CHIẾN SĨ GIỮ THÀNH CỔ QUẢNG TRỊ
Hồi ức của người lính trực tiếp tham gia 81 ngày đêm chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị – một trong những chiến trường khốc liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Nhắc đến Thành cổ Quảng Trị, ông Nguyễn Văn Bình không bao giờ dùng từ “trận đánh”. Ông gọi đó là “những ngày sống trong lửa”. Bởi ở nơi ấy, bom đạn không chỉ rơi theo đợt, mà trút xuống liên hồi suốt ngày đêm, biến từng mét đất thành chiến trường sinh tử.
Ông Bình nhập ngũ năm 1968, sau một đợt động viên lớn tại quê nhà. Đến năm 1972, đơn vị ông được điều vào chiến trường Trị – Thiên, tham gia giữ Thành cổ. Khi đặt chân vào khu vực này, ông mới hiểu thế nào là chiến tranh hiện đại khốc liệt: pháo hạm ngoài biển, máy bay trên không, pháo binh tầm xa bắn dồn dập.
Thành cổ khi ấy không còn là những bức tường nguyên vẹn. Đất đá bị cày xới, hầm hào chằng chịt. Bộ đội phải đào công sự ngay dưới làn pháo, vừa đào vừa tránh mảnh bom. Có ngày, đất vừa xúc lên đã bị bom đánh sập, lại phải đào lại từ đầu.
Sinh hoạt trong Thành cổ vô cùng gian khổ. Nước uống khan hiếm, phải hứng nước mưa hoặc lọc từ hố bom. Lương thực tiếp tế khó khăn, mỗi bữa chỉ vài nắm cơm trộn muối. Ban ngày hầu như không thể ngẩng đầu lên khỏi hầm vì máy bay trinh sát lượn liên tục.
Điều ám ảnh nhất với ông Bình là mất mát đồng đội. Có những người sáng còn ngồi ăn cơm cùng nhau, chiều đã không còn. Có hầm bị bom đánh trúng, cả tiểu đội hy sinh. Nhưng những người còn lại không được phép gục ngã, vì trận địa phải giữ.
Trong 81 ngày đêm, đơn vị ông nhiều lần bị đánh bật khỏi vị trí rồi lại xông lên chiếm lại từng mét đất. Có những lúc tưởng như không thể trụ nổi, nhưng mệnh lệnh giữ Thành cổ vang lên như mệnh lệnh từ trái tim. “Nếu mình rút, ai giữ?” – ông Bình nhớ lại câu hỏi tự hỏi mình trong đêm.
Khi chiến sự lắng xuống, Thành cổ chỉ còn là đống đổ nát. Ông Bình sống sót trở về, mang theo những vết thương và ký ức nặng trĩu. Với ông, giữ Thành cổ Quảng Trị không chỉ là nhiệm vụ quân sự, mà là sự hy sinh của cả một thế hệ, những người đã gửi tuổi trẻ lại bên dòng Thạch Hãn.



