Mẹ Việt Nam Anh hùng

“Chiếc thư không gửi được”

“Chiếc thư không gửi được”

Quảng Ninh27/02/2026Chi đoàn trường TH&THCS Phong Hải (Đoàn phường Liên Hòa)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

“Ở chiến trường Tây Nguyên, rừng thì dày, đất đỏ bám đầy người, mưa nắng thất thường lắm các cháu ạ. Hồi đó đơn vị bác có một đợt hiếm hoi được dừng chân mấy ngày, không phải hành quân gấp, cũng không bị bom đuổi. Thế là ai cũng tranh thủ làm đủ thứ việc: người vá lại ba lô, người hong quần áo, người thì ngồi lặng lẽ nhớ nhà.

Có thằng Quý, lính trẻ nhất tiểu đội, nó kiếm một góc dưới gốc cây, ngồi cặm cụi viết thư. Viết lâu lắm. Bác đi qua mấy lần vẫn thấy nó ngồi đó, lúc thì viết, lúc thì dừng lại suy nghĩ, rồi lại viết tiếp.

Bác mới hỏi:
‘Viết cho ai mà lâu thế?’

Nó ngẩng lên, cười hiền lắm:
‘Dạ… em viết cho mẹ.’

Viết xong, nó còn đọc lại từng dòng, gấp lại ngay ngắn, rồi cẩn thận bọc vào một túi nilon nhỏ, sợ mưa rừng làm ướt. Nó nói với bác:
‘Hòa bình về, em sẽ mang về tận tay cho mẹ. Chứ gửi giờ cũng không biết có tới không.’

Nghe nó nói vậy, bác chỉ gật đầu. Hồi đó, nhiều lá thư viết ra… nhưng đâu phải cái nào cũng đi được.

Mấy hôm sau, đơn vị lại hành quân. Tây Nguyên lúc ấy ác liệt lắm, máy bay quần thảo suốt. Đang đi thì gặp một trận bom. Đất đá tung lên, rừng cây đổ rạp, anh em tản ra mỗi người một hướng.

Khi yên tiếng bom, chúng tôi quay lại tìm nhau, nhặt lại những gì còn sót. Ba lô, tăng võng, mấy thứ lặt vặt… lẫn trong đất đỏ.

Bác thấy cái túi nilon quen quen, nhặt lên… mở ra, vẫn là bức thư của thằng Quý, còn nguyên, không ướt, không rách.

Nhưng… tìm mãi, không thấy nó đâu nữa.

Hôm đó, bác cầm bức thư rất lâu. Không ai nói gì. Cũng không ai nhắc đến.

Sau này, bức thư ấy… không gửi đi đâu cả.

Chỉ là… có những lời muốn nói với mẹ… mà mãi mãi không đến được.”

15.“Một nắm cơm chia ba”

“Chuyện này là vào khoảng cuối năm 1972, lúc bác còn ở tuyến hành quân trên dãy Trường Sơn, đoạn giáp sang chiến trường Tây Nguyên. Hôm đó đơn vị bác hành quân từ tờ mờ sáng, đi suốt qua mấy con dốc đất đỏ, rừng thì rậm, lại vừa mưa xong nên đường trơn lắm. Ba lô ai cũng nặng, mà bụng thì từ sáng đến trưa chưa có gì vào.

Đến gần giữa trưa, tiểu đội mới được lệnh dừng chân. Anh em tản ra, người dựa gốc cây, người ngồi bệt xuống đất, thở thôi cũng thấy mệt.

Bác với hai anh nữa ngồi lại gần nhau. Mỗi người mở túi lương khô ra… nhưng hôm ấy chẳng còn lương khô, chỉ còn đúng một nắm cơm nhỏ đã nắm từ hôm trước, để dành đến giờ.

Bác nhớ lúc đó nhìn nắm cơm… mà thấy nó nhỏ hẳn đi, không đủ cho một người chứ đừng nói ba.

Một anh trong nhóm cười, giọng nhẹ tênh:
‘Thôi, chia ra ăn cho vui.’

Nghe thì nói vui vậy thôi, chứ ai cũng hiểu là chia ra thì mỗi người chẳng được bao nhiêu.

Thế rồi anh ấy lấy con dao nhỏ, cẩn thận tách nắm cơm ra làm ba phần. Không đều lắm, nhưng chẳng ai so đo. Mỗi người cầm phần của mình, ăn chậm rãi, như sợ ăn nhanh quá thì hết mất.

Cơm nguội, lại hơi khô. Không muối, không canh. Vừa ăn vừa phải nuốt với nước bọt.

Ăn xong… bụng vẫn đói cồn cào.

Nhưng lạ là không ai than một câu nào. Không ai hỏi còn gì ăn thêm không. Chỉ có một anh dựa lưng vào gốc cây, nói khẽ:
‘Ráng vài hôm nữa… chắc sẽ có tiếp tế.’

Không biết là anh nói để động viên hay để tự trấn an mình nữa.

Nghỉ được chừng mươi phút, lại có lệnh đứng dậy hành quân tiếp. Ai cũng siết lại dây ba lô, phủi qua lớp đất đỏ trên quần áo rồi lặng lẽ đi.

Bây giờ nghĩ lại… một nắm cơm chia ba, ăn không đủ no.

Nhưng cái tình đồng đội lúc ấy… thì lại đầy.”

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn