CHIẾN SĨ ĐIỆN BIÊN GAN KHÔNG NÚNG, CHÍ KHÔNG MÒN
Có lần nhà văn Hà Lâm Kỳ nói với đồng nghiệp, đại ý “trách nhiệm của chúng ta cần phải viết, phải ghi lại hình ảnh của những cựu chiến binh và những người có công qua các thời kỳ kháng chiến giữ nước của dân tộc…
Có lần nhà văn Hà Lâm Kỳ nói với đồng nghiệp, đại ý “trách nhiệm của chúng ta cần phải viết, phải ghi lại hình ảnh của những cựu chiến binh và những người có công qua các thời kỳ kháng chiến giữ nước của dân tộc…
Việc này gấp lắm!…”.
Tôi vội nhận ra, trên địa bàn quanh nơi tôi sinh sống số lượng Bộ đội Cụ Hồ thời kháng chiến chống thực dân Pháp có còn mấy đâu! Số cựu chiến binh tham gia chống Mỹ cũng đang vơi dần…! Điều đó thôi thúc tôi cầm bút, tôi đã đến một địa danh mà những tháng năm xưa có 440 cán bộ chiến sĩ sau khi thắng trận Điện Biên năm 1954 được cử về đây xây dựng nông trường. Đó là Thị trấn Nông trường Nghĩa Lộ cũ, nay thuộc phường Trung Tâm tỉnh Lào Cai mới.
Người chiến sĩ ấy!
Từ trong căn nhà gỗ đã cũ ở tổ 17 phường Trung Tâm, cựu chiến binh Nguyễn Văn Thao chỉnh tề trong bộ quân phục màu xanh ngực lấp lánh huân chương ra đón khách. Ông sinh năm 1930, nay đã tuổi 95 nhưng vẫn giữ được cái dáng nhanh nhẹn của một lão nông, ông vừa ra vườn đánh một gốc cau trồng sang bên này cho cân đối với cây cau kia, con cháu không cho làm nhưng tự thấy mình còn nhúc nhắc được thì cứ làm cho khỏe. Ông tươi cười khoe như vậy rồi cùng chúng tôi ôn lại một thời kỳ hào hùng của tuổi trẻ. Năm 1952 ông đi bộ đội thuộc sư đoàn 316 tham gia Hòa bình lập lại ở Miền Bắc ông Nguyễn Văn Thao cùng đồng đội về Nghĩa Lộ xây dựng nông trường, ngày 01 tháng 01 năm 1961 toàn Trung đoàn được làm lễ hạ sao và trở thành công nhân. Ngày 08/3/1967 Bộ Nội vụ đã có quyết định thành lập Thị trấn Nông trường Nghĩa Lộ. Người chiến sĩ ấy một thời “gan không núng, chí không mòn” cho đến tận bây giờ, khi tuổi đã xế chiều nhưng tinh thần tiên công vẫn “không mòn”, từ khi còn làm công nhân nông trường cho đến lúc nghỉ chế độ ông luôn cố vấn, tham mưu đắc lực cho đảng ủy và chính quyền địa phương trong quá trình phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội. Đặc biệt trong gia đình 4 thế hệ đang sinh sống ông luôn tự hào về truyền thống gia đình với 3 người con trai, con rể và 2 đứa cháu đều là sĩ quan quân đội “lớp cha trước, lớp con sau” cùng tham gia chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.
Cùng với Ban liên lạc chiến sĩ Điện Biên.
Đồng chí Trần Xuân Kha, nguyên chủ tịch Hội Cựu chiến binh thị xã Nghĩa Lộ nay đang nghỉ hưu tại tổ 17 cho biết hiện nay Ban liên lạc chiến sĩ Điện Biên chỉ còn 7 đồng chí, tất cả đều trên 90 tuổi, nhiều người sức đã yếu nhưng các cụ vẫn thường xuyên thông tin, thăm hỏi nhau khi có thể. Không bỏ lỡ cơ hội, tôi đã dành thời gian gặp gỡ những nhân chứng lịch sử mà tôi gọi đó là từng giọt nhựa sống được tích tụ, được cô lại như “cánh kiến hoa vàng”. Với tôi, mỗi cựu chiến binh - chiến sĩ Điện Biên như những gốc trầm tích đá, đang và mãi mãi tỏa hương, tô đẹp trang sử vàng của dân tộc anh hùng!
Đến đội Đồng Lú, tôi được gặp Cựu chiến binh chống Pháp Trần Văn Khắc, cũng ở tuổi 95 nhưng ông vẫn minh mẫn và say mê ôn về miền ký ức hào hùng. Năm 1951 ông tình nguyện đi bộ đội, vì biết chữ, biết tính toán nên được…đơn vị cử sang nước bạn học về kỹ thuật pháo cao xạ. Năm 1952 trở về Trung đoàn 367 thuộc Bộ Quốc phòng tham gia chiến dịch Tây Bắc và được trực tiếp tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ. Theo lời kể của ông, những thước phim tư liệu sống về đơn vị pháo 37 năm ấy như được chiếu qua trước mắt tôi, hình ảnh những chiến sĩ “năm mươi sáu ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt, máu trộn bùn non…”, hiện hữu. Và không phải trên phim ảnh, không phải trong thơ, cũng không còn trong mơ… Người chiến sĩ ấy tối vừa được bắt tay thân thiện, bàn tay chai sạn từ thuở kéo pháo vào trận địa cho đến những ngày tay dao, tay cuốc, tay cày biến đất cằn sỏi đá thành vùng đất trù phú, mỡ màu hôm nay trên nông trường chè Nghĩa Lộ. Dù rất khiêm tốn nhưng không dấu nổi niềm tự hào khi ông cười mà khoe rằng dòng họ kể từ ông đã bốn đời gắn bó với quê núi, ông có hai người con trai và một thằng cháu nội cùng theo binh nghiệp. Nay ông đã có đàn cháu, chắt và kỳ vọng đời cháu chắt sẽ còn làm nên những kỳ tích mới đẹp đẽ hơn nhiều.
Ông nói, hơn 440 anh bộ đội ngày ấy từ Điện Biên về đây xây miền quê mới giờ đa số đã khuất núi, còn lại mấy người bạn chiến đấu cùng vào sinh ra tử vẫn bám trụ ở đây, họ thường lui tới nhà nhau và chuyện xưa vẫn râm ran. Người già hay hoài niệm, mà mỗi lần hoài niệm về thời chinh chiến chúng tôi lại thấy mình khỏe ra!
Rất may vừa lúc có 2 cựu chiến binh trong Ban liên lạc chiến sĩ Điện Biên tới nhà đồng đội chơi, đó là ông Lê Văn Chiến và ông Hứa Văn Điền. Những câu chuyện chiến đấu năm xưa lại trở về thật sống động. Ông Lê Văn Chiến, Trưởng Ban liên lạc nói: “Chúng tôi nay đã già, hay quên, nhưng quên gì thì quên chứ ký ức chiến tranh thì không thể nào quên được!”. Ông không thể quên đêm 12/3/1954, đêm đầu tiên đại đội 59 thuộc trung đoàn 57 thức đào giao thông hào trên trận địa. Thỉnh thoảng một đợt pháo kích của địch bắn từ phía Mường Thanh, Hồng Cúm nã tới, đạn pháo bay vun vút trên đầu, một số bị thương nhẹ. Trên đầu máy bay liên tục lượn vòng thả từng chùm pháo sáng. Các chiến sĩ lưng đeo lá ngụy trang nằm ép xuống tránh bị phát hiện, máy bay rút đi anh em lại ngồi lên khoét đất mở thông hào.
Anh em chưa kịp nhận cơm thì từ phía trước mặt tiếng động cơ xe tăng mỗi lúc một gần, một đàn xe tăng và chừng hai tiểu đoàn lính có phi pháo yểm trợ đang ào ào đi tới. Bên ta chỉ có một đại đội, ai nấy đều mệt mỏi vì đói và mất ngủ cả đêm nhưng lòng sôi sục căm thù đã làm quên đi mệt mỏi. Mặt bụi bám sạm đen nhưng mắt vẫn ngắm trúng từng tên địch để nhả đạn.
Trận giao tranh kéo dài từ sáng sớm đến hơn hai giờ chiều chưa dứt. Địch tràn vào lại bị quân ta đánh bật ra. Ông Chiến lúc đó là tiểu đội trưởng thỉnh thoảng chồm lên ném lựu đạn vào đội hình địch rồi lại nhảy chúi xuống giao thông hào bắn yểm trợ cho đồng đội. Súng hết đạn, lựu đạn cũng hết, thấy trên mép đường hầm một đồng đội trúng đạn đã hy sinh, nén đau thương ông bò nhanh tới lật người đồng đội gỡ lấy quả thủ pháo nằm chờ xe tăng địch tới gần để tiêu diệt. Ông nhìn rõ chiếc xe tăng bị xé toác buồng lái xoáy một vòng rồi lật nhào…
Hôm đó quân ta đã tiêu diệt và bắt sống hơn 100 tên địch. Đại đội 59 được đề nghị tặng thưởng Huân chương Quân công hạng III. Ngày 29/3/1954 cũng là một ngày đáng nhớ. Dưới căn hầm đá…Chiến, ông được tổ Đảng 23 mời dự họp và Bí thư chi bộ đã long trọng tuyên bố quyết định kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam và được đề nghị Đại đoàn tặng bằng khen và được Bác Hồ tặng huy hiệu.
Còn cựu chiến binh Hứa Văn Diên ở tuổi 94, khi được hỏi về ký ức Điện Biên ông hào hứng kể mà không hề vấp. Nhập ngũ năm 1952, ông được biên chế vào C136, D130, E209, F312. Ông nói, điều vinh dự tự hào nhất là được đánh trận mở màn chiến dịch ngày 13/3/1954 vào cứ điểm Him Lam. Trước đó đơn vị được quán triệt mệnh lệnh “Đánh chắc! Tiến chắc!” và lẽ ra lực lượng công kiên mở màn sẽ do Đại đoàn 308 hoặc 316 làm chủ công, nhưng vì cả hai đơn vị đó vừa truy kích quân Pháp ở bên Lào nên lần này Đại tướng Võ Nguyên Giáp giao nhiệm vụ cho Đại đoàn 312 do Đại đoàn trưởng Lê Trọng Tấn chỉ huy mặc dù đại đoàn cũng khá mệt mỏi vì vừa phải kéo pháo vào rồi lại kéo pháo ra, phải xây dựng trận địa ở vị trí xung yếu. Để đảm bảo tinh thần “trận đầu phải thắng!”, ban tham mưu Quân đội đã bố trí một lực lượng mạnh gấp 3 lần, có kế hoạch bố trí phòng pháo cùng với pháo phòng không, pháo phản kích. Trận địa pháo của đại đoàn được xây dựng trên cao, đào hầm và ngụy trang rất kỹ càng có thể quan sát xuống cứ điểm Him Lam, một trung tâm đề kháng mạnh nhất của tập đoàn cứ điểm Điện Biên. Trong hồi tưởng của ông, từ khoảng 8 giờ sáng máy bay Dakota của quân Pháp vừa hạ cánh xuống sân bay đã bị ta bắn trúng bốc cháy ngùn ngụt, tức thì chúng cho bộ binh và xe tăng từ Mường Thanh tiến ra nhằm đánh vào trận địa xuất phát của ta. Khoảng hơn 5 giờ chiều, nhận được lệnh của Đại tướng Võ…Nguyên Giáp, các đon vị đồng loạt ngăm bán hòa lực vàocử điểm Him Lam, nhìn rõ khói pháo bao trùm lên các đồnbốt giặc. Thấy bị nã pháo liên tiếp xe tăng và bộ binh địchtừ Mường Thanh phải nhanh chóng rút lui, bô binh ta thừaco hiệp đồng xung phong tiến đánh cụm cứ điểm trên đồiHim Lam. Anh em hà hê lắm! Sau đó được lệnh yềêm hộcùng bộ binh đặt pháo ngay trước cứ điểm để bắn trực tiếpvào các lô cốt cùng với đơn vị trợ chiến chi viện cho bộbình tiến lên đặt ống thuốc nổ mở cửa đột phá. Như vậy làchỉ sau khoảng 40 phút trung đội bộc phá đã dọn sach conđường xuyên qua hàng rào dây thép gai và bãi mìn cho bộđội ta tổng tiến công. Đợt 1 này kéo dài đến ngày 17/3 quânta đã làm chủ đồi Him Lam, đồi Độc Lập và Bản Kéo.Ôngcòn kể những ngày đêm giằng co với địch cua dọt 2 suôt từ30/3 cho tói 30/4 ở Muòng Thanh,dôi C1, đôi Al và đọtcao diểm thứ 3 từ ngày 1/5 đến 7/5/1954... Bất chọt ôngdúng lên dang tay hát “Hôm qua đánh trân Ðiên Biên,chiên hào xuât kich, dôi Him Lam ta tién vào...!Di moduòng thǎng loi, ta đã đỗ mồ hôi ta tói dây, quyét tiêu diệtcho hêt quân thù...!” (Bài hát “Trên đồi Him Lam” củanhạc sĩ Đỗ Nhuận). Ông cười rất tươi rồi vỗ vào vai tôi nóithông cảm cho ông nhé! Già rồi hát không hay nhung bàihát này cả đơn vị hầu như ai cũng thuộc,vì có mình trongđó, vui sướng lắm! Vâng ông ơi, chúng con đã nhiều lầnnghe ca sĩ hát bài này nhưng hôm nay trong tiêng hát củaông con đã nghe thấy cả tiếng pháo rền của hơn 70 nǎmtruớc, nghe thấy tiếng kèn xung trận và cả tiếng reo mừngchiến thắng của bao chiến sĩ đã “Quyết tử cho Tổ quốcquyết sinh!”. Ði giữa màu xanh yêu thương và sức sống mói cúacánh đồng Mường Lò luôn mang đậm dáu ấn của nhữnganh bộ đội Cụ Hồ, những người từng làm nên chiến thắngĐiện Biên lừng lẫy năm châu, chấn động dia cầu. Các anhđã nghe theo lời Đảng và Bác Hồ cùng tụ hội về miền đấtmột thời lau sậy này để chung tay xây dựng nên vùng kinhtế mới. Đồng chí Trần Xuân Kha tự hào cho biết, Ban liênlạc chiến sĩ Điện Biên luôn là lực lượng cố vấn đắc lực chocấp ủy, chính quyền qua các thời kỳ trong công tác lãnhđạo phát triển kinh tế - văn hóa để xây dụng địa phươngngày càng vũng mạnh. Đúng là những chiến sĩ Điện Biêndù trong bát cứ hoàn canh nào, thòi kỳ nào vẫn luôn toasáng phẩm chất “Anh bộ đội Cụ Hồ”. Họ luôn là nhữngngười lính tiên phong trên mọi mặt trân và luôn thê hiêntinh thần “gan không núng, chí không mòn”. Tôi thât sựcảm phục và biết ơn các cựu chiến sĩ Điện Biên hôm nay,những người đã góp phần làm nên huyên thoại về khúctráng ca bât tử Điên Biên phu anh hùng!



