Tôi nhập ngũ ngày 18 tháng 4 nảm 1970. Sáng hôm ấy xã tập trung thanh niên nhập ngũ. Đi đợt này xã có 11 anh em. Thôn Vũ Xá 9 đứa gồm: Lịch, Vi, Thoan, Yên, Viễn, Cao Yên, Đúc, Vinh và tôi. Thôn Phượng Hoàng có anh Hoạt, thôn Pháp Chế có cậu Lấp. Dự lễ tiễn có đông đủ các cơ quan đoàn thể và bà con. Tôi được thay mặt những người ra đi phát biểu ý kiến. Tôi hứa trước Đảng bộ, Ủy ban và nhân dân xã nhà rằng: sẽ đi đến nơi, làm tốt nhiệm vụ của người chiến sĩ để xứng đáng với truyền thống cách mạng của quê hương.
Chúng tôi được người nhà đèo xe đạp đi đến nơi tập trung của huyện tại sân kho xã Hiệp Sơn. Bà con Hiệp Sơn dự lễ ra quân rất đông, kín cả sân kho. Tôi thấy nhiều bạn cùng lớp cũng có mặt đưa tiễn, một số bạn cùng đợt nhập ngũ đó là: Vằng, Lâm, Thiều, Dũng và mấy bạn khác nữa.
Tôi được biên chế về một đơn vị bộ binh, cùng với số anh em trong xã. Cậu Vằng, Lâm cùng lớp được biên chế về đơn vị đặc công.
Sau khi biên chế xong, chúng tôi được lệnh hành quân. Đơn vị tôi là Đại đội 4, Tiểu đoàn 629, Trung đoàn 2 tỉnh đội Hải Dương. Đại đội trưởng là anh Nguyễn Xuân Kính, anh Đặng Thanh Vân chính trị viên, anh Nguyễn Khánh Toàn chính trị viên phó, anh Nguyễn Văn Mịch đại đội phó. Đại đội hành quân bộ qua phà Thái, theo đường số 5, đến ngã ba Hàng, rẽ phải qua bến Bình sang đường 18, qua Sao Đỏ rồi dừng lại ở thôn Thạch Thủy, xã cổ Thành, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương và đóng quân tại đó.
Thạch Thủy là một xóm nhỏ, con đường 18 chạy chia đôi làng. Ruộng để cấy lúa ít, phần nhiều là đồi, trồng màu, khoai, sắn... Các khu đồi núi cao được trồng các loại bạch đàn, liễu, cây đã lớn tạo nên những cánh rừng đẹp đẽ. Nhân dân Thạch Thủy yêu quý bộ đội. Mới vào lính xa nhà non nớt và bỡ ngờ, nay được chăm nom chu đáo, tôi bất giác liên tưởng đến câu thơ của Tố Hữu:
"Có bà cụ từ tâm làm mẹ Yêu quý con như đẻ con ra Cho con nào áo, nào quà Cho củi con sưởi, cho nhà con ngơi".
Sáu tháng huấn luyện, trong hoàn cảnh nước ta những ngày ấy bà con nhân dân tính theo định suất được 9 đến 10kg lúa 1 tháng, đâu có đủ ăn. Bộ đội được ưu tiên "Ăn no đánh thắng" nhưng làm gì đủ gạo theo tiêu chuẩn; buổi sáng thường là một cái bánh bột mì hấp, nếu có bột nở thì to bằng nắm tay dễ ăn một chút, khi hết bột nở, bánh chắc như đất sét, khó ăn lắm. Nhưng chẳng ai "bỏ mứa" bao giờ. Các chú lính ở nhà dân đều được bổ sung thêm đặc sản như khoai sọ, khoai lang, sắn luộc... Tôi là liên lạc cho anh Vân ở nhà chị Yến, cùng chung sân với nhà em Liệu, được mẹ Vấn, mẹ Thoại, chị Nguyệt, chị Yến, em Liệu thương yêu như người thân trong nhà, tự ngẫm ai dám làm gì để mọi người buồn lòng được.
Tôi nhớ mãi những kỷ niệm giản dị của những ngày đơn vị đi thao trường. Tôi ở nhà làm thống kê quân lực. Em Liệu hay từ nơi làm việc ghé về, không quên đem theo một bình óc đậu để "anh uống cho mát". Những lần như thế, Liệu bao giờ cũng hồn nhiên, vui vẻ, kể tôi nghe mọi chuyện làm tôi rất vui. Hôm đi B, Liệu đưa một cây mía lựng mật, tím đỏ để tôi làm gậy và nói: "Anh đi chân cứng đá mềm, nhớ ngày trở lại". Còn chị Yến, có lẽ do Liệu gọi bằng chị nên tôi gọi theo thì phải. Yến bằng tuổi tôi, cái tuổi con mèo "cao số", nhưng Yến đã quen gọi bằng chị rồi thì không nên điều chỉnh làm gì. Có lẽ thế nên Yến ít nói hẳn đi. Trong hành động, Yến rất tỉ mỉ, giúp tôi mọi việc cá nhân. Nhiều lần tắm xong tôi có thói quen hay ngâm quần áo để đấy, Yến thường "tiện tay" giặt hộ. Lâu thành quen. Nếu khi nào tôi không quên, tự tay giặt lấy quần áo của mình là chị Yến giận ngay, Do vậy tôi thường nhờ chị luôn. Hôm đi B, trong đêm liên hoan văn nghệ, Yến, Mừng và tôi tam ca bài: "Ai yêu miền Nam như tấm lòng miền Bắc" của nhạc sĩ Văn Ký, chúng tôi hát rất đều và say sưa. Bây giờ mới nghe người ta nói cần phải kiêng những trường hợp ba như thế.
Trong sáu tháng huấn luyện, mẹ tôi, các chị em và bạn bè đến thăm tôi vài lần. Nhiều bạn gửi thư đến thăm hỏi, động viên người lính, trao đổi việc học hành, sự nghiệp, tương lai... Tôi có cảm giác mình thật sự đã là người lớn và có phần "quan trọng" đối với mọi người.
H. người bạn gái, ba năm học chung lớp ở cấp III với tôi bao giờ cũng dịu dàng và lúng túng khi gặp mặt bạn cũng gửi một lá thư báo tin trượt tốt nghiệp. Buồn quá, làm gì đây? Và băn khoăn không biết có là bạn của tôi nữa không? Thư tôi viết cho H. tất nhiên không thể thiếu việc cho gửi lời hỏi thăm sức khỏe hai bác và em Hài. Sau là lời khuyên bạn nên đi học tiếp và việc trượt tốt nghiệp vừa qua không có gì là trở ngại cho tình bạn đã có của chúng ta. Có lẽ cụm từ "tình bạn đã có của chúng ta" không có gì chứng tỏ cho sự phát triển, trong bức thư lính đầu đời của tôi đã làm bạn thất vọng, vì thế mà tôi không còn cơ hội nào được đọc những dòng thư của H. nữa.
Sau này, trong chiến trường, nhiều lúc tái hiện hình ảnh H. cô bạn học, mập lẳn, da trắng, môi đỏ, cái miệng xinh "tệ", tóc hơi quăn, mắt màu hạt dẻ long lanh, luôn bối rối mỗi khi gặp mặt... Về phía tôi, quả thật cũng chẳng tự nhiên gì, cái cảm giác ở bên nhau thường là những lời như thiếu như thừa. Rồi cái lần H. nghỉ học vì em trai phải đi viện mới có mấy ngày thôi, tôi ngơ ngẩn nhiều". Thực sự mà nói thì hai đứa có chú ý đến nhau và mấy đứa con gái đã nhận thấy điều đó. Chả thế một lần H. đã nói nhỏ với tôi: "Sợ thầy chủ nhiệm biết", "Các bạn chế quấy, nên hay lảng tránh, không phải "ghét” đâu. Đừng hiểu lầm".
Thực là:
"Chưa một lời yêu Chưa một nụ hôn Chúng nó đã ồn Mình yêu nhau đấy Sợ thầy bạn thấy Nên tự lừa mình... "
Trong ba năm học, tôi đến nhà H. và H. đến nhà tôi nhiều lần. Khi đến nhà H., chúng tôi rất tự nhiên vui vẻ, bố mẹ của H. tiếp đón tôi rất niềm nở, thân tình. Còn H. đến nhà tôi, bao giờ H. cũng bị lũ bạn gái áp tải tấn công. Mấy đứa bạn như Hồi A, Hồi B hay hỏi đùa mẹ tôi: "Bác có chấm cái H. làm con dâu không?", làm H. vô cùng bẽn lẽn, chẳng dám vui đùa, chuyện trò gì cả, có lẽ điều đó làm mẹ tôi thấy "Con bé dễ thương...". | |
Logged
| Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế |
|
|
quansuvn | 
| Chiến sĩ trinh sát« Trả lời #2 vào lúc: 15 Tháng Chín, 2021, 07:27:52 am » | Ngày tôi đi bộ đội, mẹ phàn nàn rằng: "Có nhớn mà chẳng có khôn". Bẵng đi gần năm năm trời, khi từ chiến trường về đến nhà, mẹ tôi đã nói ngay:
- Cô bạn hồi còn đi học hay đến đây, bây giờ thế nào?
Thì ra mẹ tôi đã nghĩ rằng có thể chúng tôi yêu nhau nên hỏi như vậy. Thú thực tôi bị bất ngờ và chính tôi, quả không biết cô ấy giờ ra sao nũa. Tôi chỉ ẫm ờ trả lời cho qua chuyện: "Con sẽ đi thăm sau".
Điều cũng bất ngờ và vô cùng xúc động, đó là lúc tôi đến nhà gặp mẹ H., khi tôi vừa cất tiếng chào thì mẹ H. đang gẩy rơm ngừng tay nạng nhìn tôi vài giây rồi vui vẻ hỏi:
- Anh có phải là Chiến không?
Tôi sửng sốt chưa kịp trả lời- Bà nói tiếp:
- Em nó nhắc đến anh luôn.
Tôi trở nên bối rối. Thực sự tôi thấy cay cay nơi khóe mắt. Tôi vào nhà bà chỉ tấm ảnh của H. chụp chung với Hòa treo ở cột nhà. Bà vồn vã nói:
- Ngày anh ở nhà nó bé tẹo, gầy gò, thế mà bây giờ nó béo thế đấy...
Bà lấy quyển nhật ký thời học sinh của H. đưa cho tôi... Tôi đã hiểu tất cả. Hình như đã làm xong các việc rất cần thiết ấy, lúc này bà mới mời tôi uống nước và hỏi chuyện mấy năm đi "sang Nam”, chuyện của các cụ ở nhà... Sau đó bà nhờ tôi giúp mang cho H. chiếc màn đã mua, nhưng "chưa có ai mang cho nó được”. Bà thở dài:
- Mấy năm trước, nó muốn làm nông dân nên không chịu đi học sư phạm. Sau này, nó nghĩ thế nào lại đi học sư phạm, thành ra năm nay mới được ra trường đấy. Tuổi lớn tướng rồi! Nghe đâu cô nào chưa chồng ra trường sẽ phải "sang Nam"...
- Ngày mai anh qua đây rồi đi Hưng Yên. Trường nó học ở Chợ Gạo, thị xã Hưng Yên.
Tôi như một chiếc máy vâng dạ theo các vấn đề bà nêu ra. Tôi gặp H. ngay hôm sau, tại lớp sinh hóa, ở Trường sư phạm 10 + 3 thị xã Hưng Yên. Đó là ngày 10 tháng 5 năm 1975.
Chỉ gặp lại H. tôi mới thấy cái lý do mẹ tôi phàn nàn "Có nhớn mà không có khôn". Trong số bạn gái cũng còn một người phải nói tới, đó là N. Cô có thể kém tôi một tuổi, học hết cấp II, N. đi học Trung cấp Dược, thời đó thường có câu "Nhất Y, nhì Dược". Người bạn gái đầu tiên gọi tôi bằng anh? Em chính là N. Học sinh nông thôn bạn bè chỉ "mày, tao, mi, tố" có thể vì thế mà tôi đã coi N. như em thật sự, còn N. tôi không dám chắc. Tôi quan tâm giúp đỡ, bảo vệ không để em bị bắt nạt. Nói với N. những điều rất người lớn, nhắc chú ý trong quan hệ bạn bè, nam nữ để tránh sự phiến toái...
N. tin cậy ở nơi tôi và luôn quan tâm, lo lắng cho tôi. Có thể nói, N. vui khi thấy tôi gặp điều lành, lo khi tôi gặp chuyện không suôn sẻ. Chúng tôi sống thật vô tư, trung thực suốt những năm cùng đi học một lớp ở trường cấp II Bạch Đằng. Cái ngày bạn bè chúng tôi "đội mũ rơm đi học đường dài" cả những lần đi học tránh giờ cao điểm phải đi từ khi gà gáy mà vẫn vô tư vậy.
Ngày học cấp III xa nhà, chỉ nghỉ hè tôi mới có nhiều thời gian cùng lao động với thanh niên ở thôn, như làm đường, làm thủy lợi, chống úng lụt. Những lần như thế, N. lúc nào cũng gần gũi bên tôi, sau lần hỏi ý kiến về việc chọn nghề, tôi tham gia, thế là N. đi học Trung cấp Dược. Trước hôm đi B một ngày, từ đơn vị tôi đạp xe đến Trường trung cấp Dược, đoạn đường 50km, tôi đến với N. chỉ được một lúc buổi trưa. N. tiễn tôi ra đường, nói nhiều chuyện rất nghiêm túc:
- T. hay đến đây chơi, em không thích tiếp. T. cũng biết điều đó nhưng vẫn chưa lùi bước.
Tôi nắm tay N. nói nhỏ:
- Mai anh đi rồi. Có lẽ ngày cưới của em anh không có mặt được... đừng buồn nhé...
N. nói thảng thốt nhưng quả quyết:
- Em sẽ đợi đến ngày thống nhất. Anh về em mới lấy chồng.
Tôi không nói gì thêm, chào em rồi lên xe, đạp một mạch về đơn vị. Đó là ngày 9 tháng 10 năm 1970.
Trên đường Trường Sơn, tôi viết cho N. hai lá thư. Kể chuyện hành quân, chuyện đất nước Vạn Tượng. Đây là người bạn gái duy nhất mà tôi viết thư từ chiến trường về, sau này đi chiến đấu tôi không viết thêm một lá thư nào cho N. nữa vì những năm chiến tranh có khi thư chưa đến tay người nhận thì người gửi đã hy sinh rồi. Nghĩ như vậy sẽ tốt hơn. Năm 1972 chiến tranh rất ác liệt. Một số đồng chí cùng đi bị thương, về làng đồn tôi đã hy sinh, sau này bạn bè tôi nhiều người nhắc đến tin đồn ấy.
Tháng 4 năm 1975, khi tôi chưa về nhà, người bạn đầu tiên đến thăm chính là N. Em đi cùng chồng, cũng là bạn học với tôi. Hai bạn đang nghỉ phép để tổ chức lễ cưới. Họ vừa cưới được bốn ngày. Tôi buột miệng nói với N.
- Thế là em lấy chồng lúc anh chưa về đấy nhé!
N. không nói gì, nhìn tôi. Tôi hiểu cái nhìn đó có ý rằng cần có điều phải nói, nhưng chưa phải lúc này. N. lấy chồng, cũng là diện muộn màng, so với hoàn cảnh chung lúc bấy giờ. Quả thật cho đến nay tôi vẫn chưa được em giải thích về cái nhìn chiều hôm ấy, mặc dù sau đó, chúng tôi có gặp nhau đôi ba lần. | |
Logged
| Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế |
|
|
quansuvn | 
| Chiến sĩ trinh sát« Trả lời #3 vào lúc: 15 Tháng Chín, 2021, 07:29:03 am » | Sau sáu tháng huấn luyện, tôi đã trở thành người lính thật sự. Đại đội có hai đồng chí trước khi đi B đơn vị công bố ở lại nhận nhiệm vụ mới. Đó là Lê Văn Đúc vì mẹ mới mất, có ba em còn nhỏ. Đúc được cử đi học y tá, cũng tương tự như Đúc còn có đồng chí Thân Văn Thơ. Cán bộ khung có sự điều chỉnh, anh Nguyễn Xuân Kính vì sức khỏe yếu không hành quân được, anh Nguyễn Văn Hoàn về thay. Anh Nguyễn Văn Mịch lớn tuổi, anh Nguyễn Văn Hoàn làm đại đội phó. Các anh Đặng Thanh Vân, Nguyễn Khánh Toàn vẫn giữ chức vụ cũ. Sau một thời gian xuống A12, B4 để rèn luyện, trước khi hành quân, đại đội rút tôi về xê Bộ. Các đồng chí Trần Văn Bách và Vũ Quý Dương vẫn tiếp tục làm liên lạc đại đội. Như vậy xê Bộ có 4 liên lạc: Trần Văn Mừng và ba chúng tôi Chiến, Bách, Dương.
B1 - Thiếu úy Nguyễn Văn Thành - B trưởng; B2 - chuẩn úy Nguyễn Văn Huấn - B trưởng; B3 - Thiếu úy Trần Văn Đức - B trưởng; B4 - Thượng sĩ Nguyễn Văn Rư - B trưởng.
Đơn vị lên đường đủ quân số, ngày đầu hành quân bộ đến ga Lưu Xá, Cẩm Giàng thì dừng lại nghỉ qua đêm đến 10 giờ ngày 11 lên tầu. Đêm rạng sáng 12 chúng tôi đến ga Vinh và được đưa đến nghỉ trong các nhà dân, những cô gái thôn quê duyên dáng trong bộ áo nâu, quần đen, giọng nói thánh thót, lạ tai vui vẻ. Các gia đình miền Trung đời sống còn rất khó khăn, bữa ăn chỉ thấy khoai lang. Mùa đông về nhưng các cụ già vẫn phong phanh một manh áo mỏng với nhiều miếng vá, nhiều em nhỏ vẫn cởi truồng. Nhà chủ yếu lợp bằng lá cọ và cỏ tranh, cả vách và mái, rất ít có nhà xây lợp ngói. Nhưng tình người dân miền Trung đầm ấm, sẵn sàng nhường chỗ ở ngủ và những miếng cơm củ khoai cho bộ đội đã làm vui lòng các chiến sĩ trẻ trên đường ra trận. Đoàn quân đi qua huyện Cẩm Xuyên, Lệ Thủy, Bố Trạch của tỉnh Quảng Bình. Những xóm làng nghèo khó, những người dân khắc khổ. Càng vào sâu, những biểu hiện lạc hậu của người dân càng đậm nét. Cảnh hoang sơ nguyên thủy càng bộc lộ rõ ràng hơn. Nhưng vẫn giống mọi nơi, người dân đều hết lòng cho mặt trận, hết lòng vì những đứa con đi chiến đấu. Họ biết "thế nào cũng có đứa không về...".
Đơn vị nghỉ một ngày ở một bản dân cư thưa thớt bên đông Trường Sơn để chuẩn bị lương thực, thực phẩm. Tôi bất giác, nhớ đến câu thơ của Tố Hữu:
"Trường Sơn Đông nắng Tây mưa Ai chưa đến đó như chưa rõ mình".
Bước chân leo lên dải Trường Sơn hùng vĩ của Tổ quốc. Đường mòn, rừng rậm âm u, núi cao, dốc đứng. Bây giờ khỏi phải tưởng tượng. Đoàn quân lầm lũi đi trong mưa đêm, chỉ có tiếng chân lép nhép, thỉnh thoảng có tiếng "uỵch" của ai đó vừa bị ngã. Bầu trời đen ngòm, thỉnh thoảng mới có một đốm sáng của ngọn đèn dù do một chiếc C-130 bắn ra lạc lõng trên bầu trời mênh mông.
Một vài lần anh Hoàn cho nghỉ giải lao nhưng đường lầy nhão chẳng ai bỏ được quai ba lô ra khỏi vai, mọi người đều dựa vào vách ta luy bên đường để nghỉ. Anh Hoàn ra lệnh: các B phải nhắc chiến sĩ giữ đội hình. Nghỉ tại chỗ, kiểm tra không để ai ngủ quên lại trên đường đi.
Trời về khuya, mưa đã tạnh nhưng do ngày đầu đi bộ, đường trơn, dốc, mang vác nặng nên ai cũng mệt, buồn ngủ khủng khiếp. Mãi đến quá nửa đêm mới có lệnh dừng chân hạ trại, đó là một quả đồi cây cối chen chúc, tôi mò mẫm lấy tăng võng trong ba lô ra vội vã mắc dây võng lên hai cây to, buộc dây căng tăng lên trên hai đầu dây võng, căng đều bốn góc tăng, thế là đã xong một chỗ ngủ. Toàn khu vực lao xao một lúc rồi im lặng, không có nước rửa chân, tôi bẻ lá cây lau hai cẳng chân, bàn chân rồi xỏ vào đôi bít tất, ngả lưng ngủ đến khi anh Hoàn gọi dậy để chuẩn bị đi tiếp. Lúc này tôi mới thấy đây là bãi khách đã đón nhiều đoàn hành quân qua, có rất nhiều chỗ mắc võng đã làm sẵn, đủ cả cọc phụ dây, căng tăng, giá để ba lô... thế mà hôm qua tôi không biết để tận dụng. May mà trời đã hết mưa, chứ không tránh sao cho khỏi ướt. Bữa ăn đầu tiên trên đường Trường Sơn của chúng tôi tự tay các chiến sĩ ở các tiểu đội nấu. Xê Bộ Trần Mừng tỏ ra tháo vát nhất, tôi thì cũng tạm được, còn Bách và Dương mới lên xê Bộ nên có nhiều bỡ ngõ. Mặt khác, ở gia đình hai cậu ấy vốn được săn sóc chu đáo nên cũng có phần lười.
Những bữa ăn Trường Sơn: đồ hộp với rau, măng rừng, tuy nấu nướng tạm bợ nhưng sao ăn ngon miệng thế, chẳng bao giờ thừa miếng cháy nào. Trong hành quân, nấu ăn là vất vả nhất, thao tác trong cảnh mưa gió thất thường, thời gian phải khẩn trương. Để có cơm chín, nước sôi, món ăn "phong phú", quả là một cuộc thử thách, tập dượt cho bao chiến sĩ, những người mới cách vài ngày chỉ quen nhận phần ăn từ nhà bếp, được chia sẵn trong các xoong 6, xoong 8, đĩa 4 ngăn và được quyền phàn nàn, trách cứ các chiến sĩ nuôi quân, trong bất cứ hoàn cảnh nào. Phải mất đến ba, bốn ngày, đại đội mới khắc phục được các tình trạng mà nhiều tiểu đội phải khổ sở như: nấu cơm chín nhưng chưa kịp ăn đã phải hành quân, những ăng gô canh bị đổ làm tắt bếp, những bếp nấu quá khói bị đại đội bắt dập lửa khi cơm còn chưa chín...
Tuy nhiên bếp xê Bộ không có tình trạng trên, nên các anh đại đội khoái lắm, luôn lấy đó để nhắc các bê phải học tập. Qua đó thấy các anh rất tự hào vì có những chiến sĩ "cận vệ" như bọn tôi.
Sau 10 ngày hành quân trên đất Lào, đơn vị được lênh dừng lại để chuẩn bị giao quân, lúc đó là trung tuần tháng 11 năm 1970. Tranh thủ ngày nghỉ, tôi viết thư về cho mẹ và các chị, có cả thư cho Nam. Tôi kể những điều mới lạ về đất nước, con người những nơi tôi đã đi qua, tôi đã nhìn, nghe thấy, với tinh thần lạc quan pha chút tự hào.
"Làm trai cho đáng nên trai Phú Xuân đã trải, Đồng Nai đã từng".
Nơi tiểu đoàn dừng chân là trạm 13 thuộc Binh trạm 12 nằm trên địa hạt tỉnh Xa-van-na-khét. Chúng tôi được bổ sung về Sư đoàn bộ binh số 2, Quân khu 5. Mấy hôm dừng lại, tôi đi các bê gặp anh em cùng làng và bạn bè thân quen, chúng tôi nhắc nhở nhau để củng cố niềm tin, chuẩn bị tư tưởng cho những ngày thực sự gian khổ sắp tới. Tôi đề nghị với các bạn hãy tin cho nhau khi có điều kiện. Anh Hoan, đại đội phó tâm sự với tôi:
- Tiểu đoàn chọn 10 chiến sĩ trẻ để bổ sung cho một đơn vị quan trọng nào đó trên Bộ tư lệnh. Xê ta, chúng tớ chọn cậu, còn 9 đồng chí khác do các xê cử. Bọn mình rất tiếc là không được công tác tiếp với cậu để giúp đỡ cậu được nhiều hơn nữa. Thấy cậu xông xáo, dũng cảm mình rất quý. Cậu hãy cố gắng để tiến bộ...
Xê chia làm 8 khối, cùng về Sư đoàn 2. Bê 3 và cậu Mừng, Bách được bổ sung vào tiểu đoàn công binh của sư đoàn. Bê 1 của anh Thành về Trung đoàn 1.
Bê 2 của anh tuấn về Trung đoàn 141.
Chiến dịch đầu tiên ở Nam Lào tháng 3 năm 1971, trong làng đã có mấy đứa hy sinh đó là Cao Văn Thoăn, Ngô Quang Vinh. Nguyễn Văn Lịch bị thương nặng phải chuyển ra Bắc. Các chiến dịch trong năm 1972, các bạn hy sinh gồm: Nguyễn Đức Vy, Nguyễn Văn Yên, Nguyễn Văn Lấp. Bị thương phải chuyển ra Bắc điều trị là Nguyễn Trọng Viễn và anh Hoạt. Duy nhất còn tôi ở chiến trường cho đến tháng 4 năm 1975. | |
Logged
|
|
|
|