CHIẾN CÔNG OANH LIỆT CỦA LỰC LƯỢNG MÁY BAY AN2 TIÊU DIỆT TÀU BIỆT KÍCH ĐỊCH TAI VÙNG BIỂN SẦM SƠN THANH HÓA VÀ TIÊU DIỆT TRẠM RADA PATHÍ TẠI LÀO
Đoạn hồi ký tái hiện những chiến công tiêu biểu của lực lượng không quân vận tải Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ, đặc biệt là các trận đánh tàu biệt kích trên biển Sầm Sơn (1966) và trận tập kích trạm ra đa Pa Thí (1968) bằng máy bay Antonov An-2. Với tinh thần mưu trí, táo bạo và hiệp đồng chặt chẽ cùng các lực lượng phòng không, hải quân, pháo binh bờ biển, các tổ bay đã lập nên chiến thắng vang dội, phá hủy mục tiêu quan trọng của địch, góp phần bảo vệ vùng biển và tạo điều kiện cho không
Mọi người dân Việt Nam còn ghi nhớ ngày mồng 5 tháng 8 năm 1964, bọn giặc Mỹ ngang nhiên đem máy bay vào bắn phá các khu vực: Hải Phòng, Quảng Ninh, Thanh Hóa v. v... Sau đó dần dần dùng các loại máy bay ném bom bắn phá toàn miền Bắc nước ta. Bọn chúng dùng tàu chiến và tàu biệt kích bắn phá các vùng bờ biển từ Thanh Hóa trở vào, ban đêm liên tục tàu biệt kích chạy sát bờ biển để bắn phá uy hiếp đồng bào ta.
Trước tình hình đó Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã giao nhiệm vụ cho trung đoàn không quân vận tải 919, dùng máy bay An-2 để tiêu diệt tàu biệt kích của địch.
Tôi còn nhớ mãi ngày 20-10-1965 đồng chí Văn Tiến Dũng, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam xuống gặp ban chỉ huy trung đoàn 919 giao nhiệm vụ:
Nhân dân miền Nam cầm gậy tầm vông đánh giặc. Nay ta có máy bay An-2 cải tiến lắp ráp rốc-két, đạn cối để đánh giặc và phải tiêu diệt bằng được tàu biệt kích của địch để bảo vệ bờ biển, bảo vệ an ninh cho nhân dân.
Nhiệm vụ được giao, Đảng ủy 919 họp bàn và ra nghị quyết: "Bằng mọi cách và hạ quyết tâm chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng".
Nhiệm vụ đã rõ ràng, nhưng thực hiện gặp muôn vàn khó khăn. Điều gay go nhất là các phi công của loại máy bay An-2 chưa được huấn luyện bay biển và đặc biệt nhất là bay ban đêm xa bờ biển. Sau khi bàn bạc thảo luận dân chủ, mọi người đều hạ quyết tâm: "Tìm kim đáy biển, quyết đánh và quyết thắng".
Sử dụng một số tổ bay khá, giỏi có quyết tâm cao như các đồng chí phi công: Phan Như Cẩn, Đào Hữu Ngoan, Nguyễn Ngọc Huân, Phạm Thanh Tâm, Trần Sĩ Tiêu v.v...
Liên hệ hiệp đồng với Quân chủng Hải quân để sử dụng tàu biển làm mục tiêu.
Huấn luyện từ giản đơn đến phức tạp bay ban ngày ở độ cao từ 1000m đến 50m, bay đêm sáng trăng và tối.
Tất cả một số cán bộ cơ quan của trung đoàn và các tổ bay, thợ máy, bộ phận nuôi quân xuống sân bay Kiến An thường xuyên.
Sau khi kiểm tra kết quả huấn luyện 3 tháng liên tục báo cáo lên Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân, Bộ Tổng tư lệnh quyết định triển khai chiến đấu.
Ngày 15-2-1966, tôi được giao nhiệm vụ tổ chức sở chỉ huy tiền phương phối hợp với các lực lượng: Pháo bờ biển, pháo phòng không, Quân chủng Hải quân và các lực lượng dân quân tại các căn cứ các huyện: Quảng Nạp, Quảng Đức, Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.
Sau khi triển khai xong, báo cáo về sở chỉ huy Quân chủng PK-KQ.
Đêm ngày 2-8-1966 lệnh báo động chiến đấu. Ra đa của Quân chủng PK-KQ theo dõi máy bay địch và hướng dẫn máy bay của ta. Ra đa của hải quân theo dõi sự chuyển động của tàu biệt kích địch xuất phát từ vĩ tuyến 17 trở ra.
Đúng 0 giờ 00 ngày 8-3-1966, hai máy bay An-2 số hiệu 670 và 671 (ký hiệu gọi tắt là T12), mỗi máy bay được lắp 2 thùng rốc-két 32 quả loại cực mạnh và 1 giàn đạn cối 12 quả 120mm, cất cánh từ sân bay Gia Lâm, bay theo đường bay: Gia Lâm - Phủ Lý - Thanh Hóa. Khi đã phát hiện rõ đường chuyển động của tàu biệt kích địch. Lúc này trời sáng trăng, pháo binh bờ biển của ta định bắn, nhưng tầm pháo không bắn tới, vì tàu biệt kích cách bờ biển trên 50km, chỉ có máy bay mới tiêu diệt được. Nếu để pháo bắn thì tàu địch sẽ chạy mất. Vì vậy tôi đã ra lệnh cho máy bay An-2 của ta hạ thấp độ cao xuống 200m. Tổ bay đồng chí: Phan Như Cẩn - phi công lái chính, Phạm Thanh Tâm - hoa tiêu, Trần Sỹ Tiêu - lái phụ, Loan Thế Linh - cơ giới trên không.
Đã phát hiện mục tiêu, từ độ cao 200m xuống 50m - 30m, bắn 2 thùng rốc-két 32 quả và 12 quả đạn cối 120mm, bắn trúng 1 tàu địch chìm tại chỗ. Sau đó tổ bay bay vào bờ biển nhưng chẳng may bị lực lượng dân quân của ta bắn súng trung liên trúng nhẹ vào máy bay, đồng chí Cẩn bị thương phải hạ cánh bắt buộc xuống bờ biển Sầm Sơn - Thanh Hóa. Sau đó được ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa nhanh chóng đưa tổ bay về Hà Nội để cứu chữa.
Còn tổ bay đồng chí Đào Hữu Ngoan do thời tiết quá xấu và chiếc tàu địch còn lại đã hoảng hốt quay vào phía trong vĩ tuyến 17. Tổ bay đồng chí Ngoan bay về hạ cánh sân bay Gia Lâm an toàn. Trận đánh kết thúc vào lúc 3 giờ 24 phút ngày 8-3-1966.
Sáng sớm hôm sau, lúc 9 giờ 00 ngày 9-3-1966 chiếc tàu biệt kích bị bắn vỡ thành 2 mảnh và một số xác chết trôi dạt vào bờ biển Sầm Sơn - Thanh Hóa.
Sau đánh thắng trận đầu oanh liệt, giòn giã, trung đoàn đã tổ chức rút kinh nghiệm. Tổ bay đồng chí Phan Như Cẩn vinh dự lên gặp Bác Hồ và được Bác nhiệt liệt hoan nghênh và biểu dương thành tích.
Sau khi địch bị thất bại, tàu địch không dám hoạt động đêm trăng mà chuyển sang hoạt động đêm tối trời.
Phát huy chiến thắng, trung đoàn lại cùng các tổ bay nghiên cứu huấn luyện bay ban đêm tối trời trên biển và thả pháo sáng để đánh tàu biệt kích. Sau trận thắng này, tôi lại trở về đơn vị và tổ chức xuống sân bay Kiến An để huấn luyện. Sau khi đã huấn luyện thành thạo khoa mục bay ban đêm trên biển thả pháo sáng. Tôi được ủy nhiệm sở chỉ huy tiền phương tại huyện Quảng Xương, Thanh Hóa phối hợp với các lực lượng phòng không, hải quân, pháo binh bờ biển để tiếp tục tiêu diệt tàu biệt kích.
Đêm 13 tháng 6 năm 1966, quân địch lại dùng tàu biệt kích đêm tối trời từ vĩ tuyến 17 ra vùng biển Sầm Sơn.
Trận đánh này sử dụng 2 tổ bay.
- Huân, Dần, Giao, Hồng.
- Tấu, Quỳ, Khoa, Linh.
22 giờ 15 phút ngày 13-6-1966, hai máy bay cất cánh từ sân bay Gia Lâm bay đến vùng Sầm Sơn - Thanh Hóa. Khi phát hiện mục tiêu, tổ bay đồng chí Tấu bay phía trước ở độ cao 600m, thả pháo sáng. Tổ đồng chí Huân bay sau ở độ cao 300m và tổ bay của đồng chí Huân bay lao xuống bắn 2 chùm rốc-két 32 quả và 12 quả đạn cối 120mm đánh trúng mục tiêu, tàu địch bốc cháy và chìm tại chỗ.
Sau chiến thắng trận này, quân địch không dám ngang nhiên dùng tàu biệt kích vào các vùng biển nữa.
Chiến công đó đã góp phần bảo vệ vùng biển và bảo vệ an ninh cho nhân dân, đã tạo thế và phát huy kết quả trong việc chiếm đánh các mục tiêu mặt đất.
Bọn Mỹ đã đặt trạm ra đa tại vùng Pa Thí Lào ở độ cao hơn 1000m để vươn xa cánh sóng giúp cho các máy bay của chúng cất cánh từ Thái Lan bay sang đánh phá ở Việt Nam .
Theo lệnh của Bộ Quốc phòng và Bộ tư lệnh Quân chủng PK-KQ đã ra lệnh cho trung đoàn 919 sử dụng máy bay An-2 tiêu diệt trạm ra đa đó.
Sau khi nghiên cứu kỹ các phương án tác chiến, để tạo cơ hội bất ngờ, lúc máy bay của Mỹ không hoạt động nên đúng 11 giờ 45 phút ngày 12-1-1968 đã sử dụng 4 chiếc máy bay An-2 gồm 4 tổ bay:
1 Cẩn - Tâm - Tiêu.
2. Quý - Phán - Kịch.
3. Ngộ - Hùng - Kiểu - Chinh.
4. Giểng - Niêm - Hùng.
Cất cánh từ sân bay Gia Lâm - Hòa Bình - Pa Thí, mỗi máy bay mang theo 32 quả rốc-két và 12 quả đạn cối 120mm, đã đánh trúng mục tiêu, lần lượt thay nhau và công kích. Kết quả là toàn bộ trang bị đài chỉ huy và doanh trại của trạm ra đa này bị phá hủy hoàn toàn, hai máy bay trực thăng của địch bị bốc cháy, hàng trăm tên địch bị chết và bị thương nặng.
Trận thắng lợi giòn giã này đã ghi vào lịch sử của Không quân nhân dân Việt Nam, tạo điều kiện cho các lực lượng không quân đánh thắng mục tiêu trên mặt đất và đã đóng góp một phần vào công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước .
Thương tiếc thay một tai nạn rủi ro; sau khi chiến thắng giòn giã tiêu diệt hoàn toàn cứ điểm ra đa của địch, trên đường bay trở về căn cứ xuất phát, 2 tổ bay của các đồng chí: Cẩn - Tâm - Tiêu - Quý - Phán - Kịch đã xảy ra tai nạn bất ngờ làm 2 máy bay bị đâm vào núi do địa hình hiểm trở và 2 tổ bay đã hy sinh anh dũng.
Sau chiến thắng, để ghi công ơn và thành tích, Nhà nước và quân đội đã khen thưởng 4 tổ bay một cách xứng đáng với chiến công rực rỡ. Riêng các đồng chí Cẩn - Tâm - Tiêu - Quý - Phán - Kịch truy tặng liệt sĩ vì sự nghiệp giải phóng dân tộc . Và đặc biệt đồng chí Phan Như Cẩn với chiến công đặc biệt đã anh dũng trong các nhiệm vụ chiến đấu tiêu diệt biệt kích địch trên biển và tiêu diệt trạm ra đa Pa Thí. Là một cán bộ,đảng viên tiên phong, quả cảm, anh dũng trong chiến đấu nên đã được Nhà nước phong truy tặng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Những tấm gương cao đẹp đó đã tô thắm, là mốc son chói lọi của lực lượng không quân vận tải Việt Nam và đã thể hiện những công tích cao đẹp của lực lượng Không quân nhân dân Việt Nam.
Chúng tôi những người đồng chí, đồng đội, luôn luôn ghi nhớ công ơn của các đồng chí đã vì nước quên mình, in sâu mãi mãi trong tâm trí không bao giờ quên.
Lực lượng không quân vận tải Việt Nam là một thành viên của Không quân nhân dân Việt Nam. Là một trung đoàn đầu tiên của không quân được thành lập "Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua".
Riêng lực lượng máy bay An-2 mệnh danh là lắm cánh nhiều càng, thông thường chỉ làm các nhiệm vụ: Chở khách, phục vụ cho nông nghiệp: Rắc thuốc trừ sâu, bay thăm dỏ địa chất v. v...
Trong công cuộc chiến tranh vĩ đại, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, nên đã phát huy sức mạnh tổng hợp để đánh thắng quân Mỹ xâm lược, làm nên chiến thắng thần kỳ - đại thắng mùa xuân năm 1975, hoàn toàn giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.


