Bài viết

CHIẾN DỊCH BIÊN GIỚI 1950 – MỘT THỜI HOA LỬA

Cao Bằng16/07/2026Ban Biên tập tổng hợp5 lượt xem0 lượt chia sẻ

CHỦ ĐỀ I: ĐƯỜNG LÊN BIÊN GIỚI

Tiểu đề 1: Công tác chuẩn bị cho chiến dịch Biên giới 1950

Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã trở thành một nước tự do, độc lập. Nhưng ngày 23/9/1945, được sự giúp đỡ của quân Anh và quân Nhật, quân Pháp nổ súng gây hấn ở Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương lần thứ hai.

Sau chiến thắng Việt Bắc năm 1947, đến cuối năm 1949 đầu năm 1950, lực lượng kháng chiến của ta lớn mạnh hơn, uy tín nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày một lên cao, tình hình quốc tế có những chuyển biến thuận lợi. Đặc biệt, đầu năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có chuyến công tác bí mật sang Liên Xô và Trung Quốc dưới sự bảo vệ chu đáo của Trung đoàn 174. Chuyến công tác này nhằm mục đích thỏa thuận một số giải pháp hỗ trợ cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta. Tháng 3/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh về nước qua biên giới Cao Bằng. Tranh thủ tình hình thế giới và trong nước thuận lợi, tháng 6/1950, Ban Thường vụ Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh họp tại Định Hóa, Thái Nguyên, quyết định mở Chiến dịch Biên giới, lấy mật danh là Chiến dịch Lê Hồng Phong II.

Tham dự cuộc họp gồm các đồng chí:

1. Đồng chí Trường Chinh - Ủy viên Ban Thường vụ Trung ương Đảng, Tổng Bí thư

2. Đồng chí Hồ Chí Minh - Ủy viên Ban Thường vụ Trung ương Đảng, Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

3. Đồng chí Phạm Văn Đồng - Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ

4. Đông chí Lê Văn Lương – Bí thư Văn phòng Thường vụ Trung ương Đảng, kiêm trưởng Ban Đảng vụ

5. Đồng chí Hoàng Quốc Việt - Ủy viên Ban Thường vụ Trung ương Đảng

6. Đồng chí Võ Nguyên Giáp - Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tư lệnh Quân đội Quốc gia và Dân quân Việt Nam

Mục đích của chiến dịch là “Tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, giải phóng một phần biên giới, mở thông đường biên giới với các nước xã hội chủ nghĩa, phá thế bao vây của Pháp, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc”. Đây là một quyết định đúng đắn, chính xác, thể hiện tài thao lược của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc phân tích, nhận định tình hình, chọn hướng và vận dụng thời cơ chiến lược, tạo bước ngoặt cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Để trực tiếp lãnh đạo quân và dân ta thực hiện mục đích chiến dịch, tháng 7/1950, Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định thành lập Bộ Chỉ huy và Đảng ủy mặt trận do Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tư lệnh Quân đội Quốc gia và Dân quân Việt Nam trực tiếp làm Chỉ huy trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy; các ủy viên gồm: đồng chí Hoàng Văn Thái làm Tổng tham mưu trưởng chiến dịch, đồng chí Trần Đăng Ninh - Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng, Tổng Cục trưởng Tổng cục Cung cấp trực tiếp phụ trách công tác hậu cần cho chiến dịch, đồng chí Lê Liêm – Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị và đồng chí Bùi Quang Tạo – Phó Bí thư Liên Khu ủy kiêm Phó Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu Việt Bắc.

Căn cứ vào tình hình địch ở Cao Bằng và cơ sở tự do kháng chiến của ta, tháng 8/1950, Bộ chỉ huy Chiến dịch Biên giới đã quyết định đặt Sở chỉ huy chiến dịch tại nhà ông Lã Văn Ho thuộc bản Tả Phầy Nưa, xã Quốc Phong, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng. Tại bản Tả Phầy Nưa và nhiều nhiệu địa điểm khác ở huyện Quảng Hòa đã diễn ra các hội nghị quan trọng chuẩn bị về mọi mặt cho Chiến dịch, nhất là xác định phương án tác chiến.

Cuối tháng 7 đầu tháng 8/1950, đoàn cố vấn Trung Quốc đã kịp thời sang giúp đỡ ta về kế hoạch quân sự. Đoàn cố vấn gồm 14 đồng chí, trong đó có đồng chí Trần Canh là bạn cũ của Bác và được đích thân Chủ tịch nước Trung Quốc Mao Trạch Đông giao nhiệm vụ dẫn đầu đoàn cố vấn sang hỗ trợ Việt Nam.

Để động viên tinh thần cán bộ, chiến sĩ quyết tâm giành thắng lợi trong Chiến dịch Biên giới, ngày 02/9/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho các cán bộ, chiến sĩ tham gia Chiến dịch và mở cuộc thi đua “Giết giặc lập công”. Người trực tiếp chỉ thị: “Chiến dịch Cao – Bắc – Lạng rất quan trọng. Chúng ta quyết đánh thắng trận này”

Trên cương vị là Chủ tịch nước, dù bận trăm công nghìn việc nhưng do tính chất quan trọng của Chiến dịch Biên giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp ra mặt trận theo dõi, chỉ đạo chiến dịch. Đây là nguồn cổ vũ, động viên to lớn, tiếp thêm sức mạnh để quân và dân ta làm nên chiến thắng.

Sáng ngày 05/9/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng đoàn công tác rời căn cứ địa Việt Bắc hành quân ra mặt trận. Đoàn công tác cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh ra mặt trận gồm có 7 người: Chủ tịch Hồ Chí Minh, 4 đồng chí bảo vệ, 1 đồng chí bác sĩ và 1 đồng chí nhiếp ảnh. Trong chuyến đi này, Bác cùng đoàn công tác chủ yếu đi bộ. Bác mặc một bộ trang phục giản dị, chân di dép cao su, tay chống gậy hành quân, đầu đội mũ cứng bỏ quai, khăn mặt vắt ngang quai mũ.

Trên đường ra mặt trận, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến làm việc với Tỉnh ủy Cao Bằng tại Lam Sơn (xã Hồng Việt, huyện Hòa An). Sau đó, ngay trong đêm Bác lại lên đường tiếp tục hành quân vào Sở Chỉ huy Chiến dịch. Người đi đường tắt qua các xã Đại Tiến, Ngũ Lão, Nguyễn Huệ (huyện Hòa An), Quốc Toản (huyện Quảng Hòa), qua Phi Hải rồi đến Sở chỉ huy Chiến dịch đóng tại nhà ông Lã Văn Ho vào chiều ngày 10/9/1950.

Khi vừa đến nơi, chưa kịp nghỉ ngơi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẩn trương bắt tay ngay vào công việc: nghe các cơ quan báo cáo tình hình công việc chuẩn bị chiến dịch và nhất là họp với các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Trần Đăng Ninh, Hoàng Văn Thái.... Ngoài ra, Người cũng dành thời gian trực tiếp đến thăm hỏi, nói chuyện, động viên các đơn vị bộ đội tham gia Chiến dịch Biên giới.

Tại Sở Chỉ huy Chiến dịch, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp nghe Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bí thư Đảng ủy, Chỉ huy trưởng Mặt trận thay mặt Đảng ủy và Bộ Chỉ huy Chiến dịch báo cáo phương án tác chiến “đánh điểm diệt viện” và chọn cứ điểm Đông Khê làm trận mở màn cho Chiến dịch. Người trực tiếp phê chuẩn quyết tâm của Bộ Chỉ huy Chiến dịch bao gồm bốn bước: “Một là, đánh Đông Khê. Hai là, đánh quân viện của địch lên Đông Khê. Ba là, đánh Thất Khê. Bốn là, đánh Cao Bằng. Tất cả có bốn bước”. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Ta đánh vào Đông Khê là đánh vào nơi quân địch tương đối yếu. Nhưng đây lại là vị trí rất quan trọng của địch trên tuyến Cao Bằng – Lạng Sơn. Mất Đông Khê, buộc địch phải cho quân đi ứng cứu, ta có cơ hội thuận lợi tiêu diệt chúng trong vận động”. Đây chính là bài học sâu sắc về lối tư duy sát thực tiễn; sự phân tích, đánh giá tình hình thực tiễn một cách khách quan, khoa học, thể hiện nhãn quan quân sự xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với chiến dịch.

Sáng ngày 13/9/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Bộ Chỉ huy Chiến dịch rời nhà ông Lã Văn Ho sang Sở Chỉ huy Chiến dịch đóng tại xã Đức Long, huyện Thạch An một phần để giữ bí mật, một phần để tránh làm phiền dân và lại có thể giúp dân nếu cần. Người ở và làm việc tại hang Không Hẩu và Lán “bình dân học vụ” tại xóm Bản Mới, xã Đức Long. Sở Chỉ huy Chiến dịch ở bản Tả Phầy Nưa đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chuẩn bị mọi mặt cho chiến dịch.

Tiểu đề 2: Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp ra mặt trận chỉ đạo chiến dịch động viên quân dân chiến đấu

Ngày 9/9/1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư gửi đồng bào Cao – Bắc – Lạng kêu gọi đồng bào ba tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn cố gắng trong công tác chuẩn bị và phục vụ chiến dịch. Những lời động viên của Người làm cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân cảm nhận sâu sắc ý nghĩa và tầm quan trọng của Chiến dịch Biên giới, là nguồn sức mạnh tinh thần, động viên quân dân ta quyết tâm giành thắng lợi trong Chiến dịch.

Thực hiện lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta háo hức, khẩn trương ra sức thi đua lập công, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ để đưa chiến dịch tới toàn thắng. Đồng bào vùng cao của Cao Bằng tình nguyện đi bạt núi, mở đường, bắc cầu, vận chuyển lương thực, đạn dược bằng đôi vai, ngựa thồ. Hàng vạn dân công hỏa tuyến bám sát trận địa phục vụ bộ đội ăn no đánh thắng.

Đảng bộ, chính quyền đã tích cực chỉ đạo, huy động được hơn 78.000 dân công, trong số đó có 2/3 là phụ nữ. Nhiều đồng bào dân tộc thiểu số đã tự nguyện đi dân công phục vụ chiến dịch như đội dân công dân tộc Dao xã Vũ Nông (huyện Nguyên Bình) có sáng kiến vận chuyển hai dây cáp, mỗi dây dài hơn 100 mét từ mỏ thiếc Tĩnh Túc (huyện Nguyên Bình) đến Quảng Hòa để công binh bắc cầu phao qua sông Bằng Giang an toàn.

Trong phục vụ chiến đấu, đội dân công hỏa tuyến, huyện Thạch An luôn bám sát các đơn vị bộ đội, kịp thời tiếp lương, tải đạn lên trận địa, cõng thương binh vượt qua lửa đạn về tuyến sau cứu chữa. Nhiều chị em đã được Bác Hồ tuyên dương như: Đinh Thị Dậu, Đinh Thị Bỏng, Triệu Thị Soi...

Cùng với đồng bào nhân dân ba tỉnh Cao – Bắc – Lạng đáp lại lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các cán bộ, chiến sĩ cũng nghiêm túc chuẩn bị bước vào Chiến dịch Biên giới. Nhằm thực hiện phương án tác chiến “đánh điểm diệt viện” và chọn cứ điểm Đông Khê cho trận mở màn của Bộ Chỉ huy Chiến dịch, các đơn vị bộ đội đã diễn ra nhiều cuộc họp nghiên cứu kế hoạch tác chiến, phổ biến kế hoạch chiến đấu và tích cực luyện tập quân sự, chuẩn bị những khâu cuối cùng cho Chiến dịch.

Để động viên, cổ vũ tinh thần quyết tâm “đánh thắng trận đầu” - trận đánh cứ điểm Đông Khê, sáng ngày 16/9/1950, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã gửi điện đến toàn thể cán bộ chiến sĩ tham gia trận đánh cứ điểm Đông Khê. “...Toàn thể các chiến sỹ hãy tiến mạnh lên tiền tuyến, đáp lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, kế tục truyền thống của Bắc Sơn, Cao Bằng của chiến khu Cao - Bắc - Lạng.

Chúng ta tin tưởng mãnh liệt

Chúng ta nhất định thắng

Chúng ta quyết đánh thắng”

CHỦ ĐỀ 2: MỘT HỜI HOA LỬA

Sau khi đã hoàn thành mọi công tác chuẩn bị, 6h sáng ngày 16/9/1950 pháo binh của ta đồng loạt tấn công cứ điểm Đông Khê, mở màn cho Chiến dịch Biên giới.

Tại Sở chỉ huy chiến dịch, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp lên đỉnh núi “ Báo Đông ”, đài quan sát của Sở chỉ huy chiến dịch Biên giới 1950 quan sát và chỉ đạo trận đánh cứ điểm Đông Khê. Tại đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm bài thơ.

“ Chống gậy lên non xem trận địa

Vạn trùng núi đỡ vạn trùng mây

Quân ta khí mạnh nuốt ngưu đẩu

Thề diệt xâm lăng lũ sói cầy”.

16/9/1950

HỒ CHÍ MINH

Sau trận pháo kích, bộ đội ta từ nhiều hướng tấn công cứ điểm Đông Khê.

- Hướng Đông Bắc, Trung đoàn 174 mở cuộc tấn công vào cá vị trí tiền tiêu ngoại vi. 9h sáng quân ta chiếm đồn Yên Ngựa, 10h30 chiếm đồn Phia Khóa ( nằm ở phía đông đồn to).

- Hướng Tây Nam, trung đoàn 209 triển khai trận địa chậm đến 18 giờ mới nổ súng tấn công.

- 21h quân ta chiếm đồn Pò Đinh và tấn công đồn Pò Hấu

Ngày 17/9/1950

- Sáng trung đoàn 174 tiếp tục tấn công chiếm đồn Cạm Phầy, Trung đoàn 209 chiếm nhà Phủ Thiện.

- Trưa ngày 17/9 ta bắn rơi 01 máy bay quần đảo trên bầu trời yểm trợ cho đồn Đông Khê

- 18 giờ 30 phút ngày17/9 chỉ huy trưởng Hoàng Văn Thái ra mệnh lệnh các hướng tổng tấn công đồn Đông Khê và đồn Nhà Thương ( đồn hướng Bắc cứ điểm ). Trận đánh kéo dài suốt đêm 17/9. Trong trận chiến đấu đã xuất hiện nhiều tấm gương chiến đấu dũng cảm hy sinh trong trận đánh đồn Đông Khê.

Đội trưởng La Văn Cầu ôm bộc phá xông lên, bị thương ở cánh tay, nhờ đồng đội chặt đứt cánh tay bị thương cho khỏi vướng, tiếp tục ôm bộc phá xông lên công phá đồn địch.

(Tiểu sử tóm tắt) La Văn Cầu sinh năm 1932, dân tộc Tày, quê ở xã Phong Nặm, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Sinh ra trong một gia đình nông dân. Sớm được giác ngộ cách mạng . Nhập ngũ năm 1948, được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Việt Nam năm 1950. Ông đã tham gia chiến đấu nhiều trận đánh lớn. ( Trận Bông Lau 1949, trận Đông Khê 1950). Trong chiến dịch Biên giới Thu Đông tại cứ điểm Đông Khê, La Văn Cầu là tiểu đội phó thuộc Trung đoàn 174, Đại đoàn 316. Ông là lá cờ đầu trong phong trào thi đua yêu nước thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Do thành tích trong chiến đấu, năm 1950 được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba, Huân chương kháng chiến hạng nhất. Danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.)

Và còn rất nhiều tấm gương dũng cảm của các nữ dân công, chị Đinh Thị Dậu dân công huyện Thạch An, Triệu Thị Soi quê ở Trùng Khánh nhiều lần dũng cảm vượt qua lửa đạn, tiếp tế đạn cho bộ đội và cõng thương binh về hậu cứ cứu chữa, chị Đinh Thị Bỏng chỉ huy 38 chị em dân công huyện Thạch An suốt ngày đêm tải đạn, tải lương thực phục vụ trận đánh…

Trận đánh đồn Đông Khê kéo dài suốt đêm 17/9 đến 4h sáng ngày 18/9 quân ta đã thọc sâu chiếm Sở chỉ huy cứ điểm tại đồn Đông Khê. 10h sáng ngày 18/9/1950 Trung đoàn 174 và Trung đoàn 209 hoàn toàn làm chủ phố đồn Đông Khê, cứ điểm Đông Khê hoàn toàn bị tiêu diệt.

Kết quả trận đánh cứ điểm Đông Khê, sau 54 giờ chiến đấu ta tiêu diệt và bắt sống

- 300 tên địch ( trong đó có tên quan Ba – a- li- úc – đồn trưởng)

- Bắn rơi 01 máy bay

- Thu toàn bộ vũ khí, đạn dược, lương thực.”

Trận đánh cứ điểm Đông Khê giành thắng lợi đã cắt đứt một mắt xích quan trọng trong hệ thống phòng thủ của địch trên đường số 4, phá vỡ sự liên kết giữa phân khu Cao Bằng và phân khu Thất Khê của địch. Trận đánh cứ điểm Đông Khê là trận đánh công kiên đầu tiên áp dụng thành công chiến thuật công kiên cấp trung đoàn, có sự hiệp đồng đồng giữa các binh chủng, tập trung tiêu diệt một cứ điểm lớn của địch phòng ngự kiên cố, hỏa lực mạnh. Đây là trận đánh tiêu biểu mang cấp chiến dịch của quân đội nhân dân Việt Nam. Sau chiến thắng Đồng Khê, số tù binh Pháp bị bắt trong trận đánh cứ điểm Đông Khê bị áp giải đến giam giữ tại khu đồn cũ của Pháp tại làng Nà Lạn (nay thuộc xóm Bản Mới, xã Đức Long, huyện Thạch An).

Sau chiến thắng của trận đánh cứ điểm Đông Khê, chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư đến các chiến sĩ bị thương trong trận đánh đồn Đông Khê. Đó là nguồn động viên tinh thần to lớn đối với các cán bộ chiến sĩ, góp phần tạo nên chiến thắng của chiến dịch.

Sau khi tiêu diệt cứ điểm Đồng Khê, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ chỉ huy chiến dịch Biên giới nhận định: Địch có thể tái chiếm Đông Khê, đánh lên đón binh đoàn Sác Tông rút từ Cao Bằng. Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định thực hiện phương án diệt viện “ nhử thú dữ vào tròng để khép vòng lưới thép”.

Đại đoàn 308 được phân công phục binh tại khu vực Khau Luông, Nà Pá xã Đức Xuân, huyện Thạch An đón đánh quân Thất Khê kéo lên. Bộ đội triển khai đào công sự phòng ngự chặn đánh địch tại Khau Luông, Nà Kéo, Nà Pá cách phố Đông Khê về phía nam khoảng 6km.

Đêm 1/10/1950 Binh đoàn Bay do Trung tá Lơpagiơ chỉ huy kéo quân từ Thất Khê lên nhằm tái chiếm lại Đông Khê và hợp quân với Binh đoàn Sác Tông rút về từ thị xã Cao Bằng.

Trận chiến tại Khau Luông, Nà Pá diễn ra từ ngày 2/10/1950 đến rạng sáng ngày 4/10/1950, Binh đoàn Lơ –pa- giơ bị chặn đánh thiệt hại nghiêm trọng buộc địch luồn rừng sang phía tây đường số 4 chạy về phía Cốc Xả xã Trọng Con chờ hợp quân với binh đoàn Sác Tông rút về từ thị xã Cao Bằng.

Ngày 3/10/1950, Thị xã Cao Bằng được giải phóng.

Trận đánh phục kích chặn viện binh địch tại Khau Luông giành thắng lợi ta đã tiêu diệt được một phần lực lượng của binh đoàn Lơ – pa – giơ, khống chế một phần rộng lớn trên đường 4.

Điểm cao 477 thuộc xã Trọng Con nằm phía tây bắc Cốc Xả, trong dãy núi Quang Liệt kéo dài từ Nặm Nàng, xã Kim Đồng đến Bản Ca xã Trọng Con, cách Đông Khê về phía bắc khoảng 8 km, cách đường số 4 về phía đông khoảng 6km.

0h ngày 3/10/1950, Binh đoàn Sác Tông gồm 3 tiểu đoàn rút khỏi Pháo đài Thị xã Cao Bằng theo đường số 4 về hướng Đông Khê. Đến Nặm Nàng xã Kim Đồng, huyện Thạch An cách thị xã Cao Bằng khoảng 20km thì được lệnh vứt bỏ xe cộ, vũ khí hạng nặng hành quân bộ theo dãy núi Quang Liệt hướng về Cốc Xả, chiếm điểm cao 477 để chờ cơ hội hợp binh với binh đoàn Lơ – pa – giơ cùng rút về Thất Khê.

Chiều 6/10/1950 mặc dù bị trung đoàn 209 chặn đánh quyết liệt và tiêu diệt gần một tiểu đoàn. Bình đoàn Sác Tông cũng đến được phía bắc điểm cao 477 như dự định.

Sáng ngày 7/10/1950, ta bao vây và chặn địch tại khu vực xung quanh điểm cao 477. Địch tổ chức quân giữ hai bên sườn của điểm cao 477, tập trung lực lượng mạnh phản kích ra hướng đồi tranh ở phía bắc nhằm phá vây mở đường tiền về Bản Ca, nhưng đều bi quân ta đánh bật trở lại.

11h ngày 7/10/1950, ta tập trung lực lượng mạnh tấn công địch ở phía Tây và Tây Bắc điểm cao 477. Trước sức tấn công mạnh mẽ của quân ta, Sác Tông nhận thấy nguy cơ bị tiêu diệt đã để một phần lực lượng chống đỡ các mũi tán công của ta ở phía Tây và Tây Bắc điểm cao 477. Một hướng tổ chức tấn công tiếp về phía đồi tranh, một hướng phân tán xuống các khe suối, chân núi trên đường đến Bản Ca.

Khi quân ta tấn công đến điểm cao 477, phần lớn quân địch đã tháo chạy, chỉ còn một bộ phận nhỏ chống cự yếu ớt. Trận đánh điểm cao 477 giành thắng lợi.

Bị chặn đánh tại Khau Luông, buộc Binh đoàn Lơ – pa – giơ phải cắt rừng chạy về hướng Cốc Xả xã Quang Liệt nay là xã Trọng Con, huyện Thạch An. Trước tình hình như vậy, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định điều lực lượng bao vây binh đoàn Lơ – pa – giơ tại Cốc Xả.

Trưa ngày 5/10/1950, quân ta tấn công chủ yếu vào khu B Cốc Xả

Sáng ngày 6/10/1950, quân ta hình thành thế bao vây binh đoàn Lơ – pa- giơ tại Cốc Xả cả 3 hướng Bắc, Đông, Tây Nam, cuộc bao vây, chia cắt, tấn công đội hình quân địch diễn ra liên tục các ngày 6,7/10/1950.

Đến ngày 8/10/1950, toàn bộ Binh đoàn Lơ – Pa – giơ bị xóa sổ, Lơ – pa – giơ và ban thâm mưu đoàn bị bắt làm tù binh.

Sau 5 ngày đêm tấn công liên tục, từ ngày 5/10 đến 8/10/1950, trận Cốc xả và điểm cao 477 đã kết thúc thắng lợi. Ta dã xóa sổ hai binh đoàn địch, gồm 6 tiểu đoàn Âu – Phi, 01 tiểu đoàn Ngụy, loại khỏi vòng chiến đấu lực lượng cơ động mạnh của thực dân Pháp trên chiến trường Đông Dương. Đây là hai trận đánh then chốt tiêu biểu mang cấp chiến dịch đầu tiên của quân đội Nhân dân Việt Nam. Thắng lợi này mang tính quyết định cho chiến thắng chiến dịch Biên giới 1950.

Sác Tông và Lơ – pa – giơ cùng Ban tham mưu binh đoàn và tàn quân bị ta bắt làm tù binh.

Sau khi Binh đoàn Sác Tông và Lơ – pa –giơ bị tiêu diệt và bị bắt làm tù binh, quân địch ở Thất Khê hoang mang dao động và tháo chạy, chớp thời cơ, bộ đội ta truy kích địch, giải phóng Na Sầm (Lạng Sơn), hoảng sợ thất bại nặng nề, địch lần lượt tháo hạy khỏi Đông Khê, Lộc Bình, An Châu, Đình Lập (Lạng Sơn).

Theo sự dặn dò của Bác, các y, bác sĩ của ta đã tận tình cứu chữa cho thương binh của địch, những hình ảnh này thể hiện tinh thần nhân đạo cao cả, khiến các tù binh phải tâm phục khảu phục bởi tấm lòng nhân ái bao dung của Bác dành cho họ. Sự chăm sóc, ân cần cứu chữa của quân ta đã giác ngộ cho họ về tình cảm con người, tình yêu hòa bình quốc tế.

Sau chiến thắng, Bác bảo anh Văn tổ chức cho Bac đi thăm đồng bào, bộ đội mới được giải phóng ở Đông Khê, Thất Khê, Cao Bằng. Từng đoàn bộ đội, dân công cùng đồng bào trước đây đi tản cư, gồng gánh trở về đông vui như đi hội. Tiếng cười, tiếng hát, tiếng chào hỏi xen lẫn tiếng hô vang khắp nơi: “Việt Nam độc lập muôn năm, Hồ Chủ tịch muôn năm”.

Chiến dịch kết thúc, Bộ chỉ huy triệu tập hội nghị tổng kết tại hang Ngườm Bốc xã Hồng Việt, huyện Hòa An. Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng cống tác tổng kêt. Người đã đến dự và chỉ đạo Hội nghị. Trong bài nói chuyện tại Hội nghị, Người lưu ý một số vấn đề cần tổng kết như: Đề cao kỷ luật; triệt để thi hành mệnh lệnh cáp trên; thương yêu đồng đội; tôn trọng nhân dân; giữ gìn của công, chiến lợi phẩm và Người đã chỉ rõ chiến dịch này có nhiều kinh nghiệm, tốt xấu đều có, cần phải tổng kết, phổ biến học tập…

Sau 29 ngày đêm chiến đấu liên tục từ ngày 16/9/1950 đến ngày 14/10/1950, chiến dịch Biên giới 1950 kết thúc thắng lợi. Ta đã đánh và tiêu diệt gồm 10 tiểu đoàn địch, loại khỏi vòng chiến đấu 8296 tên dịch, bắt toàn bộ ban chỉ huy binh đoàn Sác Tông , Lơ-pa-giơ và ban chỉ huy cứ điểm Đông Khê, thu 3000 tấn vũ khí, giải phóng hoàn toàn biên giới từ Cao Bằng đến Đình Lập (Lạng Sơn).

CHỦ ĐỀ 3: VANG MÃI CHIẾN CÔNG

Thắng lợi Chiến dịch Biên giới 1950 đã khẳng định vai trò lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta; Tạo bước đà quan trọng để quân và dân ta tiến lên dành thắng lợi trong các chiến dịch tiếp theo tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Thực hiện đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính, với tinh thần quyết chiến, quyết thắng, quân và dân ta đã lần lượt đánh bại các kế hoạch quân sự của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ làm nên các chiến thắng vang dội:

Chiến dịch Hòa Bình năm 1951-1952 (10/12/1951 – 25/2/1952) ở khu vực thị xã Hoà Bình - Sông Đà - Đường 6 đánh bại kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình của Pháp, phá vỡ phòng tuyến Sông Đà và tạo điều kiện phát triển chiến tranh du kích ở đồng bằng Bắc Bộ. (

Chiến dịch Tây Bắc năm 1952 (từ 14/10 – 10/12/1952) nhằm tiêu diệt sinh lực đối phương, giải phóng một bộ phận đất đai, âm mưu củng cố “Xứ Thái”, “Xứ Nùng tự trị” của Pháp bị thất bại hoàn toàn.

Chiến dịch Thượng Lào năm 1953 (13/4-18/5/1953) sau Chiến dịch Tây Bắc (1952) Thắng lợi của ta trong khiến cho địa bàn chiến lược của địch ở Thượng Lào bị uy hiếp nghiêm trọng. Để cứu vãn tình thế, địch nhanh chóng tổ chức lực lượng, phương tiện phòng thủ khu vực Thượng Lào, hòng giành lại thế chủ động trên chiến trường Bắc Đông Dương. Nắm chắc diễn biến tình hình chiến trường cùng âm mưu và thủ đoạn của địch, mùa Xuân năm 1953, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Chính phủ kháng chiến Lào đã thống nhất, quyết định phối hợp mở Chiến dịch Thượng Lào. Nhờ chuẩn bị chu đáo về mọi mặt, phối hợp chiến đấu chặt chẽ, với quyết tâm chiến đấu cao và nghệ thuật quân sự độc đáo, Chiến dịch Thượng Lào giành thắng lợi giòn giã.

Chiến lược Đông Xuân 1953-1954 là chuỗi các cuộc tiến công chiến lược trên toàn chiến trường Đông Dương của lực lượng vũ trang Quân đội Nhân dân Việt Nam phối hợp với các lực lượng kháng chiến Lào, Campuchia trong chiến tranh Đông Dương (1945 – 1954). Đánh bại kế hoạch Nava, làm thất bại kế hoạch của Pháp muốn đảo ngược tình hình bằng một thắng lợi quyết định; làm thay đổi cục diện chiến tranh có lợi cho ba nước Đông Dương. Địch buộc phải phân tán lực lượng lên Điện Biên Phủ, Trung và Hạ Lào, Tây Nguyên và Thượng Lào. Ở mặt trận sau lưng địch, quân dân ta cũng đẩy mạnh chiến tranh du kích, khiến địch luôn phải huy động lực lượng cơ động ứng phó khắp nơi. Kế hoạch Nava rơi vào tình trạng bị động đối phó.

(Kế hoạch Nava là kế hoạch quân sự do Tổng chỉ huy quân đội Liên hiệp Pháp (Navarre) ở Đông Dương đưa ra nhằm xoay chuyển cục diện chiến tranh Đông Dương, với hy vọng trong 18 tháng sẽ “kết thúc chiến tranh trong danh dự”)

Trên cơ sở nắm chắc mọi âm mưu, hành động của địch, phân tích, đánh giá tình hình một cách khoa học, đầu tháng 12/1953, Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ. Sau 56 ngày đêm chiến đấu anh dũng quân và dân ta Quân và dân ta đã đập tan tập đoàn cứ điểm “mạnh nhất Đông Dương” - “pháo đài bất khả xâm phạm” của thực dân Pháp làm nên một chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” giáng đòn quyết định tạo bước ngoặt lịch sử làm thay đổi hẳn cục diện chiến tranh giữa ta và địch, trực tiếp đưa đến việc ký kết Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương. (Ảnh: Cờ Quyết chiến quyết thắng tung bay trên nóc hầm tướng Đờcattơri trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, ngày 07/5/1954; Ảnh: Hiệp định lập lại hòa bình ở Đông Dương được ký kết tại Hội nghị Giơ-Ne-Vơ (Thụy Sỹ), ngày 21/7/1954)

Tháng 11-1972, sau khi Mỹ lật lọng trên bàn đàm phán, theo chỉ đạo của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng đã tổ chức một cuộc họp quan trọng nhận định âm mưu, thủ đoạn của địch và xác định kế hoạch đánh B-52 trên miền Bắc và tại bầu trời Hà Nội. Chúng ta phải kiên quyết đánh thắng chúng trên bầu trời Thủ đô”. Trong 12 ngày đêm cuối tháng 12-1972, Bộ đội PK-KQ đã bắn rơi 81 máy bay, trong đó có 34 chiếc B-52 (16 chiếc rơi tại chỗ), góp phần cùng quân và dân miền Bắc làm nên Chiến thắng lịch sử “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không”. Buộc Mỹ chấp nhận trở lại bàn đàm phán Paris ký kết Hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Với thắng lợi của Hiệp Định Paris được ký kết năm 1973, đại bộ phận quân Mỹ đã rút khỏi nước ta, nhưng với âm mưu bá chủ thế giới của mình Mỹ vẫn giữ lại 2 vạn cố vấn quân sự và lập ra bộ chỉ huy quân sự, kinh tế tiếp tay cho chính quyền Sài Gòn. Được sự tiếp tế của Mỹ về quân sự và kinh tế, chính quyền Sài Gòn ngang nhiên phá hoại nội dung hiệp định Pari, sử dụng nhiều hình thức, nhiều hành động gây chiến tranh xâm lược. Bộ Chính trị nhận thấy quân Mỹ khó có khả năng quay lại tham chiến tại miền Nam và nhất trí thông qua phương án giải phóng miền Nam trong hai năm 1975 – 1976. Thực hiện chủ trương đề ra, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, bắt đầu từ ngày 4-3-1975 với chiến thắng mở đầu Buôn Ma Thuột đến 11 giờ 30 ngày 30-4-1975 lịch sử lá cờ cách mạng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập. Đây là thời điểm đánh dấu thành phố Sài Gòn - Gia Định hoàn toàn giải phóng. Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc, thu non sông về một mối. Thắng lợi đó thể hiện tinh thần quyết chiến, quyết thắng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong công cuộc chống ngoại xâm, giành và giữ nền độc lập, tự do của Tổ quốc.

Đánh đuổi được thực dân Pháp và đế quốc Mỹ quân và dân ta tiếp tục dành thắng lợi trong các cuộc chiến tranh chính nghĩa bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ ở khu vực biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc:

Năm 1977, tập đoàn phản động Pol Pot - Ieng Sary đã liên tục tấn công xâm lược Việt Nam, sát hại dã man nhiều dân thường vô tội, gây ra cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam đẫm máu, xâm phạm nghiêm trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, chà đạp lên những giá trị tốt đẹp trong mối quan hệ hữu nghị giữa hai nước, hai dân tộc Việt Nam-Campuchia. Đáp lời kêu gọi khẩn thiết của Mặt trận Đoàn kết Dân tộc Cứu nước Campuchia, cộng với tội ác của Pol Pot gây ra đối với đồng bào, ta phải đứng lên đánh đuổi Pol Pot ra khỏi đất nước. Cuộc tiến công diễn ra cực kỳ vũ bão, thần tốc, trong vòng chưa đầy 28 ngày, ta đã đuổi chúng đến tận biên giới Thái Lan.

Ngày 17/2/1979, lấy lý do thực hiện một cuộc “phản kích tự vệ”, giới cầm quyền Trung Quốc huy động 60 vạn quân chủ lực tấn công quân sự đối với Việt Nam trên toàn tuyến phía Bắc. Đáp lại hành động gây chiến tranh phi nghĩa của Trung Quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo quân dân Việt Nam thực hiện quyền tự vệ chính đáng, tiến hành cuộc chiến tranh chống quân Trung Quốc xâm lược ở vùng biên giới phía Bắc. Trước sự kiên quyết của Đảng và Nhà nước cũng như tinh thần chiến đấu anh dũng, quả cảm của quân và dân Việt Nam, trưa ngày 5/3/1979, giới cầm quyền Trung Quốc đã tuyên bố bắt đầu rút quân khỏi lãnh thổ Việt Nam.

Chiến dịch biên giới 1950 đã trở thành tiền đề, đánh dấu bước chuyển mình mạnh mẽ của quân đội ta đánh thẳng vào hệ thống phòng ngự của địch làm nên chuỗi chiến thắng vang dội của quân và dân ta từ Điện Biên Phủ - Lừng lẫy năm châu đến Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Với những ý nghĩa lịch sử và tính chất tối quan trọng của Chiến thắng Chiến dịch Biên giới 1950 trong cuộc kháng chiến bảo vệ độc lập dân tộc; Đảng và Nhà nước đã cho khởi công xây dựng Khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh với chiến thắng Biên giới 1950 ngày 19/5/2003, khánh thành ngày 19/5/2004; nhằm góp phần bảo tồn, gìn giữ các điểm di tích và tuyên truyền, giáo dục cho các thế hệ mai sau.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn