Chiếc võng tăng giữa mùa mưa
Tôi nghe câu chuyện này từ cụ Nguyễn Xuân Dinh, cựu chiến binh quê Quỳnh Lưu, Nghệ An, vào một chiều mưa kéo dài. Tiếng nước rơi ngoài hiên làm cụ chợt nhớ đến Trường Sơn. Cụ vuốt nhẹ mép chiếc võng cũ treo trong góc nhà rồi nói: “Đời lính Trường Sơn, có khi cả gia tài chỉ gói trong một chiếc võng và một tấm tăng.” Rồi cụ kể. Đó là mùa mưa năm 1973. Đơn vị anh Dinh đang đóng quân tạm trong một cánh rừng già để tránh máy bay đánh phá ban ngày. Mưa đã kéo dài nhiều hôm, đường hành quân biến thành bùn nhão, suối dâng cao và quần áo hầu như không lúc nào khô.

Tôi nghe câu chuyện này từ cụ Nguyễn Xuân Dinh, cựu chiến binh quê Quỳnh Lưu, Nghệ An, vào một chiều mưa kéo dài. Tiếng nước rơi ngoài hiên làm cụ chợt nhớ đến Trường Sơn.
Cụ vuốt nhẹ mép chiếc võng cũ treo trong góc nhà rồi nói:
“Đời lính Trường Sơn, có khi cả gia tài chỉ gói trong một chiếc võng và một tấm tăng.”
Rồi cụ kể.
Đó là mùa mưa năm 1973. Đơn vị anh Dinh đang đóng quân tạm trong một cánh rừng già để tránh máy bay đánh phá ban ngày. Mưa đã kéo dài nhiều hôm, đường hành quân biến thành bùn nhão, suối dâng cao và quần áo hầu như không lúc nào khô.
Mỗi người lính chỉ có một chiếc võng dù và một tấm tăng cá nhân.
Ban ngày tăng dùng che mưa, ngụy trang. Ban đêm lại biến thành mái nhà giữa rừng.
Chiều hôm ấy, mưa đổ xuống từ rất sớm. Gió quất từng đợt làm nước tạt ngang dưới tán cây. Tiểu đội vội tìm chỗ mắc võng trên một sườn đất cao hơn để tránh nước chảy.
Anh Nguyễn Xuân Dinh chọn hai thân cây cách nhau vừa đủ, buộc võng thật chặt rồi căng tăng thành mái chữ A phía trên.
Cụ cười:
“Hồi mới vào Trường Sơn, tăng dột như cơm bữa. Sau mới học được cách căng cho nước chảy sang hai bên.”
Mưa mỗi lúc một nặng hạt.
Tiếng mưa gõ lên tấm tăng dồn dập như trống. Nước từ mép tăng chảy thành dòng xuống đất. Không khí lạnh và ẩm len vào từng kẽ áo.
Bữa tối chỉ là cơm nắm ăn vội dưới mái tăng. Ai cũng co ro vì ướt.
Đêm xuống, cả tiểu đội chui vào những chiếc võng của mình. Từ xa nhìn lại, dưới rừng tối chỉ thấy những mái tăng thấp lè tè như những chiếc lá lớn bám vào thân cây.
Anh Dinh nằm trong võng, lưng đung đưa theo nhịp gió. Tấm chăn mỏng đã ẩm từ hôm trước, hơi lạnh thấm dần vào người.
Một lúc sau, nước bắt đầu nhỏ xuống ngay gần mặt.
Anh bật dậy kiểm tra thì phát hiện một góc tăng bị trùng, nước đọng thành túi lớn rồi rỉ xuống từng giọt.
Anh đang loay hoay thì có tiếng Hòa ở võng bên cạnh:
“Dinh, kéo dây bên phải lên!”
Hai người vừa giữ võng vừa căng lại tăng giữa cơn mưa xối xả. Nước đọng ào xuống làm cả hai ướt sũng thêm một lượt.
Xong việc, Hòa cười khẽ:
“Đêm ni coi như tắm lần nữa.”
Tiếng cười vang rất nhỏ rồi chìm trong tiếng mưa.
Cụ kể:
“Giữa rừng mưa lạnh, nghe được tiếng cười của đồng đội quý lắm.”
Khoảng nửa đêm, gió mạnh hơn. Tấm tăng rung phành phạch, võng chao nghiêng liên tục. Anh kéo chiếc khăn tay người yêu gửi tặng vào trong áo để khỏi ướt thêm.
Nằm giữa màn mưa dày đặc, anh bỗng nghĩ đến chiếc giường tre ở quê, đến mái nhà tranh dù dột vẫn ấm hơn rất nhiều.
Nhưng rồi anh nghe tiếng ho của đồng đội, tiếng ai đó trở mình vì lạnh, tiếng tiểu đội trưởng Hậu đi kiểm tra từng võng trong bóng tối.
Anh chợt thấy mình không hề cô đơn.
Một lúc sau, Hậu dừng lại cạnh võng anh:
“Có dột nhiều không?”
“Còn chịu được anh ạ.”
Hậu lấy tay ấn thử dây tăng rồi nói:
“Căng thêm chút nữa là ổn.”
Nói xong anh lại lặng lẽ đi tiếp sang võng khác.
Cụ nói nhỏ:
“Tiểu đội trưởng mà đêm mưa vẫn đi xem từng cái tăng, anh em thương lắm.”
Gần sáng, mưa nhẹ dần. Tiếng nước rơi thưa hơn trên tán lá. Trong khoảng yên tĩnh hiếm hoi ấy, anh Dinh nằm nghe tiếng suối xa và tiếng thở đều của đồng đội.
Chiếc võng ẩm, tấm tăng cũ, quần áo chưa khô, nhưng anh bỗng thấy lòng mình bình yên lạ.
Cụ kể:
“Đêm ấy tôi hiểu chiếc võng tăng không chỉ che mưa. Nó cho người lính một chỗ để giữ lại chút riêng tư giữa chiến tranh.”
Sáng hôm sau, trời hửng nhẹ. Những tấm tăng được tháo ra phơi trên cành cây, hơi nước bốc lên mờ cả khoảng rừng. Võng được giũ sạch lá mục rồi cuộn lại buộc sau ba lô.
Mọi thứ lại tiếp tục cùng người lính lên đường.
Nhiều năm sau, cụ Dinh trở về quê. Chiếc võng dù đã sờn, tấm tăng đã vá nhiều chỗ, nhưng cụ vẫn giữ lại như một kỷ vật.
Tôi hỏi:
“Trong bao nhiêu kỷ vật chiến tranh, vì sao cụ giữ chiếc võng tăng?”
Cụ nhìn chiếc võng treo trong góc nhà rồi đáp:
“Vì dưới chiếc võng ấy có mồ hôi, nước mưa, nỗi nhớ nhà và cả tình đồng đội của tuổi trẻ.”
Là người sưu tầm lịch sử, tôi hiểu rằng lịch sử không chỉ nằm ở những trận đánh lớn. Nó còn nằm trong những đêm mưa rừng, khi người lính trẻ co mình trong chiếc võng nhỏ, nghe mưa đập lên tấm tăng và học cách chịu đựng, sẻ chia và hy vọng.
Chiếc võng tăng giữa mùa mưa là mái nhà của người lính Trường Sơn. Mỏng manh trước gió rừng, đơn sơ giữa bom đạn, nhưng dưới mái tăng ấy đã lớn lên biết bao tình đồng đội, biết bao nỗi nhớ quê hương và biết bao ước mơ được trở về trong hòa bình.


