắt đứt hoàn toàn đường tiếp tế suốt mười ngày. Lương thực cạn kiệt. Mỗi chiến sĩ chỉ còn vài hạt muối lót dạ và ngụm nước suối cầm hơi để bám trụ trận địa.
Hùng và cậu tân binh tên Dũng được phân công gác ở một hầm tiền tiêu. Cơn đói cồn cào cộng với cái lạnh thấu xương của sương muối khiến cả hai lả đi. Dũng bị sốt rét rừng, đôi môi nứt nẻ chảy máu, liên tục mê sảng gọi mẹ.Thương cậu em út, Hùng lẳng lặng dùng chiếc xẻng nhỏ bới từng gốc cây dại xung quanh miệng hầm bất chấp đạn bắn tỉa của địch. Trời không phụ lòng người, sau hai tiếng đào bới cật lực, anh tìm thấy một củ mài nhỏ bằng cổ tay nằm sâu dưới kẽ đá.Hùng rưng rưng mang củ mài về hầm. Anh cẩn thận bẻ đôi, đưa phần củ to hơn, nhiều bột hơn cho Dũng:"Ăn đi em! Ăn lấy sức mà chống chọi với cơn sốt!"Dũng hé mắt, nhìn nửa củ mài dính đầy đất cát rồi nhìn sang phần củ nhỏ xíu, toàn xơ trên tay Hùng. Cậu lắc đầu, đẩy lại phía anh: "Anh ăn đi... Anh còn phải chỉ huy anh em chiến đấu... Em không sao đâu..."."Đã là đồng đội thì chia ngọt sẻ bùi. Em không ăn là không nể người anh này!", Hùng giả vờ nghiêm giọng.Dũng ứa nước mắt đón lấy nửa củ mài bùi bùi, ngọt mát. Nhờ nửa củ mài sẻ chia ấy cùng tình yêu thương của người anh lớn, Dũng đã cắt được cơn sốt và gượng dậy tiếp tục cầm súng. Hai ngày sau, quân tiếp viện của ta phá vỡ vòng vây, giải cứu thành công cho toàn đơn vị.Nửa thế kỷ trôi qua, đất nước thanh bình. Cứ vào ngày kỷ niệm chiến thắng, ông Dũng lại lặn lội mang một đĩa củ mài luộc thơm bùi đến đặt lên bàn thờ người đồng đội Hùng đã hy sinh trong một trận đánh sau đó. Với ông, nửa củ mài năm ấy không chỉ cứu sống một mạng người, mà nó còn là biểu tượng bất tử của tình đồng chí thiêng liêng cao cả.