Chiến dịch phòng ngự Quảng Trị năm 1972
Chiến dịch phòng ngự Quảng Trị năm 1972
Những thắng lợi trên chiến trường của ba nước Đông Dương trong 2 năm 1970, 1971 đã tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam. Đặc biệt, thắng lợi trong Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào (3-1971) đã làm rung động cả bộ máy chiến tranh của Mỹ ở Sài Gòn khiến chúng ngày càng lâm vào thế bị động.
Thành cổ Quảng Trị năm 1972. Trước tình hình đó, sau khi đánh giá tình hình, ta chủ trương tiếp tục tiến công giữ vững và phát triển thế và lực đã có, đồng thời tích cực chuẩn bị cho các cuộc tiến công lớn trong năm 1972 trên các hướng miền Đông Nam Bộ, Trị Thiên, Tây Nguyên và hình thành một cuộc tổng tiến công toàn Miền để tiêu diệt lớn quân địch và mở rộng vùng giải phóng. Tại Hội nghị Quân ủy Trung ương (6/1971), ta dự kiến ba hướng tiến công chiến lược trong năm 1972, trong đó ta xác định hướng chủ yếu số 1 là chiến trường Đông Nam Bộ, hướng chủ yếu số 2 là chiến trường Bắc Tây Nguyên, hướng phối hợp quan trọng là hướng Tây Trị Thiên. Tây Trị Thiên tuy là hướng phối hợp quan trọng nhưng lại gần miền Bắc, có điều kiện đảm bảo hậu cần, vì vậy phải gấp rút chuẩn bị để có thể đánh lớn khi cần thiết hoặc có lợi[1]. Nhưng sau đó, trước diễn biến thực tế của chiến trường, ngày 11/3/1972, Thường vụ Quân ủy Trung ương họp ra Nghị quyết chính thức phương hướng tiến hành các cuộc tiến công chiến lược năm 1972 với sự điều chỉnh như sau: Trị Thiên, hướng phối hợp quan trọng nay chuyển thành hướng chiến lược chủ yếu. Đông Nam Bộ và Bắc Tây Nguyên, hướng chủ yếu số 1, số 2 trở thành hướng phối hợp quan trọng. Đến cuối tháng 3/1972, công tác chuẩn bị cho cuộc tiến công chiến lược trên các hướng đã hoàn thành cơ bản. Từ ngày 30/3 đến 2/5/1972, sau hơn 1 tháng chiến đấu gian khổ, ác liệt, ta đã giành thắng lợi to lớn trên Mặt trận Quảng Trị. Lần đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, quân và dân ta đã giải phóng hoàn toàn một tỉnh (Quảng Trị), phá tan hệ thống phòng thủ kiên cố của địch ở Quảng Trị, đánh dấu bước trưởng thành của ba thứ quân trong tác chiến hiệp đồng binh chủng nhằm đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ. Để gỡ gạc cho những thất bại, Nguyễn Văn Thiệu tập trung lập phòng tuyến ngăn chặn sự phát triển của đối phương vào cố đô Huế; mặt khác, vạch kế hoạch phản công chiếm lại Quảng Trị. Ngày 13/6/1972, Nguyễn Văn Thiệu quyết định mở cuộc hành quân “tái chiếm Quảng Trị” lấy tên là “Lam Sơn 72”, huy động 4 sư đoàn mạnh nhất trong quân đội tay sai Sài Gòn, trong đó có 2 sư đoàn được mệnh danh là “thiên thần mũ đỏ” (sư dù) và “cọp biển” (sư lính thủy đánh bộ) thuộc lực lượng tổng dự bị quốc gia với lực lượng tương đương 13 trung đoàn bộ binh, 17 tiểu đoàn pháo binh, 5 thiết đoàn… và nhiều đơn vị không quân, pháo hạm Mỹ hỗ trợ cho cuộc hành quân “tái chiếm” này[2]. Đội hình phản công của địch hình thành hai hướng: - Hướng Tây Đường 1 (từ cầu Mỹ Chánh sang phía Tây): Sư đoàn Dù, Liên đoàn 81 Biệt kích Dù, Thiết đoàn 7 Kỵ binh, Thiết đoàn 20, Đại đội Hắc báo (Sư đoàn 1 Bộ binh), 1 tiểu đoàn pháo 155 mm, Liên đoàn 1 Địa phương quân Quảng Trị; - Hướng Đông (từ Hải Lăng đến sát biển): Sư đoàn Lính thủy đánh bộ, Thiết đoàn 18 Kỵ binh, 1 chi đoàn của Thiết đoàn 17, 1 tiểu đoàn pháo 155mm, Liên đoàn 2 Địa phương Quảng Trị; - Lực lượng dự bị: Trung đoàn 4 Bộ binh, Thiết đoàn 17 (thiếu) và 1 tiểu đoàn pháo 105mm. “Tái chiếm Quảng Trị” địch đặt hy vọng sẽ củng cố lại tinh thần, đồng thời gây sức ép với ta ở hội nghị Paris. Về quân sự, chúng hy vọng sẽ phá được cuộc tiến công của quân ta, giữ vững cố đô Huế và chiếm lại được Quảng Trị - đầu mối giao thong quan trọng nối liền Việt Nam với Trung Hạ Lào. Cuộc hành quân được địch chia làm 3 giai đoạn: Giai đoạn 1 (từ cuối tháng 5 đến trung tuần tháng 6); Giai đoạn 2 (từ cuối tháng 6 đến giữa tháng 7); Giai đoạn 3 (từ cuối tháng 7 đên giữa tháng 8). Về phía ta, sau khi giải phóng tỉnh Quảng Trị khí thế bộ đội lên cao, Bộ Tư lệnh Chiến dịch điều động lực lượng, chuẩn bị vật chất để đối phó lại với cuộc tiến công của địch. Đêm 26/6/1972, sau khi nghe báo cáo về hoạt động của địch, phán đoán địch sẽ phản công lớn, Bộ Tư lệnh Chiến dịch Trị - Thiên lệnh cho Trung đoàn 102 Sư đoàn 308 quay lại cùng Trung đoàn 66 Sư đoàn 304 chặn địch trên Đường 1 đoạn Tường Phước - Hương Điền; Sư đoàn 308 đang ở Phong Điền trở lại Bắc sông Mỹ Chánh đánh địch trên Đường 1; các sư đoàn 304, 320B điều chỉnh đội hình chiến đấu. Tuy nhiên, ý định điều chỉnh lực lượng của ta không kịp thực hiện do thời gian quá gấp, đồng thời bị không quân, pháo binh địch đánh phá ác liệt các trục đường hành quân (trừ Trung đoàn 66, không có đơn vị nào đến kịp vị trí qui định). Như vậy, việc chuyển từ trạng thái tiến công sang đánh địch phản công đã diễn ra hết sức gấp rút và không có thời gian chuẩn bị; Chiến dịch phòng ngự Quảng Trị không được tổ chức ngay từ đầu mà hình thành từng bước trong quá trình tác chiến. Chiến dịch diễn ra 3 đợt: Đợt 1: Sáng 28/6/1972, địch tiến hành cuộc hành quân “Lam Sơn 72” phản công lớn ra vùng giải phóng Quảng Trị. Sau 5 ngày phản công, địch chiếm được một vùng khá rộng, áp sát thị xã Quảng Trị. Ta đang từ thế tiến công phải điều chỉnh gấp đội hình, lui về phòng ngự. Ở hướng Đông, ta lui về tuyến sông Vĩnh Định; ở hướng Tây về giữ các điểm cao. Ngày 2/7, Đảng ủy Mặt trận đề ra chủ trương tác chiến kết hợp phản công với tiến công để tiêu diệt địch, bảo vệ vùng giải phóng, chỉ đạo các đơn vị bố trí lại lực lượng, xây dựng trận địa. Giữa tháng 7/1972, Thường vụ Quân ủy Trung ương chỉ đạo Mặt trận Trị - Thiên đánh phản công và chuyển chiến dịch vào phòng ngự. Từ 4 đến 13/7/1972, địch tổ chức đánh chiếm thị xã Quảng Trị lần 1. Ta kiên quyết ngăn chặn, đánh bại tiến công của địch, tiêu biểu là các trận ở ngã ba Long Hưng, Tích Tường, Như Lệ... Từ ngày 14 đến ngày 27/7/1972, địch tập trung tiến công lần 2 vào thị xã. Ta chặn đánh địch ở Cầu Nhi, cầu Bến Đá, núi Tường Phước, Lệ Xuyên, thành cổ Quảng Trị. Địch hình thành thế bao vây thị xã, chiếm được các khu vực làng Tri Bưu, làng Cổ Thành, Chợ Sải. Sau hai lần tiến công không thành, địch thay đổi chiến thuật từ “tiến công nhanh” sang “lấn dũi”. Quyết tâm đập tan đợt phản kích lần 3 của địch, ta đã chặn được các đợt tiến công của địch ở Nam và Tây Nam thị xã. Tháng 8/1972, địch liên tiếp mở thêm hai đợt tiến công vào thị xã và Thành cổ Quảng Trị. Cuộc chiến đấu diễn ra ngày càng quyết liệt. Ta đánh nhiều trận phản kích ở ngã ba Long Hưng, Tích Tường, Như Lệ, Tường Phước... kết hợp phòng ngự với tiến công, đánh chính diện với thọc sâu chia cắt, đánh tan từng bộ phận địch. Tháng 9/1972, địch tăng cường cho Sư đoàn Lính thủy đánh bộ 1 liên đoàn biệt động quân và 1 thiết đoàn; cho Sư đoàn 1 Dù 1 liên đoàn biệt động quân và 1 liên đội pháo binh. Sáng 7/9/1972, địch mở đầu cuộc tiến công bằng đợt hỏa lực đánh phá 48 giờ vào tất cả các trận địa của ta, tập trung xung quanh thành cổ Quảng Trị. Ta đẩy lui nhiều đợt xung phong của địch vào thành cổ, chiến đấu giành giật với địch từng mô đất, mảng tường, góc hầm... Tính đến ngày 16/9/1972, trải qua 81 ngày đêm chiến đấu ở thị xã và Thành cổ Quảng Trị, quân và dân ta trên mặt trận “lửa thép” đã vượt qua muôn vàn khó khăn, đã viết lên một trong những bản anh hùng ca tuyệt vời về sức mạnh của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, xâm lược. Đợt 2: Từ ngày 17/9 đến cuối tháng 10/1972, địch mở tiếp cuộc hành quân Lam Sơn 72A nhằm mở rộng bàn đạp ra Đông Hà - Ái Tử. Được sự chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Tư lệnh Mặt trận xác định chủ trương tác chiến lấy việc tiêu diệt địch là chủ yếu để bảo vệ và phát triển vùng giải phóng, đồng thời tranh thủ củng cố lực lượng, chuẩn bị điều kiện để mở những trận phản công đẩy lùi địch. Các khu vực phòng ngự được hình thành: Khu phía Tây từ Bắc sông Mỹ Chánh đến Nam sông Thạch Hãn và Tây Đường 1; khu phía Đông gồm hai huyện Gio Linh, Triệu Phong; khu giữa (khu phòng ngự chủ yếu) gồm các khu vực Phượng Hoàng, Ái Tử, Nhan Biều, Đông Hà, Cam Lộ. Trong tháng 10, địch tập trung 2 sư đoàn (Lính thủy đánh bộ và Dù), Liên đoàn 1 Biệt động quân, được không quân, pháo hạm của Mỹ chi viện tiến công liên tục, nhưng đều bị lực lượng phòng ngự của ta đánh bại. Đêm 1/11/1972, địch mở cuộc hành quân Sóng thần 9 vượt sông Thạch Hãn, đánh chiếm Nhan Biều, Ái Tử nhưng bị ta đánh thiệt hại nặng, buộc phải chấm dứt cuộc hành quân. Từ giữa tháng 11/1972 đến ngày 20/1/1973, địch mở tiếp 3 cuộc hành quân Sóng thần (36, 45, 18) đánh ra Đông và Nam Cửa Việt, nhưng bị ta bẻ gãy. Đợt 3: Địch điều chỉnh lực lượng, mở cuộc hành quân Tango City nhằm thực hiện kế hoạch “tràn ngập lãnh thổ”, đánh chiếm Cửa Việt. Nắm được kế hoạch của địch, 12 giờ 30 phút ngày 25/1/1973, Bộ Tư lệnh Mặt trận chỉ thị cho Bộ Tư lệnh cánh Đông chuẩn bị phương án đánh địch ra Cửa Việt. Đêm 25 và ngày 26/1/1973 không quân, pháo hạm của địch bắn phá dữ dội vào trận địa của ta; tiếp đó, bộ binh và xe tăng địch thực hành tiến công. Cuộc chiến đấu giành giật giữa ta và địch diễn ra quyết liệt, cuối cùng địch buộc phải co lại thành 4 cụm dọc bờ biển từ Nam Cửa Việt đến Vĩnh Hòa. Được tăng cường lực lượng, ngày 30/1/1973, ta tổ chức lại đội hình phản đột kích. Bộ phận chặn đầu gồm Trung đoàn 48, 2 đại đội của Trung đoàn 101, bộ phận K5 Hải quân và một bộ phận công binh Sư đoàn 320B có nhiệm vụ giữ khu vực cảng, kiên quyết ngăn chặn không cho địch phát triển vào Cửa Việt. Bộ phận chia cắt (khoá đuôi) gồm Trung đoàn 64 (thiếu), Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 24, Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 101 bố trí ở Vĩnh Hòa, đánh địch tăng viện từ Thanh Hội lên và chặn địch rút chạy từ Cửa Việt xuống. Sáng 31/1/1973, ta sử dụng 5 tiểu đoàn bộ binh và xe tăng của bộ phận chủ lực kết hợp với lực lượng chốt thực hành phản đột kích vào quân địch ở phía Nam cảng Cửa Việt. Đến 8 giờ 30 phút, ta tiêu diệt 2 cụm quân địch ở Nam Cửa Việt và Bắc Vĩnh Hòa, sau đó phát triển tiến công diệt quân địch ở Nam Vĩnh Hòa và Bắc Thanh Hội; khôi phục lại toàn bộ trận địa phòng ngự ở cảng Cửa Việt. 12 giờ 30 phút ngày 31/1/1973, Bộ Tư lệnh Mặt trận ra lệnh ngừng tiến công, kết thúc chiến dịch phòng ngự, chuyển sang thế bố trí mới để tiến hành cuộc đấu tranh chống địch lấn chiếm, giữ vững vùng giải phóng. 50 năm đã trôi qua, cuộc chiến đấu giải phóng tỉnh Quảng Trị và bảo vệ Thành cổ năm 1972 vẫn luôn có giá trị và ý nghĩa lịch sử sâu sắc, thiên anh hùng ca bất hủ của chiến tranh nhân dân Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Đây là thắng lợi của sự chỉ đạo chiến lược đúng đắn, chỉ huy chiến dịch kiên quyết, sáng tạo của Đảng ủy và Bộ Tư lệnh chiến dịch. Chiến thắng một lần nữa khẳng định ý chí quyết chiến, quyết thắng tuyệt vời của quân và dân Quảng Trị. Những bài học rút ra từ chiến dịch đã được vận dụng sáng tạo vào chặng đường cách mạng tiếp theo, cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay./.
Thành cổ Quảng Trị năm 1972. Trước tình hình đó, sau khi đánh giá tình hình, ta chủ trương tiếp tục tiến công giữ vững và phát triển thế và lực đã có, đồng thời tích cực chuẩn bị cho các cuộc tiến công lớn trong năm 1972 trên các hướng miền Đông Nam Bộ, Trị Thiên, Tây Nguyên và hình thành một cuộc tổng tiến công toàn Miền để tiêu diệt lớn quân địch và mở rộng vùng giải phóng. Tại Hội nghị Quân ủy Trung ương (6/1971), ta dự kiến ba hướng tiến công chiến lược trong năm 1972, trong đó ta xác định hướng chủ yếu số 1 là chiến trường Đông Nam Bộ, hướng chủ yếu số 2 là chiến trường Bắc Tây Nguyên, hướng phối hợp quan trọng là hướng Tây Trị Thiên. Tây Trị Thiên tuy là hướng phối hợp quan trọng nhưng lại gần miền Bắc, có điều kiện đảm bảo hậu cần, vì vậy phải gấp rút chuẩn bị để có thể đánh lớn khi cần thiết hoặc có lợi[1]. Nhưng sau đó, trước diễn biến thực tế của chiến trường, ngày 11/3/1972, Thường vụ Quân ủy Trung ương họp ra Nghị quyết chính thức phương hướng tiến hành các cuộc tiến công chiến lược năm 1972 với sự điều chỉnh như sau: Trị Thiên, hướng phối hợp quan trọng nay chuyển thành hướng chiến lược chủ yếu. Đông Nam Bộ và Bắc Tây Nguyên, hướng chủ yếu số 1, số 2 trở thành hướng phối hợp quan trọng. Đến cuối tháng 3/1972, công tác chuẩn bị cho cuộc tiến công chiến lược trên các hướng đã hoàn thành cơ bản. Từ ngày 30/3 đến 2/5/1972, sau hơn 1 tháng chiến đấu gian khổ, ác liệt, ta đã giành thắng lợi to lớn trên Mặt trận Quảng Trị. Lần đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, quân và dân ta đã giải phóng hoàn toàn một tỉnh (Quảng Trị), phá tan hệ thống phòng thủ kiên cố của địch ở Quảng Trị, đánh dấu bước trưởng thành của ba thứ quân trong tác chiến hiệp đồng binh chủng nhằm đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ. Để gỡ gạc cho những thất bại, Nguyễn Văn Thiệu tập trung lập phòng tuyến ngăn chặn sự phát triển của đối phương vào cố đô Huế; mặt khác, vạch kế hoạch phản công chiếm lại Quảng Trị. Ngày 13/6/1972, Nguyễn Văn Thiệu quyết định mở cuộc hành quân “tái chiếm Quảng Trị” lấy tên là “Lam Sơn 72”, huy động 4 sư đoàn mạnh nhất trong quân đội tay sai Sài Gòn, trong đó có 2 sư đoàn được mệnh danh là “thiên thần mũ đỏ” (sư dù) và “cọp biển” (sư lính thủy đánh bộ) thuộc lực lượng tổng dự bị quốc gia với lực lượng tương đương 13 trung đoàn bộ binh, 17 tiểu đoàn pháo binh, 5 thiết đoàn… và nhiều đơn vị không quân, pháo hạm Mỹ hỗ trợ cho cuộc hành quân “tái chiếm” này[2]. Đội hình phản công của địch hình thành hai hướng: - Hướng Tây Đường 1 (từ cầu Mỹ Chánh sang phía Tây): Sư đoàn Dù, Liên đoàn 81 Biệt kích Dù, Thiết đoàn 7 Kỵ binh, Thiết đoàn 20, Đại đội Hắc báo (Sư đoàn 1 Bộ binh), 1 tiểu đoàn pháo 155 mm, Liên đoàn 1 Địa phương quân Quảng Trị; - Hướng Đông (từ Hải Lăng đến sát biển): Sư đoàn Lính thủy đánh bộ, Thiết đoàn 18 Kỵ binh, 1 chi đoàn của Thiết đoàn 17, 1 tiểu đoàn pháo 155mm, Liên đoàn 2 Địa phương Quảng Trị; - Lực lượng dự bị: Trung đoàn 4 Bộ binh, Thiết đoàn 17 (thiếu) và 1 tiểu đoàn pháo 105mm. “Tái chiếm Quảng Trị” địch đặt hy vọng sẽ củng cố lại tinh thần, đồng thời gây sức ép với ta ở hội nghị Paris. Về quân sự, chúng hy vọng sẽ phá được cuộc tiến công của quân ta, giữ vững cố đô Huế và chiếm lại được Quảng Trị - đầu mối giao thong quan trọng nối liền Việt Nam với Trung Hạ Lào. Cuộc hành quân được địch chia làm 3 giai đoạn: Giai đoạn 1 (từ cuối tháng 5 đến trung tuần tháng 6); Giai đoạn 2 (từ cuối tháng 6 đến giữa tháng 7); Giai đoạn 3 (từ cuối tháng 7 đên giữa tháng 8). Về phía ta, sau khi giải phóng tỉnh Quảng Trị khí thế bộ đội lên cao, Bộ Tư lệnh Chiến dịch điều động lực lượng, chuẩn bị vật chất để đối phó lại với cuộc tiến công của địch. Đêm 26/6/1972, sau khi nghe báo cáo về hoạt động của địch, phán đoán địch sẽ phản công lớn, Bộ Tư lệnh Chiến dịch Trị - Thiên lệnh cho Trung đoàn 102 Sư đoàn 308 quay lại cùng Trung đoàn 66 Sư đoàn 304 chặn địch trên Đường 1 đoạn Tường Phước - Hương Điền; Sư đoàn 308 đang ở Phong Điền trở lại Bắc sông Mỹ Chánh đánh địch trên Đường 1; các sư đoàn 304, 320B điều chỉnh đội hình chiến đấu. Tuy nhiên, ý định điều chỉnh lực lượng của ta không kịp thực hiện do thời gian quá gấp, đồng thời bị không quân, pháo binh địch đánh phá ác liệt các trục đường hành quân (trừ Trung đoàn 66, không có đơn vị nào đến kịp vị trí qui định). Như vậy, việc chuyển từ trạng thái tiến công sang đánh địch phản công đã diễn ra hết sức gấp rút và không có thời gian chuẩn bị; Chiến dịch phòng ngự Quảng Trị không được tổ chức ngay từ đầu mà hình thành từng bước trong quá trình tác chiến. Chiến dịch diễn ra 3 đợt: Đợt 1: Sáng 28/6/1972, địch tiến hành cuộc hành quân “Lam Sơn 72” phản công lớn ra vùng giải phóng Quảng Trị. Sau 5 ngày phản công, địch chiếm được một vùng khá rộng, áp sát thị xã Quảng Trị. Ta đang từ thế tiến công phải điều chỉnh gấp đội hình, lui về phòng ngự. Ở hướng Đông, ta lui về tuyến sông Vĩnh Định; ở hướng Tây về giữ các điểm cao. Ngày 2/7, Đảng ủy Mặt trận đề ra chủ trương tác chiến kết hợp phản công với tiến công để tiêu diệt địch, bảo vệ vùng giải phóng, chỉ đạo các đơn vị bố trí lại lực lượng, xây dựng trận địa. Giữa tháng 7/1972, Thường vụ Quân ủy Trung ương chỉ đạo Mặt trận Trị - Thiên đánh phản công và chuyển chiến dịch vào phòng ngự. Từ 4 đến 13/7/1972, địch tổ chức đánh chiếm thị xã Quảng Trị lần 1. Ta kiên quyết ngăn chặn, đánh bại tiến công của địch, tiêu biểu là các trận ở ngã ba Long Hưng, Tích Tường, Như Lệ... Từ ngày 14 đến ngày 27/7/1972, địch tập trung tiến công lần 2 vào thị xã. Ta chặn đánh địch ở Cầu Nhi, cầu Bến Đá, núi Tường Phước, Lệ Xuyên, thành cổ Quảng Trị. Địch hình thành thế bao vây thị xã, chiếm được các khu vực làng Tri Bưu, làng Cổ Thành, Chợ Sải. Sau hai lần tiến công không thành, địch thay đổi chiến thuật từ “tiến công nhanh” sang “lấn dũi”. Quyết tâm đập tan đợt phản kích lần 3 của địch, ta đã chặn được các đợt tiến công của địch ở Nam và Tây Nam thị xã. Tháng 8/1972, địch liên tiếp mở thêm hai đợt tiến công vào thị xã và Thành cổ Quảng Trị. Cuộc chiến đấu diễn ra ngày càng quyết liệt. Ta đánh nhiều trận phản kích ở ngã ba Long Hưng, Tích Tường, Như Lệ, Tường Phước... kết hợp phòng ngự với tiến công, đánh chính diện với thọc sâu chia cắt, đánh tan từng bộ phận địch. Tháng 9/1972, địch tăng cường cho Sư đoàn Lính thủy đánh bộ 1 liên đoàn biệt động quân và 1 thiết đoàn; cho Sư đoàn 1 Dù 1 liên đoàn biệt động quân và 1 liên đội pháo binh. Sáng 7/9/1972, địch mở đầu cuộc tiến công bằng đợt hỏa lực đánh phá 48 giờ vào tất cả các trận địa của ta, tập trung xung quanh thành cổ Quảng Trị. Ta đẩy lui nhiều đợt xung phong của địch vào thành cổ, chiến đấu giành giật với địch từng mô đất, mảng tường, góc hầm... Tính đến ngày 16/9/1972, trải qua 81 ngày đêm chiến đấu ở thị xã và Thành cổ Quảng Trị, quân và dân ta trên mặt trận “lửa thép” đã vượt qua muôn vàn khó khăn, đã viết lên một trong những bản anh hùng ca tuyệt vời về sức mạnh của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, xâm lược. Đợt 2: Từ ngày 17/9 đến cuối tháng 10/1972, địch mở tiếp cuộc hành quân Lam Sơn 72A nhằm mở rộng bàn đạp ra Đông Hà - Ái Tử. Được sự chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Tư lệnh Mặt trận xác định chủ trương tác chiến lấy việc tiêu diệt địch là chủ yếu để bảo vệ và phát triển vùng giải phóng, đồng thời tranh thủ củng cố lực lượng, chuẩn bị điều kiện để mở những trận phản công đẩy lùi địch. Các khu vực phòng ngự được hình thành: Khu phía Tây từ Bắc sông Mỹ Chánh đến Nam sông Thạch Hãn và Tây Đường 1; khu phía Đông gồm hai huyện Gio Linh, Triệu Phong; khu giữa (khu phòng ngự chủ yếu) gồm các khu vực Phượng Hoàng, Ái Tử, Nhan Biều, Đông Hà, Cam Lộ. Trong tháng 10, địch tập trung 2 sư đoàn (Lính thủy đánh bộ và Dù), Liên đoàn 1 Biệt động quân, được không quân, pháo hạm của Mỹ chi viện tiến công liên tục, nhưng đều bị lực lượng phòng ngự của ta đánh bại. Đêm 1/11/1972, địch mở cuộc hành quân Sóng thần 9 vượt sông Thạch Hãn, đánh chiếm Nhan Biều, Ái Tử nhưng bị ta đánh thiệt hại nặng, buộc phải chấm dứt cuộc hành quân. Từ giữa tháng 11/1972 đến ngày 20/1/1973, địch mở tiếp 3 cuộc hành quân Sóng thần (36, 45, 18) đánh ra Đông và Nam Cửa Việt, nhưng bị ta bẻ gãy. Đợt 3: Địch điều chỉnh lực lượng, mở cuộc hành quân Tango City nhằm thực hiện kế hoạch “tràn ngập lãnh thổ”, đánh chiếm Cửa Việt. Nắm được kế hoạch của địch, 12 giờ 30 phút ngày 25/1/1973, Bộ Tư lệnh Mặt trận chỉ thị cho Bộ Tư lệnh cánh Đông chuẩn bị phương án đánh địch ra Cửa Việt. Đêm 25 và ngày 26/1/1973 không quân, pháo hạm của địch bắn phá dữ dội vào trận địa của ta; tiếp đó, bộ binh và xe tăng địch thực hành tiến công. Cuộc chiến đấu giành giật giữa ta và địch diễn ra quyết liệt, cuối cùng địch buộc phải co lại thành 4 cụm dọc bờ biển từ Nam Cửa Việt đến Vĩnh Hòa. Được tăng cường lực lượng, ngày 30/1/1973, ta tổ chức lại đội hình phản đột kích. Bộ phận chặn đầu gồm Trung đoàn 48, 2 đại đội của Trung đoàn 101, bộ phận K5 Hải quân và một bộ phận công binh Sư đoàn 320B có nhiệm vụ giữ khu vực cảng, kiên quyết ngăn chặn không cho địch phát triển vào Cửa Việt. Bộ phận chia cắt (khoá đuôi) gồm Trung đoàn 64 (thiếu), Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 24, Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 101 bố trí ở Vĩnh Hòa, đánh địch tăng viện từ Thanh Hội lên và chặn địch rút chạy từ Cửa Việt xuống. Sáng 31/1/1973, ta sử dụng 5 tiểu đoàn bộ binh và xe tăng của bộ phận chủ lực kết hợp với lực lượng chốt thực hành phản đột kích vào quân địch ở phía Nam cảng Cửa Việt. Đến 8 giờ 30 phút, ta tiêu diệt 2 cụm quân địch ở Nam Cửa Việt và Bắc Vĩnh Hòa, sau đó phát triển tiến công diệt quân địch ở Nam Vĩnh Hòa và Bắc Thanh Hội; khôi phục lại toàn bộ trận địa phòng ngự ở cảng Cửa Việt. 12 giờ 30 phút ngày 31/1/1973, Bộ Tư lệnh Mặt trận ra lệnh ngừng tiến công, kết thúc chiến dịch phòng ngự, chuyển sang thế bố trí mới để tiến hành cuộc đấu tranh chống địch lấn chiếm, giữ vững vùng giải phóng. 50 năm đã trôi qua, cuộc chiến đấu giải phóng tỉnh Quảng Trị và bảo vệ Thành cổ năm 1972 vẫn luôn có giá trị và ý nghĩa lịch sử sâu sắc, thiên anh hùng ca bất hủ của chiến tranh nhân dân Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Đây là thắng lợi của sự chỉ đạo chiến lược đúng đắn, chỉ huy chiến dịch kiên quyết, sáng tạo của Đảng ủy và Bộ Tư lệnh chiến dịch. Chiến thắng một lần nữa khẳng định ý chí quyết chiến, quyết thắng tuyệt vời của quân và dân Quảng Trị. Những bài học rút ra từ chiến dịch đã được vận dụng sáng tạo vào chặng đường cách mạng tiếp theo, cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay./.


