Chiến dịch Biên Giới (16/9-14/10/1950)
Chiến dịch Biên Giới (16/9-14/10/1950)
Là chiến dịch tiến công quân Pháp trên tuyến Cao Bằng - Lạng Sơn (Chiến dịch Lê Hồng Phong II) do Bộ Tổng tư lệnh tổ chức. Chủ tịch Hồ Chí Minh ra mặt trận để trực tiếp chỉ đạo chiến dịch.Mục đích tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng một phần biên giới, mở đường giao thông nối liền với các nước xã hội chủ nghĩa, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Uỷ viên Thường vụ Trung ương Đảng làm Bí thư Đảng uỷ, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy chiến dịch; Thiếu tướng Hoàng Văn Thái, Tổng Tham mưu trưởng làm Tham mưu trưởng; đồng chí Trần Đăng Ninh, Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp phụ trách hậu cần chiến dịch; đồng chí Lê Liêm, Chủ nhiệm chính trị chiến dịch. Lực lượng tham gia gồm: Đại đoàn 308 và hai trung đoàn bộ binh của Bộ Tổng tư lệnh, 3 tiểu đoàn bộ đội chủ lực (426, 428 và 888) của Liên khu Việt Bắc, cùng bộ đội địa phương và dân quân, du kích Cao Bằng, Lạng Sơn.
Cách đánh của chiến dịch là đánh điểm, diệt viện.
Lực lượng quân Pháp trên tuyến phòng thủ đường số 4 có: 11 tiểu đoàn và 9 đại đội bộ binh (phần lớn là Âu - Phi), tổ chức thành những cụm cứ điểm mạnh.
Chiến dịch diễn ra 3 đợt:
Đợt 1 (16/9 - 20/9/1950): Mở đầu bằng trận Đông Khê (16 - 18/9/1950), đồng thời tiến hành phá cầu đường trên đường 4, (đoạn nam Thất Khê), phục kích đánh địch ở Pắc Luông, Tha Lai buộc bộ chỉ huy Pháp gấp rút tăng cường lực lượng cho Thất Khê - Cao Bằng.
Đợt 2 (21/9 - 8/10/1950): Pháp mở cuộc hành quân Hải Cẩu lên Thái Nguyên nhằm lôi kéo chủ lực ta, nhưng không đạt mục đích, phải rút lui. Đêm 30/9, quân Pháp đưa Binh đoàn Lơ Pagiơ (4 tiểu đoàn) từ Thất Khê lên định chiếm lại Đông Khê và đón quân ở Cao Bằng về. Do cảnh giới không chu đáo, ta để địch lọt qua trận địa phục kích ở Lũng Phầy, nhưng sau chặn được ở Đông Khê và liên tục tiến công ở Nà Mục, Tróc Ngà, Khâu Luông.
Ngày 3/10, Pháp cho Binh đoàn Sáctông (3 tiểu đoàn) rút khỏi Cao Bằng, định về khu vực điểm cao 477 hội quân với Binh đoàn Lơ Pagiơ. Ta chặn quân Sáctông ở Quang Liệt, tập trung diệt Binh đoàn Lơ Pagiơ ở Cốc Xá, sau đó chuyển sang diệt Binh đoàn Sáctông ở khu vực điểm cao 477, đồng thời đánh bật quân của Đờ La Bôm từ Thất Khê lên ứng cứu.
Đợt 3 (9 - 14/10/1950): Ta cơ động lực lượng bao vây Thất Khê, Na Sầm nhưng địch ở đây đã rút chạy ( từ 10 -1 4/10/1950), sau đó quân Pháp tiếp tục rút khỏi Đồng Đăng, thị xã Lạng Sơn, Lộc Bình, Đình Lập, Lạng Giang, An Châu.
Kết quả: Ta loại khỏi vòng chiến đấu gần 10 tiểu đoàn, trong đó diệt gọn 8 tiểu đoàn (diệt và bắt hơn 8.000 tên địch) thu hơn 3.000 tấn vũ khí, phương tiện chiến tranh, giải phóng khu vực biên giới và Cao Bằng đến Đình Lập (Lạng Sơn).
Chiến dịch Biên Giới là chiến dịch tiến công quy mô lớn đầu tiên sau 4 năm kháng chiến giành thắng lợi, có ý nghĩa chiến lược, đồng thời đánh dấu bước nhảy vọt về nghệ thuật tổ chức và chỉ đạo chiến dịch của Quân đội ta góp phần làm thay đổi cục diện chiến tranh: ta bước sang giai đoạn chiến lược phản công và tiến công, Pháp chuyển dần sang chiến lược phòng ngự
Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Uỷ viên Thường vụ Trung ương Đảng làm Bí thư Đảng uỷ, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy chiến dịch; Thiếu tướng Hoàng Văn Thái, Tổng Tham mưu trưởng làm Tham mưu trưởng; đồng chí Trần Đăng Ninh, Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp phụ trách hậu cần chiến dịch; đồng chí Lê Liêm, Chủ nhiệm chính trị chiến dịch. Lực lượng tham gia gồm: Đại đoàn 308 và hai trung đoàn bộ binh của Bộ Tổng tư lệnh, 3 tiểu đoàn bộ đội chủ lực (426, 428 và 888) của Liên khu Việt Bắc, cùng bộ đội địa phương và dân quân, du kích Cao Bằng, Lạng Sơn.
Cách đánh của chiến dịch là đánh điểm, diệt viện.
Lực lượng quân Pháp trên tuyến phòng thủ đường số 4 có: 11 tiểu đoàn và 9 đại đội bộ binh (phần lớn là Âu - Phi), tổ chức thành những cụm cứ điểm mạnh.
Chiến dịch diễn ra 3 đợt:
Đợt 1 (16/9 - 20/9/1950): Mở đầu bằng trận Đông Khê (16 - 18/9/1950), đồng thời tiến hành phá cầu đường trên đường 4, (đoạn nam Thất Khê), phục kích đánh địch ở Pắc Luông, Tha Lai buộc bộ chỉ huy Pháp gấp rút tăng cường lực lượng cho Thất Khê - Cao Bằng.
Đợt 2 (21/9 - 8/10/1950): Pháp mở cuộc hành quân Hải Cẩu lên Thái Nguyên nhằm lôi kéo chủ lực ta, nhưng không đạt mục đích, phải rút lui. Đêm 30/9, quân Pháp đưa Binh đoàn Lơ Pagiơ (4 tiểu đoàn) từ Thất Khê lên định chiếm lại Đông Khê và đón quân ở Cao Bằng về. Do cảnh giới không chu đáo, ta để địch lọt qua trận địa phục kích ở Lũng Phầy, nhưng sau chặn được ở Đông Khê và liên tục tiến công ở Nà Mục, Tróc Ngà, Khâu Luông.
Ngày 3/10, Pháp cho Binh đoàn Sáctông (3 tiểu đoàn) rút khỏi Cao Bằng, định về khu vực điểm cao 477 hội quân với Binh đoàn Lơ Pagiơ. Ta chặn quân Sáctông ở Quang Liệt, tập trung diệt Binh đoàn Lơ Pagiơ ở Cốc Xá, sau đó chuyển sang diệt Binh đoàn Sáctông ở khu vực điểm cao 477, đồng thời đánh bật quân của Đờ La Bôm từ Thất Khê lên ứng cứu.
Đợt 3 (9 - 14/10/1950): Ta cơ động lực lượng bao vây Thất Khê, Na Sầm nhưng địch ở đây đã rút chạy ( từ 10 -1 4/10/1950), sau đó quân Pháp tiếp tục rút khỏi Đồng Đăng, thị xã Lạng Sơn, Lộc Bình, Đình Lập, Lạng Giang, An Châu.
Kết quả: Ta loại khỏi vòng chiến đấu gần 10 tiểu đoàn, trong đó diệt gọn 8 tiểu đoàn (diệt và bắt hơn 8.000 tên địch) thu hơn 3.000 tấn vũ khí, phương tiện chiến tranh, giải phóng khu vực biên giới và Cao Bằng đến Đình Lập (Lạng Sơn).
Chiến dịch Biên Giới là chiến dịch tiến công quy mô lớn đầu tiên sau 4 năm kháng chiến giành thắng lợi, có ý nghĩa chiến lược, đồng thời đánh dấu bước nhảy vọt về nghệ thuật tổ chức và chỉ đạo chiến dịch của Quân đội ta góp phần làm thay đổi cục diện chiến tranh: ta bước sang giai đoạn chiến lược phản công và tiến công, Pháp chuyển dần sang chiến lược phòng ngự



