Chiến dịch giải phóng Đà Nẵng (26 – 29/3/1975)
Chiến dịch giải phóng Đà Nẵng (26 – 29/3/1975)
Ngày 24/3/1975, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương quyết định mở Chiến dịch Đà Nẵng, lấy mật danh là Mặt trận 475, nhằm tiêu diệt lực lượng thuộc Quân đoàn 1, Quân khu 1 ngụy co cụm phòng thủ tại Đà Nẵng, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.Sau khi mất các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế, Quảng Ngãi và phần lớn tỉnh Quảng Nam, căn cứ quân sự liên hợp hiện đại bậc nhất của địch tại Đà Nẵng hoàn toàn bị cô lập. Tinh thần của địch hoang mang nhưng vẫn hô “tử thủ Đà Nẵng” và tính toán rằng nếu ta muốn tiến công Đà Nẵng thì phải chuẩn bị ít nhất một tháng. Lúc này, ở chiến trường Đà Nẵng, lực lượng địch có khoảng 75.000 quân do Trung tướng Ngô Quang Trưởng, Tư lệnh Quân đoàn 1 ngụy chỉ huy, gồm: Sư đoàn Thủy quân lục chiến 1 (có tàn quân của Lữ đoàn 147), Sư đoàn Bộ binh 3, tàn quân của các Sư đoàn Bộ binh 1 và 2, Sư đoàn Không quân 1 gồm 279 máy bay, trong đó có 96 máy bay chiến đấu, Liên đoàn Biệt động quân 17, Thiết đoàn 11 và tàn quân của Thiết đoàn 20, 7 tiểu đoàn pháo binh, 15 tiểu đoàn bảo an, 240 trung đội dân vệ và 24.000 phòng vệ dân sự. 
Sơ đồ diễn biến chiến dịch Đà Nẵng từ ngày 28 – 29/3/1975. Ảnh Từ điển BKQSVN 2009. Về phía ta, trước sự phát triển nhanh chóng của chiến trường, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương họp và nhận định: Sau khi mất Huế và Tam Kỳ, dù muốn giữ Đà Nẵng địch cũng không thể giữ nổi. Bộ Chính trị khẳng định: Thời cơ chiến lược lớn đã tới. Ngày 24/3/1975, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương quyết định mở Chiến dịch Đà Nẵng với tư tưởng chỉ đạo “kịp thời nhất, nhanh chóng nhất, táo bạo nhất, bất ngờ nhất và chắc thắng”, chỉ định Trung tướng Lê Trọng Tấn, Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam làm Tư lệnh, Thượng tướng Chu Huy Mân, Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 5 làm Chính ủy. Lực lượng của ta tham gia Chiến dịch có Quân đoàn 2 (thiếu Sư đoàn 324) phối hợp với Lực lượng vũ trang Quân khu 5 gồm Sư đoàn Bộ binh 2, Lữ đoàn Bộ binh 52, 2 tiểu đoàn tăng thiết giáp, 1 tiểu đoàn pháo binh, 2 trung đoàn và 3 tiểu đoàn bộ đội địa phương, du kích và lực lượng tự vệ, biệt động… Từ ngày 26/3, ta đánh địch ở đèo Phước Tượng, ga Thừa Lưu và đồn Thổ Sơn, tuyến phòng thủ lâm thời của địch ở Phú Gia, đánh địch phản kích ở Lăng Cô, đánh chiếm Thăng Bình, Duy Xuyên và Nam Phước… Lực lượng của ta ở các hướng khác đã vào vị trí xuất phát tiến công, áp sát Đà Nẵng.
Xe tăng của quân ta trên đường phố Đà Nẵng ngày 29/3/1975. Ảnh TL. Sáng ngày 28/3, trận địa pháo của Quân đoàn 2 ở đèo Mũi Trâu bắt đầu bắn vào sân bay ngụy, Sân bay Nước Mặn và bán đảo Sơn Trà. Pháo của Quân khu 5 bắn vào Hòn Bằng, Trà Kiệu, Vĩnh Điện. Bộ binh, xe tăng ta từ ba hướng Bắc, Tây Nam và Nam tiến công mạnh mẽ quân địch trên đường, thần tốc tiến về hướng Đà Nẵng. Trên hướng Bắc, ngày 28/3, Trung đoàn 18 chiếm ga Lăng Cô và đánh bại các đợt phản kích của địch. Ngày 29/3, Trung đoàn được tăng cường một đại đội xe bọc thép PT-85 mở đợt tiến công quân địch tại đèo Hải Vân, chiếm kho xăng Liên Chiểu ở chân đèo và đánh thẳng ra bán đảo Sơn Trà. 13 giờ 30 phút, Trung đoàn làm chủ quân cảng ngụy ở bán đảo Sơn Trà. Hướng Tây Bắc, tối 28/3, Trung đoàn 9 thuộc Sư đoàn 304 cùng một tiểu đoàn xe tăng hành quân bằng cơ giới tiêu diệt địch ở Phước Tượng, Hòa Khánh, Sở Chỉ huy Sư đoàn 3 ngụy. Hướng Nam và Đông Nam, Trung đoàn 38 thuộc Sư đoàn 2 cùng Trung đoàn 96 địa phương đánh chiếm các khu vực Bà Rén, quận lỵ Duy Xuyên, thị trấn Nam Phước và Đường 14. Địch dùng máy bay ném bom sập cầu Bà Rén, Câu Lâu để ngăn chặn ta. Đảng bộ và nhân dân địa phương đã huy động các phương tiện chở bộ đội vượt sông để tiến công quân địch. Ngày 29, Trung đoàn 38 tiến công căn cứ Vĩnh Điện. Trung đoàn 1 tiêu diệt địch ở Viên Tây, phát triển vào Đà Nẵng. Trung đoàn 31 vượt cầu Kỳ Lâm, bám sát đội hình của Trung đoàn 1. Lúc 11 giờ 45 phút, Tiểu đoàn 40 của Trung đoàn 1 đánh tan quân địch ở bến đò Su, đánh chiếm Sở Chỉ huy Quân đoàn 1 ngụy. Cùng thời gian trên, Tiểu đoàn 60 và 90 thuộc Trung đoàn 1 và Tiểu đoàn 8 của Trung đoàn 31 đánh chiếm Sở Chỉ huy Sư đoàn không quân và sân bay Đà Nẵng. Phối hợp với Sư đoàn 2, Trung đoàn 96, Tiểu đoàn 491 và Đại đội Biệt động Lê Độ đánh chiếm tòa thị chính, quân tiếp vụ và đài phát thanh.
Giải phóng toàn bộ khu Căn cứ Liên hợp quân sự Đà Nẵng ngày 29/3/1975. Ảnh TL BTLSQSVN. Trên hướng Đông, Trung đoàn 97 địa phương đánh chiếm thị xã Hội An, Non Nước, sân bay Nước Mặn, phối hợp với Trung đoàn 38 diệt địch ở Mỹ Khê. 15 giờ ngày 29/3, quân ta đã chiếm toàn bộ Căn cứ Liên hợp quân sự Đà Nẵng, bán đảo Sơn Trà, giải phóng hoàn toàn thành phố Đà Nẵng và các vùng phụ cận. Kết thúc chiến dịch, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 90.000 tên, tiêu diệt ba sư đoàn bộ binh (1, 2, 3), sư đoàn thủy quân lục chiến, bốn liên đoàn biệt động quân (11, 12, 14, 15), đập tan hệ thống phòng thủ của Quân đoàn 1, Quân khu 1 ngụy, thu và phá hủy 115 máy bay, 47 tàu xuồng, 284 xe vận tải, 138 xe tăng, xe bọc thép và 69.000 súng các loại.

Sơ đồ diễn biến chiến dịch Đà Nẵng từ ngày 28 – 29/3/1975. Ảnh Từ điển BKQSVN 2009. Về phía ta, trước sự phát triển nhanh chóng của chiến trường, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương họp và nhận định: Sau khi mất Huế và Tam Kỳ, dù muốn giữ Đà Nẵng địch cũng không thể giữ nổi. Bộ Chính trị khẳng định: Thời cơ chiến lược lớn đã tới. Ngày 24/3/1975, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương quyết định mở Chiến dịch Đà Nẵng với tư tưởng chỉ đạo “kịp thời nhất, nhanh chóng nhất, táo bạo nhất, bất ngờ nhất và chắc thắng”, chỉ định Trung tướng Lê Trọng Tấn, Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam làm Tư lệnh, Thượng tướng Chu Huy Mân, Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 5 làm Chính ủy. Lực lượng của ta tham gia Chiến dịch có Quân đoàn 2 (thiếu Sư đoàn 324) phối hợp với Lực lượng vũ trang Quân khu 5 gồm Sư đoàn Bộ binh 2, Lữ đoàn Bộ binh 52, 2 tiểu đoàn tăng thiết giáp, 1 tiểu đoàn pháo binh, 2 trung đoàn và 3 tiểu đoàn bộ đội địa phương, du kích và lực lượng tự vệ, biệt động… Từ ngày 26/3, ta đánh địch ở đèo Phước Tượng, ga Thừa Lưu và đồn Thổ Sơn, tuyến phòng thủ lâm thời của địch ở Phú Gia, đánh địch phản kích ở Lăng Cô, đánh chiếm Thăng Bình, Duy Xuyên và Nam Phước… Lực lượng của ta ở các hướng khác đã vào vị trí xuất phát tiến công, áp sát Đà Nẵng.

Xe tăng của quân ta trên đường phố Đà Nẵng ngày 29/3/1975. Ảnh TL. Sáng ngày 28/3, trận địa pháo của Quân đoàn 2 ở đèo Mũi Trâu bắt đầu bắn vào sân bay ngụy, Sân bay Nước Mặn và bán đảo Sơn Trà. Pháo của Quân khu 5 bắn vào Hòn Bằng, Trà Kiệu, Vĩnh Điện. Bộ binh, xe tăng ta từ ba hướng Bắc, Tây Nam và Nam tiến công mạnh mẽ quân địch trên đường, thần tốc tiến về hướng Đà Nẵng. Trên hướng Bắc, ngày 28/3, Trung đoàn 18 chiếm ga Lăng Cô và đánh bại các đợt phản kích của địch. Ngày 29/3, Trung đoàn được tăng cường một đại đội xe bọc thép PT-85 mở đợt tiến công quân địch tại đèo Hải Vân, chiếm kho xăng Liên Chiểu ở chân đèo và đánh thẳng ra bán đảo Sơn Trà. 13 giờ 30 phút, Trung đoàn làm chủ quân cảng ngụy ở bán đảo Sơn Trà. Hướng Tây Bắc, tối 28/3, Trung đoàn 9 thuộc Sư đoàn 304 cùng một tiểu đoàn xe tăng hành quân bằng cơ giới tiêu diệt địch ở Phước Tượng, Hòa Khánh, Sở Chỉ huy Sư đoàn 3 ngụy. Hướng Nam và Đông Nam, Trung đoàn 38 thuộc Sư đoàn 2 cùng Trung đoàn 96 địa phương đánh chiếm các khu vực Bà Rén, quận lỵ Duy Xuyên, thị trấn Nam Phước và Đường 14. Địch dùng máy bay ném bom sập cầu Bà Rén, Câu Lâu để ngăn chặn ta. Đảng bộ và nhân dân địa phương đã huy động các phương tiện chở bộ đội vượt sông để tiến công quân địch. Ngày 29, Trung đoàn 38 tiến công căn cứ Vĩnh Điện. Trung đoàn 1 tiêu diệt địch ở Viên Tây, phát triển vào Đà Nẵng. Trung đoàn 31 vượt cầu Kỳ Lâm, bám sát đội hình của Trung đoàn 1. Lúc 11 giờ 45 phút, Tiểu đoàn 40 của Trung đoàn 1 đánh tan quân địch ở bến đò Su, đánh chiếm Sở Chỉ huy Quân đoàn 1 ngụy. Cùng thời gian trên, Tiểu đoàn 60 và 90 thuộc Trung đoàn 1 và Tiểu đoàn 8 của Trung đoàn 31 đánh chiếm Sở Chỉ huy Sư đoàn không quân và sân bay Đà Nẵng. Phối hợp với Sư đoàn 2, Trung đoàn 96, Tiểu đoàn 491 và Đại đội Biệt động Lê Độ đánh chiếm tòa thị chính, quân tiếp vụ và đài phát thanh.

Giải phóng toàn bộ khu Căn cứ Liên hợp quân sự Đà Nẵng ngày 29/3/1975. Ảnh TL BTLSQSVN. Trên hướng Đông, Trung đoàn 97 địa phương đánh chiếm thị xã Hội An, Non Nước, sân bay Nước Mặn, phối hợp với Trung đoàn 38 diệt địch ở Mỹ Khê. 15 giờ ngày 29/3, quân ta đã chiếm toàn bộ Căn cứ Liên hợp quân sự Đà Nẵng, bán đảo Sơn Trà, giải phóng hoàn toàn thành phố Đà Nẵng và các vùng phụ cận. Kết thúc chiến dịch, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 90.000 tên, tiêu diệt ba sư đoàn bộ binh (1, 2, 3), sư đoàn thủy quân lục chiến, bốn liên đoàn biệt động quân (11, 12, 14, 15), đập tan hệ thống phòng thủ của Quân đoàn 1, Quân khu 1 ngụy, thu và phá hủy 115 máy bay, 47 tàu xuồng, 284 xe vận tải, 138 xe tăng, xe bọc thép và 69.000 súng các loại.



