Chiếc mũ cối dính 11 vết đạn
Chiếc mũ cối dính 11 vết đạnVào một ngày đầu xuân Canh Tý 2020, tiết trời lạnh buốt da thịt mà chúng tôi thấy ấm áp lạ thường khi về Khu 7 xã Hương Nộn (Tam Nông, Phú Thọ) để tiếp nhận hiện vật đặc biệt. Đó là chiếc mũ cối của liệt sĩ Bùi Đức Hưng, người đã anh dũng hy sinh trong trận chiến khốc liệt ở Đức Lập, tỉnh Quảng Đức năm 1968 (nay là tỉnh Đắk Nông). Ông Bùi Đức Dục, người cháu đang thờ phụng liệt sĩ Bùi Đức Hưng không nén được xúc động khi trao tặng kỷ vật của chú mình cho Bảo tàng Quân khu 2 và kể lại câu chuyện của chú mình hơn nửa thế kỷ trước.
Liệt sĩ Bùi Đức Hưng sinh năm 1939 trong một gia đình nghèo ở huyện Tam Thanh, Vĩnh Phú (nay là huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ). Mồ côi cha mẹ từ năm 6 tuổi, vì gia đình quá nghèo nên anh phải tha phương đi ở đợ, chịu bao đắng cay, vất vả, rồi may mắn được một gia đình khá giả, hiếm muộn nhận làm con nuôi. Bùi Đức Hưng được cha mẹ nuôi cho đi học hết lớp 4. Sau khi lấy vợ và có con gái đầu lòng, ông đi làm công nhân tại Nông trường Tam Thắng (Tam Thanh, Vĩnh Phú) và được kết nạp vào Đảng tại đây. Tháng 5/1967, theo tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc, Bùi Đức Hưng để lại người vợ hiền và đứa con thơ lên đường vào Nam chiến đấu, được biên chế vào Đại đội 7, Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 66, Sư đoàn 1 (phiên hiệu Công trường 1). Đầu tháng 8/1968, đơn vị được lệnh tiến công quận lỵ Đức Lập, căn cứ Đắk Sắk thuộc tỉnh Đắc Nông. Quận lỵ Đức Lập nằm sát ngã ba quốc lộ 14 và quốc lộ 20, cách thành phố Sài Gòn gần 300km theo quốc lộ 14. 
Do người thân và con gái của liệt sĩ Bùi Đức Hưng đã qua đời, việc thờ phụng hiện nay do cháu họ Bùi Đức Dục chăm lo. Ảnh BTQK2. Trận đánh vào Đắk Sắk Trong chiến dịch này, đơn vị ông gặp rất nhiều khó khăn ngay từ khi đào hầm xung quanh rừng cà phê. Nơi đây nhiều người dân miền Bắc sinh sống có con em làm lính ngụy trên đồn nên gây cho ta rất nhiều bất lợi. Nhưng với tinh thần yêu nước, sự gan dạ, mưu trí, dũng cảm, ông cùng đồng đội vượt qua mọi khó khăn, gian khổ bố trí đánh địch bằng 3 mũi giáp công: 1 mũi chính, 2 mũi phụ. Rạng sáng ngày 23/8/1968, sau một loạt bộc phá nổ của đặc công và một loạt đạn 12,7mm, đạn lửa báo hiệu cho các lực lượng nổ súng tiến công. Trận đánh diễn ra rất quyết liệt. Đến 15 giờ, ta làm chủ hầu hết các vị trí trên mặt đất. 3 giờ sáng ta phá xong đường băng sân bay và một bể chứa xăng. Đến 4 giờ bộc phá ta ở các hướng đồng loạt nổ mở đường tiến công cho các hướng. Đến sáng địch phản kích lập tức bị hỏa lực cối 120mm, ĐKZ 75mm của ta bắn trúng đội hình, một số tên bị tiêu diệt, số còn lại bỏ chạy về căn cứ. Địch cho trực thăng tưới xăng, thả bom vào trận địa ĐKZ nhưng bộ đội ta đã dũng cảm dập tắt, anh dũng bắn trả, bắn cháy trực thăng và máy bay phản lực của địch 19 giờ, sau khi bộc phá mở xong toàn bộ các cửa mở, trung đoàn ra lệnh cho các mũi đồng loạt xung phong đánh chiếm trung tâm. Ta chiếm được nhiều lô cốt, tiêu diệt được nhiều hỏa điểm, bắt được nhiều tên địch. Đến 24 giờ ngày 23/8, ta chiếm hoàn toàn khu B. Đến 8 giờ 30 phút ngày 24/8 ta chiếm lĩnh khu A. 13 giờ ngày 25/8, nhận thấy mất thế trận địch gọi máy bay B-52 rải thảm xuống căn cứ Đắk Sắk nhằm hủy diệt toàn bộ khu vực. Trước tình hình đó, trung đoàn lệnh cho các đơn vị nhanh chóng thu quân, giải quyết chính sách kết thúc trận đánh.
Chiếc mũ cối dính 11 vết đạn – kỷ vật của liệt sĩ Bùi Đức Hưng. Ảnh BTQK2. Sau gần 10 ngày chiến đấu vô cùng ác liệt, đơn vị Bùi Đức Hưng tiêu diệt hơn 2.000 tên địch, trong đó có 15 cố vấn Mỹ, bắt sống 14 tên, trong đó có một đại úy ngụy. Cùng với đó, đơn vị tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 20 đại đội, 18 trung đội địch, trong đó có một trung đội nữ thám báo; bắn rơi 14 máy bay (6 phản lực, 8 trực thăng); thu 31 súng các loại, một máy thông tin PRC25, 5 máy thu thanh cùng một số quân trang quân dụng quan trọng khác... Tuy nhiên, về phía ta, đã có 81 đồng chí anh dũng hy sinh, 111 đồng chí bị thương, trong đó có sự hy sinh của Bùi Đức Hưng. Sau chiến công này Trung đoàn 66 ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu gương và tặng Cờ thi đua luân lưu “Quyết chiến, Quyết thắng”; được Quốc hội và Chính phủ tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Ba. Kỷ vật trở về Hoàn cảnh hy sinh của liệt sĩ Bùi Đức Hưng hết sức oanh liệt và bi tráng. Đó là một trận chiến khốc liệt, không cân sức giữa ta và địch tại cứ điểm A-239, thuộc địa phận Đức Lập. Suốt ba ngày đêm, ông cùng đồng đội chiến đấu liên tục với đại đội quân viễn chinh Mỹ. Đến viên đạn cuối cùng, Bùi Đức Hưng đã anh dũng ngã xuống. Người trực tiếp đấu súng với Bùi Đức Hưng suốt ba ngày đêm ấy là trung sĩ Mỹ, có tên John Wast.
Hình ảnh chim bồ câu tượng trưng cho hòa bình được khắc bên trong vành mũ của liệt sĩ Bùi Đức Hưng. Ảnh BTQK2. Khâm phục trước sự kiên cường, dũng cảm của người lính bên kia chiến tuyến, John Wast lại gần, lật chiếc mũ cối lỗ chỗ những vết đạn, xem mặt người đã đọ súng với mình. Ngay lập tức, viên trung sĩ Mỹ kinh ngạc khi thấy bên trong vành mũ của anh chiến sĩ gan góc lạ thường ấy có khắc dòng chữ tiếng Việt cùng hình con chim bồ câu sải rộng đôi cánh. Lúc này John Wast mới bừng tỉnh, hóa ra, người lính Cộng sản ở bên kia chiến tuyến cũng có tình yêu hòa bình lớn lao như bao người khác. Một người lính với lòng yêu nước nồng nàn, đáng được tôn vinh và trân trọng. Ngay sau đó, John Wast quyết định giữ lại chiếc mũ cối của người lính Việt Nam và mang về Mỹ, gìn giữ như một vật kỷ niệm trong chiến tranh, đồng thời để nhắc nhở về cuộc sống mà ông may mắn có được khi đối phương không còn nữa. 46 năm sau, John Wast quyết định sang Việt Nam, tìm về quê hương người lính Quân giải phóng dũng cảm năm xưa và trao trả cho gia đình chiếc mũ cối của liệt sĩ Bùi Đức Hưng. Nói đến đây, đôi mắt ông Bùi Đức Dục bỗng đỏ hoe, giọng nghẹn lại: “Chú tôi là một chiến sĩ gan dạ, dũng cảm tuyệt vời. Đến khi hết đạn, ông mới chịu ngã xuống, chắc ông ấy phải hứng cả băng đạn vào người...”.

Bảo tàng Quân khu 2 tiếp nhận kỷ vật của liệt sĩ Bùi Đức Hưng. Ảnh BTQK2. Lặng ngắm chiếc mũ cối nhỏ bé mà có tới 11 vết đạn lớn nhỏ, cùng nhiều vết trầy xước, chúng tôi ai cũng dâng trào niềm xúc động, cảm phục tinh thần chiến đấu ngoan cường, quả cảm của thế hệ cha anh. Sự tàn khốc, hủy diệt cùng nỗi đau mất mát bởi chiến tranh gây ra không gì có thể bù đắp được, nhưng vượt lên trên sự tàn khốc và hủy diệt ấy, người ta vẫn nhận ra niềm lạc quan, yêu đời thông qua nét khắc tài hoa của liệt sĩ Bùi Đức Hưng thể hiện bên trong vành mũ: Hình ảnh cây cọ vươn mình tỏa bóng mát, con chim bồ câu xòe rộng đôi cánh… Tất cả thể hiện khát vọng hòa bình đến cháy bỏng của người chiến sĩ. Mặc dù đã đi xa, nhưng kỷ vật của liệt sĩ Bùi Đức Hưng mang một giá trị nhân văn sâu sắc, minh chứng cho lòng yêu nước, khát vọng sống, yêu hòa bình, độc lập tự do, ấm no hạnh phúc để cho đất nước ta mãi thanh bình, hội nhập và phát triển. Hiện vật này được đại diện gia đình liệt sĩ Bùi Đức Hưng hiến tặng để trưng bày tại Bảo tàng Quân khu 2 góp phần giáo dục truyền thống cho thế hệ hôm nay và mai sau./.

Do người thân và con gái của liệt sĩ Bùi Đức Hưng đã qua đời, việc thờ phụng hiện nay do cháu họ Bùi Đức Dục chăm lo. Ảnh BTQK2. Trận đánh vào Đắk Sắk Trong chiến dịch này, đơn vị ông gặp rất nhiều khó khăn ngay từ khi đào hầm xung quanh rừng cà phê. Nơi đây nhiều người dân miền Bắc sinh sống có con em làm lính ngụy trên đồn nên gây cho ta rất nhiều bất lợi. Nhưng với tinh thần yêu nước, sự gan dạ, mưu trí, dũng cảm, ông cùng đồng đội vượt qua mọi khó khăn, gian khổ bố trí đánh địch bằng 3 mũi giáp công: 1 mũi chính, 2 mũi phụ. Rạng sáng ngày 23/8/1968, sau một loạt bộc phá nổ của đặc công và một loạt đạn 12,7mm, đạn lửa báo hiệu cho các lực lượng nổ súng tiến công. Trận đánh diễn ra rất quyết liệt. Đến 15 giờ, ta làm chủ hầu hết các vị trí trên mặt đất. 3 giờ sáng ta phá xong đường băng sân bay và một bể chứa xăng. Đến 4 giờ bộc phá ta ở các hướng đồng loạt nổ mở đường tiến công cho các hướng. Đến sáng địch phản kích lập tức bị hỏa lực cối 120mm, ĐKZ 75mm của ta bắn trúng đội hình, một số tên bị tiêu diệt, số còn lại bỏ chạy về căn cứ. Địch cho trực thăng tưới xăng, thả bom vào trận địa ĐKZ nhưng bộ đội ta đã dũng cảm dập tắt, anh dũng bắn trả, bắn cháy trực thăng và máy bay phản lực của địch 19 giờ, sau khi bộc phá mở xong toàn bộ các cửa mở, trung đoàn ra lệnh cho các mũi đồng loạt xung phong đánh chiếm trung tâm. Ta chiếm được nhiều lô cốt, tiêu diệt được nhiều hỏa điểm, bắt được nhiều tên địch. Đến 24 giờ ngày 23/8, ta chiếm hoàn toàn khu B. Đến 8 giờ 30 phút ngày 24/8 ta chiếm lĩnh khu A. 13 giờ ngày 25/8, nhận thấy mất thế trận địch gọi máy bay B-52 rải thảm xuống căn cứ Đắk Sắk nhằm hủy diệt toàn bộ khu vực. Trước tình hình đó, trung đoàn lệnh cho các đơn vị nhanh chóng thu quân, giải quyết chính sách kết thúc trận đánh.

Chiếc mũ cối dính 11 vết đạn – kỷ vật của liệt sĩ Bùi Đức Hưng. Ảnh BTQK2. Sau gần 10 ngày chiến đấu vô cùng ác liệt, đơn vị Bùi Đức Hưng tiêu diệt hơn 2.000 tên địch, trong đó có 15 cố vấn Mỹ, bắt sống 14 tên, trong đó có một đại úy ngụy. Cùng với đó, đơn vị tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 20 đại đội, 18 trung đội địch, trong đó có một trung đội nữ thám báo; bắn rơi 14 máy bay (6 phản lực, 8 trực thăng); thu 31 súng các loại, một máy thông tin PRC25, 5 máy thu thanh cùng một số quân trang quân dụng quan trọng khác... Tuy nhiên, về phía ta, đã có 81 đồng chí anh dũng hy sinh, 111 đồng chí bị thương, trong đó có sự hy sinh của Bùi Đức Hưng. Sau chiến công này Trung đoàn 66 ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu gương và tặng Cờ thi đua luân lưu “Quyết chiến, Quyết thắng”; được Quốc hội và Chính phủ tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Ba. Kỷ vật trở về Hoàn cảnh hy sinh của liệt sĩ Bùi Đức Hưng hết sức oanh liệt và bi tráng. Đó là một trận chiến khốc liệt, không cân sức giữa ta và địch tại cứ điểm A-239, thuộc địa phận Đức Lập. Suốt ba ngày đêm, ông cùng đồng đội chiến đấu liên tục với đại đội quân viễn chinh Mỹ. Đến viên đạn cuối cùng, Bùi Đức Hưng đã anh dũng ngã xuống. Người trực tiếp đấu súng với Bùi Đức Hưng suốt ba ngày đêm ấy là trung sĩ Mỹ, có tên John Wast.

Hình ảnh chim bồ câu tượng trưng cho hòa bình được khắc bên trong vành mũ của liệt sĩ Bùi Đức Hưng. Ảnh BTQK2. Khâm phục trước sự kiên cường, dũng cảm của người lính bên kia chiến tuyến, John Wast lại gần, lật chiếc mũ cối lỗ chỗ những vết đạn, xem mặt người đã đọ súng với mình. Ngay lập tức, viên trung sĩ Mỹ kinh ngạc khi thấy bên trong vành mũ của anh chiến sĩ gan góc lạ thường ấy có khắc dòng chữ tiếng Việt cùng hình con chim bồ câu sải rộng đôi cánh. Lúc này John Wast mới bừng tỉnh, hóa ra, người lính Cộng sản ở bên kia chiến tuyến cũng có tình yêu hòa bình lớn lao như bao người khác. Một người lính với lòng yêu nước nồng nàn, đáng được tôn vinh và trân trọng. Ngay sau đó, John Wast quyết định giữ lại chiếc mũ cối của người lính Việt Nam và mang về Mỹ, gìn giữ như một vật kỷ niệm trong chiến tranh, đồng thời để nhắc nhở về cuộc sống mà ông may mắn có được khi đối phương không còn nữa. 46 năm sau, John Wast quyết định sang Việt Nam, tìm về quê hương người lính Quân giải phóng dũng cảm năm xưa và trao trả cho gia đình chiếc mũ cối của liệt sĩ Bùi Đức Hưng. Nói đến đây, đôi mắt ông Bùi Đức Dục bỗng đỏ hoe, giọng nghẹn lại: “Chú tôi là một chiến sĩ gan dạ, dũng cảm tuyệt vời. Đến khi hết đạn, ông mới chịu ngã xuống, chắc ông ấy phải hứng cả băng đạn vào người...”.

Bảo tàng Quân khu 2 tiếp nhận kỷ vật của liệt sĩ Bùi Đức Hưng. Ảnh BTQK2. Lặng ngắm chiếc mũ cối nhỏ bé mà có tới 11 vết đạn lớn nhỏ, cùng nhiều vết trầy xước, chúng tôi ai cũng dâng trào niềm xúc động, cảm phục tinh thần chiến đấu ngoan cường, quả cảm của thế hệ cha anh. Sự tàn khốc, hủy diệt cùng nỗi đau mất mát bởi chiến tranh gây ra không gì có thể bù đắp được, nhưng vượt lên trên sự tàn khốc và hủy diệt ấy, người ta vẫn nhận ra niềm lạc quan, yêu đời thông qua nét khắc tài hoa của liệt sĩ Bùi Đức Hưng thể hiện bên trong vành mũ: Hình ảnh cây cọ vươn mình tỏa bóng mát, con chim bồ câu xòe rộng đôi cánh… Tất cả thể hiện khát vọng hòa bình đến cháy bỏng của người chiến sĩ. Mặc dù đã đi xa, nhưng kỷ vật của liệt sĩ Bùi Đức Hưng mang một giá trị nhân văn sâu sắc, minh chứng cho lòng yêu nước, khát vọng sống, yêu hòa bình, độc lập tự do, ấm no hạnh phúc để cho đất nước ta mãi thanh bình, hội nhập và phát triển. Hiện vật này được đại diện gia đình liệt sĩ Bùi Đức Hưng hiến tặng để trưng bày tại Bảo tàng Quân khu 2 góp phần giáo dục truyền thống cho thế hệ hôm nay và mai sau./.



