CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ (2)
Gần cuối con ngõ nhỏ ở xã Tân Dân, có một ông cụ đã ngoài chín mươi, mái tóc bạc trắng nhưng đôi mắt vẫn sáng như hai đốm lửa không tắt. Người ta gọi cụ là ông Đỗ Cao Phủng – người từng đi qua những ngày hoa lửa của Điện Biên Phủ.Những năm tháng dậy sóng.
Hình ảnh ông Đỗ Cao Phủng
Ông bảo:“Điện Biên Phủ… ngày ấy như một vùng trời đỏ lửa kéo dài đến tận tim người lính.”
Ông nhớ rõ: năm 1949, 1950, giặc chiếm Điện Biên. Rồi sau Chiến dịch Tây Bắc, ta lại giành được. Nhưng đến 1953 – 1954, họ quay lại, dựng lên tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương.
Lúc ấy, chủ trương của Đảng rất rõ: Phải đánh – phải giải phóng bằng được Điện Biên Phủ.
Từ khắp mọi miền, sư đoàn 308, 372, 335, 55, rồi hơn một trăm nghìn dân công hỏa tuyến lũ lượt kéo về. Họ gánh gạo từ Thanh Hóa, vượt rừng, băng khe suối, gùi từng thùng đạn nặng. Đất trời Tây Bắc rung lên bởi bước chân người Việt.
Kéo pháo giữa hoa lửa .Thanh niên xung phong và bộ đội bắt đầu kéo pháo vào trận địa. Đường núi dốc dựng đứng. Mỗi lần bánh xe trượt đất, lại có người đẩy, lại có đôi thanh gỗ chèn vào. Mỗi tất đường, mỗi đoạn dây thừng, mỗi hơi thở đều ngấm lửa của ý chí.“Ngày ấy, chỉ nghe tiếng hô ‘Kéo pháo!’ là tim nó rung lên,” ông Phủng mỉm cười.
Quân ta lúc đầu được lệnh đánh nhanh thắng nhanh, trong 2 ngày 1 đêm phải hạ Điện Biên. Đại tướng Võ Nguyên Giáp lên tận trận địa. Ông đi sát đồn địch, quan sát suốt 11 ngày đêm.
Đêm thứ mười một, Đại tướng quyết định:Không đánh nhanh. Phải đánh chắc thắng chắc.
Tin ấy truyền về từng đơn vị như một mệnh lệnh từ trái tim. Bộ đội kéo pháo ra – gian khổ hơn cả khi kéo vào. Sư đoàn 308 được điều sang Lào nghi binh. Lực lượng còn lại lùi về củng cố.
Ông Phủng bảo:“Đó là lần đầu tiên tôi hiểu thế nào là trí tuệ của người cầm quân. Đó cũng là lúc hoa lửa thực sự nở trong lòng người lính.”
Sau khi củng cố, quân ta tiến vào Điện Biên lần nữa.Đại tướng ra chỉ thị: đào hầm – đào hào – bao vây – siết chặt địch. Hào của ta chỉ còn cách địch 100 mét. Hào nối liền với hào, đơn vị nối liền đơn vị như những sợi rễ cây thép đang bám sâu vào lòng đất. Quân Pháp thả dù tiếp tế, nhưng một nửa rơi vào trận địa quân ta, vì máy bay phải bay thật cao để tránh pháo cao xạ. Ngày đêm, trên trận địa, hoa lửa nở từ trong lòng đất – tiếng súng, tiếng pháo và cả tiếng tim người lính hòa cùng hơi thở đất trời.
Có 3 đợt . Đợt 1, ta đánh các đồn vòng ngoài, rồi dồn lực tiến vào sân bay Mường Thanh – nơi tiếp tế sống còn của Pháp. Sân bay bị phá hủy, mặt đất khét mùi thuốc súng và dầu cháy.Đợt 2, ta chiếm các đồi then chốt như A1, C1. Mỗi tấc đất nơi ấy được đổi bằng máu của bao người lính trẻ.Đợt 3, tối 7/5/1954. Bầu trời Điện Biên đỏ rực như ngàn cánh hoa lửa đang nở.“Đêm ấy,” ông khẽ nói, “chúng tôi chỉ biết tiến lên… cứ thế mà tiến.”
Quân ta đánh thẳng vào hầm chỉ huy, bắt sống sáu sĩ quan cấp tá. Khắp nơi, những lá cờ trắng bắt đầu phất lên. Đến 12 giờ trưa, 7/5/1954 – Điện Biên Phủ hoàn toàn giải phóng. Dân bản ùa ra đón những người lính, tiếng reo vang khắp núi rừng.
Giờ đây, ngồi trước hiên nhà, ông Phủng nhìn vệt nắng chiều và nói như đang nói với chính tuổi trẻ của mình: “Ngày ấy, chúng tôi chẳng ai nghĩ mình là anh hùng. Chỉ biết trong tim có một ngọn lửa. Nhỏ thôi… nhưng khi nhập vào nhau, nó thành cả trời hoa lửa.”
Ông nhắm mắt. Trên gương mặt nhăn nheo của người lính già, như vẫn còn ánh đỏ của Điện Biên năm xưa – nơi mà hoa lửa đã nở, rực sáng cả một thời đại.



