Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Chiến công thầm lặng - Tập 2

Lai Châu05/07/2026Quân đội nhân dân (xã nậm mạ)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
VÀI ĐIỀU NHỚ LẠI VỀ BAN NGHIÊN CỨU KHÔNG QUÂN
SAU HƠN NỬA THẾ KỶ (1949-2004)


HÀ ĐỔNG*
(Nguyên trưởng ban nghiên cứu Không quân)
Hơn nửa thế kỷ về trước, khi còn là học sinh Trường Quổc học Huế, thỉnh thoảng tôi được thấy 2 chiếc máy bay của vua Bảo Đại bay trên bầu trời cố đô Huế. Tôi rất thèm muốn được ngồi trên những chiếc máy bay đó, chỉ “ngồi” chứ không dám mơ đến việc được điểu khiển chúng. Thực dân Pháp không cho phép người “An Nam” học lái máy bay, chỉ được làm thợ bảo dưỡng máy bay cho Pháp. Muốn được làm phi công phải vào “làng Tây”, nghĩa là phải đi lính cho Pháp, như Đỗ Hữu Vị, đại uý, trong không lực Pháp đã bị Đức bắn hạ trong thế chiến 1914-1918.


Không ngờ, nhờ có cách mạng, sau này tôi được quản lý 2 máy bay đó.

Sau khi thoái vị, vua Bảo Đại được mời ra Hà Nội làm cố vấn cho Chính phủ ta. Trong tài sản mà ông ta chuyển giao cho chính quyền cách mạng có 2 máy bay, chiếc Tiger Moth (tạm dịch là “mối chúa”) và chiếc Morane Saulier (do Pháp chế tạo).


Chiếc Tiger Moth do Anh sản xuất từ những năm 1931-1944, tổng số 9.000 chiếc, bay an toàn, dễ điều khiển nên được không lực Hoàng gia Anh dùng để tập lái rất có kết quả. Nét đặc trưng của máy bay này là: Trọng lượng không tải 544 kg; 1 động cơ 142 HP; bán kính hoạt động 442 km; tốc độ tối đa 172 km/h; trần bay cao nhất 4444 mét.


Ngoài công dụng để tập lái, nó còn dùng chở người, ra mệnh lệnh, quan sát... và có thể hạ cánh xuống bãi cỏ, đường ôtô...


Chiếc Morane có dáng khí động học hơn, bay nhanh hơn, được Bảo Đại dùng khi đã lái thạo chiếc Tiger Moth (có phi công huấn luyện người Pháp bay kèm).


Ông cố vấn đề nghị đưa 2 máy bay ra Hà Nội để thành lập Câu lạc bộ Hàng không và được Chính phủ ta chấp thuận. Hai máy bay được tháo rời cánh, chở bằng tàu hoả và đưa đi cất giấu ở sân bay Tông (Sơn Tây) vì lúc này sân bay Bạch Mai và Gia Lâm đang bị quân Tàu Tưởng đóng giữ. Cùng đi theo có một tổ bảo dưỡng gồm: Đồng chí Đổng (tổ trưởng) và các đồng chí Mai, Khánh, Nghệ, Chất. Sau ngày kháng chiến toàn quốc bùng nổ (19-12-1946), tháng 1-1947, 2 máy bay lại được đưa lên Soi Đúng (Chiêm Hoá) cất giấu và bảo quản. Tại đây có bãi đất trồng ngô được san phẳng và gia cố thêm làm bãi cất hạ cánh bay thử.


Hai lần di chuyển từ Tông lên Bình Ca (Tuyên Quang) và từ Bình Ca lên Chiêm Hoá bằng thuyền ngược dòng sông Lô trong điều kiện rất nguy hiểm vì máy bay địch thường xuyên lùng sục, phải đi đêm, ban ngày phải chặt cây nguỵ trang... thật gian khổ. Song các anh Lê Văn Nho và Lê Thạch Liên, với sự giúp đỡ của nhân dân địa phương 2 bờ sông, đã đưa được máy bay đển đích an toàn. Tuy nhiên, khi dừng ở Bình Ca (có tên là Hang Hùm), bị máy bay địch bắn phá một lần, thiệt hại không đáng kể: Chiếc Tiger Moth bị đạn làm thủng vài chỗ. Anh em trong tổ bảo dưỡng đã về Hà Đông mua lụa vá lại bằng sơn ta...


Cuối năm 1947, tôi được lệnh của đồng chí Tạ Quang Bửu, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, lên Soi Trinh nắm tình hình (đồng chí Tạ Quang Bửu là Thứ trưởng, riêng giai đoạn từ 8-1947 đến 8-1948 là Bộ trưởng, sau đó lại giữ chức Thứ trưởng). Cùng đi có anh Đức Việt, nhân viên Nha Nghiên cứu kỹ thuật quân giới, nguyên là phi công Đức ra hàng ta từ năm 1945 và có tên thật là Verner Schultze.


Đầu năm 1948, tôi và anh Đức Việt được lệnh đi vào Nghệ An làm bãi cất hạ cánh dã chiến để đón máy bay từ Xiêm (Thái Lan) chở hàng là linh kiện và máy móc thông tin do một cán bộ đài phát thanh mua được ở bên đó chuyển về. Đến miền tây Nghệ An, đoạn đường trên 500 km, chúng tôi phải đi bộ gần nửa tháng mới tới nơi và khi làm xong bãi cất hạ cánh thì chủ hàng bên Thái Lan không cho thuê máy bay nữa, chúng tôi lại lóc cóc đi bộ trở về. Qua chuyến đi dài, tôi được học hỏi nhiều ở anh Đức Việt những kiến thức cơ bản về hàng không, từ yêu cầu kỹ thuật cơ bản của một sân bay đến các thiết bị trên máy bay...


Trong số tài liệu được anh Tạ Quang Bửu mang về từ Hội nghị Fontainebleau, có 3 cuốn có lợi cho trường cán bộ không quân sau này, đó là Aircraft recognition (nhận dạng máy bay) chủ yếu của Anh và Mỹ, có hình vẽ rõ ràng và tính năng kỹ thuật của máy bay Mỹ và Pháp dùng đánh ta; Kỹ thuật lái máy bay của một tác giả người Pháp; Sách huấn luyện bắn máy bay bằng súng bộ binh tập trung của Đức. Nhờ anh Đức Việt dịch ra từ tiếng Đức, tôi kết hợp với cuốn “...bắn máy bay bằng súng bộ binh...”, biên soạn ra cuốn “Bắn máy bay bằng súng trường tập trung”, được Bộ Tổng Tham mưu in và phổ biến rộng rãi vào năm 1948.


Đầu năm 1949, đồng chí Võ Nguyên Giáp và các đồng chí Hoàng Văn Thái, Phan Phác đến báo cáo và xin ý kiến Bác Hồ về việc thành lập một cơ sở ban đầu của không quân gọi là Đội Huấn luyện không quân. Bác cho ý kiến, đại ý là, chỉ nên là Ban nghiên cứu thôi, chỉ tổ chức một lớp gọi là lớp không quân để phối hợp nghiên cứu, vừa học vừa làm.


Ngày 9-3-1949, đồng chí Võ Nguyên Giáp, Tổng Tư lệnh Quân đội quốc gia Việt Nam đã quyết định thành lập Ban Nghiên cứu không quân. Gần như cùng một lúc, Ban Nghiên cứu thủy quân ra đời.

Ngày 14-9-1949, xảy ra việc đáng buồn, làm ảnh hưởng đến tương lai của Ban và của trường, nguyên do là chiếc Tiger Moth sau khi bay kiểm tra ở Soi Trinh chuẩn bị cho lớp lái bay tập về hạ cánh thì bị nạn. Song may là 2 chiếc máy bay vẫn nguyên vẹn, ngay cả khi ca nô Pháp chạy trên sông chỉ cách chỗ giấu 2 máy bay có vài trăm mét. Hai máy bay tiếp tục được bảo quản, chờ lệnh phục vụ cho công tác huấn luyện. Chiếc Tiger Moth được đưa về trường không quân ở Ngòi Liễm làm học cụ. Thật đáng tiếc vì nó là loại máy bay dễ lái, rất thích hợp cho việc học lái sơ đẳng. Loại máy bay này vẫn còn được trưng bày ở Bảo tàng không quân Anh, Mỹ, Tân Tây Lan. Anh Tôn Thất Hiền, khi thăm Bảo tàng không quân ở Đức có chụp được ảnh của nó.




Lớp phi công khóa 1 tại Việt Bắc (năm 1949)

Mặc dù không còn khả năng bay tập cho học viên khoá 1 (28 học viên lái), nhưng Bộ Tổng Tham mưu vẫn chỉ thị khai giảng khoá 2 (87 học viên, gồm 28 học viên học lái; 31 học viên học khí tượng và 28 học viên học máy). Các lớp học của khoá 1 và 2 đạt kết quả tốt, đặc biệt là lớp khí tượng và máy, không bị ảnh hưởng bởi “sự cố Tiger Moth”. Tham gia giảng dạy, ngoài số giáo viên nước ngoài do Bộ tổng Tham mưu cử về, còn có các giáo viên Việt Nam. Trong số họ, ngoài anh Đức Việt đã có từ trước còn có: Trần Hà (tên Việt Nam), phi công Nhật đã đánh ở Singapore; Nguyễn Ba, thợ máy Nhật; Malenbach, thợ máy Đức; Lubrish, gấp dù và nhảy dù (Đức); Schertaner, thợ máy Áo. Đó là những nhân viên kỹ thuật đã tham gia trong việc huấn luyện học viên các lớp lái và máy, đồng thời góp một số ý kiến cho các tiểu ban “sân bay”.


Trước tình hình ngày càng có lợi cho ta, cả về quân sự lẫn chính trị, bạn viện trợ cho ta pháo mặt đất và pháo phòng không. Bộ Quốc phòng quyết định giải thể Ban Nghiên cứu không quân, chuyển đa số anh em sang pháo binh và phòng không. Tôi được cử đi nước ngoài, đi bộ từ Tuyên Quang sang Côn Minh (Trung Quốc), học bộ binh tại Học viện Lục quân Minh Hồ. Học được một năm thì được giữ lại để học lớp pháo binh thêm một năm nữa. Trở về nước tôi rất tiếc vì chiến dịch Điện Biên Phủ đã kết thúc.


Một hôm, tôi đang đi với đoàn giảm tô thì nhận được thư của anh Hoàng Văn Thái, Tổng Tham mưu trưởng, bảo về ngay. Trở về, tôi được bổ sung vào Đoàn tiếp quản thủ đô của anh Hà Văn Lâu. Chúng tôi vào Hà Nội tiếp quản trước ngày 10-10-1954 độ một tuần, đấu tranh kịch liệt với phía Pháp về vấn đề tiếp quản sân bay Gia Lâm. Nhờ vốn kiến thức có được trong ba năm ở Ban Nghiên cứu không quân, tôi đã giúp anh Hà Văn Lâu buộc phía Pháp phải chấp nhận giao đủ các trang thiết bị của sân bay (Chúng có ý định mang đi hoặc phá huỷ những thứ không mang đi được, chỉ giao cho ta đường cất hạ cánh và xác nhà ga)...


Ban Nghiên cứu không quân tồn tại trong thời gian không lâu, những lớp học tổ chức trong điều kiện dã chiến, cơ sở vật chất kỹ thuật của ta còn thiếu, lại chưa hình dung hết tính phức tạp và khó khăn của một binh chủng kỹ thuật hiện đại, nhưng những gì Ban đã làm được thật hết sức có ý nghĩa. Nhiều cán bộ chiến sĩ được đào tạo qua hai khoá học đầu tiên của trường đã trở thành những hạt nhân xây dựng ngành Hàng không dân dụng và Không quân Nhân dân Việt Nam sau này.


Viết những dòng này trong dịp kỷ niệm 55 năm ngày thành lập Ban Nghiên cứu không quân, tôi bùi ngùi nhớ lại những ngày gian khổ trên chiến khu Việt Bắc. Ngày đó thực sự gian khổ nhưng rất ấm áp tình đồng đội trong sáng giữa cán bộ và chiến sĩ, giữa thầy giáo và học viên, không khí thực sự chan hòa đoàn kết trong sự đùm bọc và hết lòng giúp đỡ của nhân dân các dân tộc vùng đóng quân.


Hà Nội, 3.2004

« Sửa lần cuối: 09 Tháng Hai, 2019, 02:54:22 pm gửi bởi vnmilitaryhistory »

Logged

vnmilitaryhistory

Moderator
*
Bài viết: 2636


Chiến công thầm lặng - Tập 2« Trả lời #2 vào lúc: 09 Tháng Hai, 2019, 03:03:14 pm »
CHUYẾN BAY ĐẦU TIÊN CỦA KHÔNG QUÂN VIỆT NAM

LÊ THẠCH LIÊN*
(Nguyên cán bộ Tiểu ban khí tượng, Ban Nghiên cứu Không quân)

Đầu tháng 4-1947, Cục Quân huấn, bí danh Tiểu đội 240, thành lập một đơn vị gọi là không đoàn, lấy tên dân sự là Nhà 440, sau đổi thành trung đội Anh Lâm (1948). Đơn vị được lệnh tháo rời 2 máy bay (chiếc Tiger Moth và chiếc Morane, cả 2 chiếc đều do vua Bảo Đại giao lại cho chính quyền cách mạng sau khi thoái vị), cho lên 3 thuyền lớn cùng với 7 anh em thợ máy sửa chữa máy bay và tôi phụ trách đơn vị, chở lên theo sông Gâm đến Soi Đúng, thuộc xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hoá, cách huyện lỵ khoảng 10 km. Đây là một bãi đất trồng ngô tương đối bằng phẳng, rộng khoảng 80 mét và dài khoảng 500 mét, có thể dễ dàng thiết lập một bãi cất hạ cánh cho loại máy bay Tiger Moth và Morane hoạt động. Nhiệm vụ của Cục Quân huấn giao cho đơn vị là: Tiến hành sửa chữa lại chiếc Tiger Moth bị không quân địch bắn hỏng nhẹ và bảo dưỡng chiếc Morane; thiết lập một bãi cất hạ cánh nhỏ có kích thước 440 mét X 25 mét trên bãi ngô ven sông Gâm; nghiên cứu tình hình khí tượng để cho các chuyến bay trong tương lai không xa; chuẩn bị điều kiện để khi nào chiếc Tiger Moth sửa chữa xong thì cho bay thử.


Trong hai năm 1948 - 1949, đơn vị đã khắc phục khó khăn để sửa chữa, tìm các nguyên vật liệu thay thế và sau khi mở máy thử động cơ nhiều lần, kết quả động cơ chạy tốt, hệ thông điện bảo đảm, duy chỉ có 3 đồng hồ chỉ độ cao, xăng và dầu không tháo và sửa chữa được vì không có thợ chuyên môn về các thiết bị này.


Về bãi cất hạ cánh, trên cho tuyển 12 vệ binh ở địa phương và Cục điều thêm một số anh em bộ đội bổ sung cho đơn vị nên việc san bằng bãi cất hạ cánh bảo đảm được cho việc bay thử.

Xong mọi công tác chuẩn bị, tôi báo cáo về Cục Quân huấn và đề nghị Cục xem xét, cử phi công sang thị sát, nếu được có thể cho bay thử.

Ngày 13-9-1949, Bộ Quốc phòng cử anh Hà Đổng và anh Nguyễn Đức Việt, phi công hàng binh Đức, mang thư của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, đồng chí Tạ Quang Bửu, đề nghị tôi phối hợp với các anh Đổng và anh Việt cho tiến hành bay thử chiếc máy bay Tiger Moth.


Sau khi đi xem xét lại máy bay, cho thử động cơ, chúng tôi quyết định ngày hôm sau sẽ cho bay thử quãng thời gian khoảng trên dưới 15 phút vào buổi chiều, vì vào thời gian đó máy bay địch ít hoạt động.

5 giờ chiều ngày 14-9-1949, chúng tôi kéo máy bay ra, qua một quả đồi nhỏ và qua một mảnh ruộng của dân chùa cày, tới bãi cất hạ cánh và được tổ chức canh gác cẩn thận.


Anh Việt cùng bay với cụ Nguyễn Văn Đống, Trưởng ban cơ khí của đơn vị. Hai người chỉ mang theo hai cặp kính che mắt và không mang theo dù. Máy bay chạy đà khoảng 250 mét thì bắt đầu cất cánh, lên cao khoảng 100 mét, lượn về phía nam, sau đó hạ thấp độ cao, anh Việt có ý định bay theo dòng sông Gâm trở về, nhưng vì máy bay xuống quá thấp, cánh bên trái chạm mặt nước nên máy bay đâm xuống sông.


Hôm sau, anh em đơn vị lội xuống sông tháo từng bộ phận của máy bay đem về cất giữ. Việc này theo nhận định chung của anh em trong đơn vị cũng như của Cục Quân huấn và Bộ Quốc phòng, đơn vị đã có nhiều cố gắng, khắc phục khó khăn sửa chữa máy bay song vì bay quá thấp dẫn đến tai nạn đáng tiếc.


Sau đó Bộ Quốc phòng quyết định sáp nhập Bộ phận không đoàn vào Ban Nghiên cứu không quân và mở được hai lớp hoa tiêu, một lớp khí tượng, một lớp cơ khí (máy).


Hà Nội, 5.2004

Logged

vnmilitaryhistory

Moderator
*
Bài viết: 2636


Chiến công thầm lặng - Tập 2« Trả lời #3 vào lúc: 10 Tháng Hai, 2019, 11:47:14 am »
ĐOÀN BAY CỦA KHÔNG QUÂN NHÂN DÂN VIỆT NAM
TRÊN SÂN BAY MÔNG TỰ (TRUNG QUỐC)


Thiếu tướng, PGS-TS. Hồ THANH MINH*
(Nguyên Phó tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn kỹ thuật - Trung đoàn 921.
Nguyên Phó cục trưởng Cục Kỹ thuật Không quân)

Từ những năm 1956 - 1957, để xây dựng không quân, Nhà nước, Quân đội đã cử nhiều đoàn cán bộ trẻ tuổi lần lượt sang Liên Xô, Trung Quốc học lái máy bay phản lực MiG-15, máy bay ném bom TU-2, máy bay vận tải quân sự và học kỹ thuật không quân. Ngoài việc đào tạo con người có tri thức kỹ thuật không quân hiện đại, những năm 1960 - 1963, mặc dầu còn rất nhiều khó khăn về kinh tế, Nhà nước và Quân đội không ngừng đầu tư sức người sức của xây dựng cơ sỏ kỹ thuật hạ tầng bảo đảm cho không quân hoạt động, như: Sân bay, hệ thống thông tin, ra đa, trường, xưởng, kho trạm... Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng Tham mưu đã chỉ đạo, tổ chức thực hiện từng bước theo hệ thốNg đồng bộ và phát triển kịp theo yêu cầu, như: Tiếp quản sử dụng các sân bay, thành lập Trung đoàn không quân vận tải, Trung đoàn Huấn luyện bay, Trường Huấn luyện quản lý không phận, điều phái, chỉ huy bay... Nắm thời cơ, tranh thủ kịp thòi sự giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác, tạo đủ điều kiện xây dựng một trung đoàn không quân chiến đấu.


Năm 1959, đoàn học viên lái máy bay phản lực MiG-15 đầu tiên tốt nghiệp, được chuyên ngay đến sân bay Cao Mật (Trung Quốc) tiếp tục học lái máy bay MiG-17. Cùng thời gian này, đoàn thợ máy MiG-17 tốt nghiệp trường số 9 ở Trường Xuân (Trung Quốc) cũng được chuyến đến sân bay Cao Mật thực hành. Cuối năm 1959, Không quân nhân dân Việt Nam đã có một đoàn bay gồm các phi công và thợ máy đóng quân trên sân bay Cao Mật. Từ năm 1960, Cục Không quân Việt Nam đã chỉ đạo hoạt động của đoàn bay như một trung đoàn không quân tiêm kích. Năm 1962, Liên Xô giúp ta 32 máy bay phản lực MiG-17, 4 máy bay huấn luyện UMiG-15 và trang thiết bị vật tư cần thiết, đồng bộ theo tỷ lệ 1/1, 1/4, 1/10, 1/20 cho máy bay (1/1 tức là một bộ trang thiết bị vật tư cho một máy bay, 1/4 là một bộ trang thiết bị vật tư cho 4 máy bay...), đủ để thành lập Trung đoàn Không quân. Những thiết bị quân sự này Liên Xô chuyên đến Trung Quốc và các chuyên gia Liên Xô cùng chuyên gia Trung Quốc lắp ráp và bay thử từng chiếc tại sân bay Cao Mật. Cuối năm 1963, Trung Quổc giúp ta chuyên 36 máy bay phản lực do Liên Xô giúp cùng người lái và nhân viên kỹ thuật (thợ máy) đến sân bay Mông Tự ở tỉnh Vân Nam (Trung Quốc).


Tại Việt Nam, từ đầu năm 1961, sân bay Nội Bài được triển khai khảo sát thiết kê theo tiêu chuẩn cất hạ cánh của máy bay phản lực chiến đấu. Năm 1962, triển khai xây dựng. Năm 1963, hoàn thành việc xây dựng sân bay và sử dụng vào giữa năm 1964. Ngày 30 tháng 5 năm 1963, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Trung đoàn Không quân tiêm kích 921, nhưng do nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan nên trung đoàn với lực lượng và trang bị chiến đấu vẫn ở lại trên đất Trung Quốc.


Ngày 22-10-1963, tại sân bay Bạch Mai (Hà Nội), Quân chủng Phòng không - Không quân được thành lập. Ngày 3-2-1964, công bố Quyết định thành lập và tổ chức trọng thể lễ ra mắt Trung đoàn Không quân tiêm kích đầu tiên của Việt Nam tại sân bay Mông Tự (Trung Quốc). Một số cán bộ tham mưu, chính trị, hậu cần Không quân Nhân dân Việt Nam (KQND Việt Nam) lần lượt đến Mông Tự phục vụ hoạt động bay của trung đoàn.


Sân bay Mông Tự thuộc tỉnh Vân Nam, cách Lào Cai (Việt Nam) khoảng 120 km, cách biên giới Lào - Việt khoảng 160 km và cách sân bay Nội Bài (Việt Nam) chừng 300 km, nằm gần trục đường sắt Hà Nội - Côn Minh, qua cửa khẩu Lào Cai. Mông Tự là vùng đồi núi hoang vắng thời Vũ Đê (109 TCN), được gọi là Mông Tự đã hơn 800 năm. Nơi đây từng có dạ Mông Tự nổi tiếng để may áo mùa đông. Ngay từ năm 1887, nơi đây đã là chốn buôn bán sầm uất, mặc dầu dân cư chỉ khoảng trên dưới 10 ngàn người, nhưng đã có đến trên 200 cửa hàng, cửa hiệu của các thương gia nước ngoài như Anh, Pháp, Đức, Hy Lạp, Nhật Bản... Trong thời kỳ chống Nhật (1941 - 1945), đường phố tràn đầy quân Tưởng Giới Thạch, có đội máy bay Phi Hổ của Mỹ chuyên bay sang Việt Nam ném bom quân Nhật rồi về hạ cánh ở sân bay Mông Tự. Giao thông lúc đó bị phá hoại, đi lại chủ yếu bằng ngựa thồ. Mông Tự là tụ điểm của các loại phỉ và tàn quân Tưởng Giới Thạch, Pháp, Nhật.


Sau ngày giải phóng (1949), sân bay hoạt động trở lại. Đoàn Không quân Việt Nam đóng quân trên sân bay Mông Tự được phía bạn chăm lo khá đầy đủ về ăn ở, sinh hoạt. Phi công một ngày bay, một ngày giảng bình kỹ thuật. Thợ máy làm việc theo cơ chế “ta làm bạn xem”, nghĩa là có sự kèm cặp giúp đỡ của thợ máy bạn. Sống và làm việc xa Tổ quốc, người lái và thợ máy lúc nào cũng mong ngóng ngày trở về Tổ quốc, góp phần với đồng bào miền Nam đánh Mỹ.


Ngày trở về Tổ quốc được ấn định là ngày 6-8-1964, nghĩa là chỉ sau một ngày khi đế quốc Mỹ dùng không quân đánh phá miền Bắc XHCN. Phi công Đào Đình Luyện, vốn là sĩ quan bộ binh, được tuyển chọn học lái máy bay ném bom TU-2, sau được chuyển sang học lái máy bay phản lực tiêm kích MiG-17 là Trung đoàn trưởng đã dẫn Trung đoàn máy bay tiêm kích phản lực đầu tiên của KQND Việt Nam, với đầy đủ trang bị vũ khí, cất cánh từ sân bay Mông Tự trở về đất nước quê hương. Khi vào vùng trời đất Mẹ Việt Nam, trên dọc đường bay, những nòng pháo phòng không đã vươn cao yếm hộ cho 36 máy bay chiến đấu mang trên mình cờ đỏ sao vàng với các số hiệu 2310, 2316, 2416... nhằm hướng sân bay Nội Bài bay về và hạ cánh an toàn.


Chiều 6-8-1964, trung đoàn nhận nhiệm vụ chiến đấu và hai biên đội máy bay đã vào trực ban sẵn sàng chiến đấu trên sân đỗ đầu tây sân bay.

Hoạt động chiến đấu của Trung đoàn Không quân 921 trong những ngày đầu về nước được Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân trực tiếp chỉ đạo.


Hà Nội, 22.12.2003

Logged

vnmilitaryhistory

Moderator
*
Bài viết: 2636


Chiến công thầm lặng - Tập 2« Trả lời #4 vào lúc: 10 Tháng Hai, 2019, 11:49:14 am »
CHUẨN BỊ ĐƯA ĐOÀN KHÔNG QUÂN TIÊM KÍCH VỀ NƯỚC

Thiếu tướng, PGS-TS. HỒ THANH MINH*
(Nguyên Phó tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn kỹ thuật - Trung đoàn 921.
Nguyên Phó cục trưởng Cục Kỹ thuật Không quân)

Từ quý II năm 1964, người trong nước sang sân bay Mông Tự giảm dần. Tình hình chiến sự ngày càng căng thẳng, dồn dập không chỉ ở miền Nam mà cả ở miền Bắc. Máy bay trinh sát địch ngày đêm xâm nhập vùng trời miền Bắc XHCN, tuy bị ta đánh trả nhưng chúng vẫn không giảm cường độ hoạt động, trái lại càng vào sâu vùng giới tuyến, vùng lãnh hải và không phận của ta. Một cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân đang được đế quốc Mỹ ráo riết chuẩn bị. Máy bay cường kích của không lực Hoa Kỳ được tăng cường trên các sân bay ở miền Nam...


Trước âm mưu thủ đoạn của địch, cấp trên giao nhiệm vụ cho không quân chuẩn bị lực lượng sẵn sàng chiến đấu. Một phái đoàn của Quân chủng Phòng không - Không quân do đại tá Đặng Tính đã sang làm việc với các đại diện Không quân Trung Quốc bàn kế hoạch bí mật đưa Trung đoàn Không quân 921 về nước để sẵn sàng chiến đấu và sẽ chuẩn bị trực ban chiến đấu ngay sau khi hạ cánh xuống sân bay.


Đầu tháng 7-1964, đại đội định kỳ (Xưởng bảo dưỡng kỹ thuật) được lệnh chuẩn bị về nước. Từ giờ phút đó, đơn vị hối hả chuẩn bị đóng hòm các thiết bị, dụng cụ chuyên dùng, gói quân tư trang, lên danh sách những người đi tiền trạm... Đêm 27-7-1964, đại đội bốc hàng lên xe và tiến về phía ga Khai Viễn. Tàu Trung Quốc lăn bánh trong đêm hướng về phía Lào Cai. Mờ sáng hôm sau, tàu đến cửa khẩu Hồ Kiều, không ai được phép xuống ga, tàu tiếp tục lăn bánh qua cầu và từ từ tiến vào mảnh đất Tổ quốc Việt Nam thân yêu. Thế là bao nhiêu tháng ngày mong đợi chúng tôi đã được trở về đất nước mình. Bám theo bờ trái sông Hồng đang mùa nước, con tàu đưa chúng tôi qua các rừng cọ, đồi chè Hạ Hoà, Phú Thọ, Vĩnh Phúc... và xế chiều, tàu dừng lại ở ga Đông Anh thay đầu máy rồi chuyển hướng ngược lên Thái Nguyên, đến ga Đa Phúc tàu dừng hẳn khi màn đêm buông xuống. Hàng hoá, khí tài từ ga Đa Phúc được bốc lên ô tô và chuyển vào khu nhà khí tượng trên sân bay Nội Bài vừa mới xây dựng xong. Ngay sau đó, chúng tôi được đưa đến tiếp quản những lán trại của công nhân xây dựng sân bay, chuẩn bị nơi ăn chốn ở. Lúc này, thợ máy, phi công và các máy bay vẫn tiếp tục ở lại sân bay Mông Tự đợi lệnh.


Ngày đầu tiên trở về Tổ quốc, đứng ở trên cao nhìn xuống toàn cảnh sân bay Nội Bài, tôi sung sướng, tự hào. Sân bay Nội Bài nằm giữa một vùng đất cuối trung du Vĩnh Phúc, trải rộng với đường cất, hạ cánh (đường băng) kéo dài từ đông sang tây. Cuối hai đầu đông, tây là hai sân đỗ có thể đỗ vài chục máy bay tiêm kích, được nối liền bằng đường lăn. Phía ngoài đường băng, ở khoảng giữa hai đầu đường cất hạ cánh là nhà khí tượng, được xây dựng to đẹp. Không xa nhà khí tượng là các dãy nhà bảo đảm kỹ thuật cho máy bay: Trạm nạp ắc quy, trạm khí nén, trạm nạp ô xy, trạm điện nước... Buổi sáng, sân bay hiện rõ trên thảm màu xanh của cánh đồng lúa, khoai, ngô đang vào vụ... Được ngắm nhìn toàn cảnh sân bay càng thấy tự hào về sức mạnh của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Bác Hồ kính yêu, dù chưa hàn gắn xong vết thương chín năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp đã lại phải đương đầu đánh Mỹ. Mặc dù còn rất nhiều khó khăn về kinh tế, Nhà nước và Quân đội vẫn ưu ái dành không ít sức người sức của xây dựng sân bay Nội Bài, sẵn sàng cho cuộc chiến đấu bảo vệ vùng trời Tổ quốc.


Tuy toàn bộ phi công, thợ máy và máy bay đang ở lại, ngày vẫn bay luyện tập trên bầu trời Trung Quốc, nhưng đêm đến cứ hướng nhìn về Tổ quốc, mong đợi lệnh trên được bay về nước. Sự tích cực chuẩn bị đưa Trung đoàn Không quân tiêm kích đầu tiên về nước, góp phần cùng cả nước bảo vệ miền Bắc XHCN đáp ứng lòng mong mỏi của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta.


Đóng quân trên mảnh đất Sóc Sơn, Trung đoàn 921 được kế thừa và phát huy truyền thống chống giặc ngoại xâm của tổ tiên ta. Nơi đây gắn liền những địa danh lịch sử như: Đền Hùng đời vua thứ 6 (năm 258 TCN); Đền Sóc Sơn thờ Thánh Gióng cũng vào thời gian này; Đền Cổ Loa thời Thục Phán An Dương Vương (năm 208 TCN); Đền Hạ Lôi (Mê Linh) thời Trưng Vương (Năm 43 SCN)...


Mọi việc chuẩn bị đưa Trung đoàn Không quân tiêm kích đầu tiên trở về Tổ quốc đã sẵn sàng, nhưng phải đến mãi ngày 6-8-1964, chiếc máy bay phản lực đầu tiên mới hạ cánh xuống sân bay Nội Bài trong tiếng hoan hô của cán bộ chiến sĩ trung đoàn.


Cũng từ ngày đó trở đi, Trung đoàn Không quân tiêm kích luôn nêu cao t

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Chiến công thầm lặng - Tập 2 | Câu chuyện thời hoa lửa