Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

CHIẾN THUẬT “BỦA LƯỚI PHÓNG LAO”

Đoạn trích là hồi ức nghẹt thở về cuộc đấu trí, đấu lực suốt 25 ngày đêm của lực lượng tham mưu Phân khu 1 dưới lòng địa đạo vùng Bắc sông Sài Gòn vào dịp Tết năm 1970. Trước sự phản bội của một trợ lý tác chiến, quân Mỹ đã triển khai chiến thuật "Bủa lưới phóng lao" với quy mô khổng lồ nhằm xóa sổ căn cứ, buộc tác giả và đồng đội phải rút xuống hệ thống địa đạo hai tầng để đối mặt với những đợt đánh thuốc nổ và đào bới điên cuồng ngay trên đầu. Trong tình thế "cá nằm trên thớt", nhờ bản lĩnh ki

Lai Châu10/03/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Mỹ áp dụng chiến thuật này là dùng lực lượng bộ binh hay kỵ binh không vận kết hợp bộ đội thiết giáp được sư yểm trợ của không quân từ các căn cứ hoặc căn cứ dã chiến cơ động đường bộ hoặc đường không hình thành thế bao vây bất ngờ một khu vực nào đó. Nơi đây Bộ Tư lệnh Mỹ đã nắm được qua tin tình báo có lực lượng ta như cơ quan, kho tàng, địa điểm hội nghị học tập, trường huấn luyện v.v... Sau đó thực hành đột kích bằng xe tăng cùng bộ binh thọc sâu vào trung tâm căn cứ ta đánh phá triệt hạ. Sử dụng biệt kích chó săn... Lùng sục tìm kiếm địa đạo, hầm bí mật, kho tàng. Có khi chà đi xát lại hàng tuần hoặc lâu hơn, lần lượt trên từng khu vực.

Tùy từng đối tượng, Mỹ sử dụng lực lượng quy mô lớn, vừa hoặc nhỏ có sự trợ lực của máy bay ném bom hoặc trực thăng vũ trang.

Mỹ áp dụng chiến thuật này khá phổ biến ở chiến trường Miền Đông Nam Bộ. Địa bàn phân khu 1, Mỹ áp dụng chủ yếu trong thời kỳ này ở vùng giải phóng Bắc sông Sài Gòn thuộc xã Thanh Tuyền, Thanh An (huyện Bến Cát) phía Nam Sở cao su Dầu Tiếng.

Chúng tôi từ Củ Chi lui về căn cứ phía sau ở bắc sông Sài Gòn. Căn cứ được xây dựng nằm giữa trục Tà Leng – Bàu Trâm với Bưng Cồng thuộc xã Thanh Tuyền. Do địch phản kích truy lùng ráo riết, các bộ phận thường trực Phòng Tham mưu phải tách thành hai bộ phận đóng hai căn cứ cách nhau một tiếng rưỡi đồng hồ đi bộ. Căn cứ Cá Rô (gần Bến Chùa thuộc Xã Thanh An) gồm anh chị em thuộc bộ phận tài vụ quản trị, một phân đội vệ binh vận tải. Tại đây cũng là nơi tập kết để vượt sông Sài Gòn qua Củ Chi, Trảng Bàng đột nhập các ấp đông dân mua lương thực thực phẩm, các loại nhu yếu phẩm khác. Căn cứ còn lại có bộ phận thường trực đảm bảo chỉ huy như ban tác chiến, ban cơ yếu, văn thư đánh máy, liên lạc công vụ và một tiểu đội vệ binh. Các ban bệ khác như quân báo, thông tin, công binh, pháo binh, quân lực... Mỗi ban có căn cứ riêng. Từng bộ phận có hầm ngủ âm sâu xuống đất, nắp hầm đắp đất nện khá dày chống được đạn pháo, cối và đạn bắn thẳng từ trên máy bay. Người trong hầm đứng đi lại dễ dàng. Mỗi hầm mắc được hai tầng võng nằm từ ba đến bốn người. Ngoài hầm ngủ, mỗi bộ phận xây dựng địa đạo riêng dài đến vài mươi mét. Bếp nấu ăn kiểu Hoàng Cầm được âm sâu xuống đất như hầm ngủ. Bếp và giếng nước có nắp đậy kín đáo. Có động, được ngụy trang như hầm bí mật và địa đạo. Hầm ngủ của tôi và của tham mưu trưởng cách nhau 30 mét. Trong hầm ngủ của tôi có hầm bí mật riêng cho 5 người trú ẩn không quá gò bó trong sinh hoạt. Hầm của tham mưu trưởng có địa đạo dài và vững chắc.

Thường lệ mỗi sáng kim dạ quang đồng hồ chỉ bốn giờ là tôi tỉnh giấc. Mọi thứ thu vén gọn vào chiếc bồng đeo sau lưng, tay xách xắc đựng tài liệu, tôi luồn qua những lùm cây rậm đến hầm tham mưu trưởng. Sương đêm ướt đẫm lá cây quét vào người như vừa trải qua cơn mưa sáng. Tôi đến gặp đúng lúc anh Năm Lê từ hầm ngủ chui lên. Vừa thoáng thấy tôi, anh nói: “Linh tính mình cảm thấy hôm nay chắc có chuyện gì đó Mười Nỹ ạ?”

Căn cứ chúng tôi trong khu rừng trước đây liên hoàn nhau chạy dài hàng chục ky lô mét. Bề ngang xấp xỉ thế. Mỹ khi chưa có khả năng ủi trắng toàn bộ như bên Củ Chi, chúng cho ủi thành nhiều đường ngang dọc trở thành những ô vuông như bàn cờ, chia lô như rừng cao su. Mỗi đường ủi rộng khoảng 50 mét. Từng ô rừng mỗi cạnh từ 300 đến 400 mét. Làm thế, Mỹ có dụng ý phá nát các căn cứ ta không còn thế liên hoàn với nhau, ta dễ bị bộc lộ mục tiêu, chúng lại dễ quan sát kiểm soát từ trên không. Rừng bạt ngàn mênh mông được chia thành ô phân thành lô cho hoạt động của pháo binh và không quân nhanh chóng chính xác. Tận dụng đường ủi để bộ binh và thiết giáp thực hiện bao vây phong tỏa và đột kích vào những ô rừng nghi hoặc phát hiện có mục tiêu.

Căn cứ chúng tôi bị chia cắt giữa chính và dự bị bởi những đường ủi này. Căn cứ chính phía nam, dự bị phía bắc. Hầm ngủ của tôi chỉ cách đường ủi không quá 50 nét. Cách căn cứ về hướng Tây nam khoảng 2000 mét đường thẳng là chốt dã chiến hỗn hợp bộ binh, xe tăng, xe ủi công binh của Mỹ ở Rạch Kiến cạnh tỉnh lộ 14. Xa hơn phía Đông bắc căn cứ khoảng 7 ky lô mét có một chốt dã chiến khác của Mỹ đóng ở Phố Bình. Những chốt này được sự bảo vệ của các cụm pháo ở Lai Khê, Bến Cát, Dầu Tiếng thuộc sư đoàn 1 bộ binh. Hàng ngày thiết đoàn trên 20 chiếc tăng và xe bọc thép M113 từ Rạch Kiến lên Phố Bình và ngược lại. Đường đi của chúng trở thành con đường quân sự làm gấp chạy cặp lộ ủi mép rừng phía nam căn cứ chỉ cách chúng tôi một dải rừng hẹp 200 mét. Có lần lúc chiều tôi không hiểu sao đoàn chiến xa dừng quân trụ lại đêm sát mép rừng cách cửa hầm địa đạo của văn phòng 50 mét. Lợi dụng lúc trời nhá nhem tối với kỹ thuật động tác đặc công tôi tiếp cận xem chúng muốn giở trò gì? Định tấn công vào căn cứ lúc mờ sáng chăng? Té ra một chiếc tăng đứt xích hay hỏng máy. Bọn lính đang hì hục sửa chữa. Tôi bí mật lần tới một chiếc M113 đang cảnh giới lù lù sát mép rừng. Cự ly giữa tôi và nó vừa tầm ném lựu đạn. Chỉ một quả B40 tôi sẽ trở thành dũng sĩ diệt Mỹ. Làm việc đó lợi bất cập hại. Căn cứ và sinh mệnh anh chị em khó được bảo toàn. Trời tối đen, tôi ngồi thu lu sau gốc cây cụt xem bọn Mỹ chạy tới chạy lui hì hục móc kéo khối sắt nằm vạ giữa đường.

Chúng tôi sống những ngày hết sức căng thẳng. Không phải khoa trương tự đề cao và khuếch đại quá đáng, rõ ràng nếu không có hệ thần kinh vững vàng, chúng tôi không thể sống trong sự nơm nớp lo âu từng phút từng giờ, ngày này qua tháng khác... Cũng có thể không cách nào khác đành chấp nhận sự nguy hiểm luôn luôn rình rập bên mình riết chúng tôi đâm liều tới đâu hay tới đó.

Thường lệ mờ sáng tôi đến chỗ anh Năm Lê. Nếu không ngủ chung hầm với anh, anh yêu cầu tôi phải thế. Hai người luôn ở bên nhau vì công việc và cũng có đồng đội bên cạnh cảm thấy yên tâm.

Đã 6 giờ, màn đêm ở đây chưa tan. Bộ quần áo ướt đẫm sương trên người tôi đã khô. Tôi bứt mấy chiếc lá nhám chà mặt kính đồng hồ đeo tay để làm mất đi các vết xước. Anh Năm Lê gọi giật tôi:

- Mười Nỹ, nghe tiếng trực thăng không?

Tôi gật đầu, tay vẫn miết lên mặt kính chiếc đồng hồ hiệu SeiKo, bụng nghĩ: “trực thăng lúc nào mà chả có trên trời”.

Anh Năm Lê nói tiếp:

- Cậu nghe xem, chắc tiếng động cơ của máy bay tham mưu.

Tôi lại gật đầu xác nhận. Ở chiến trường lâu ngày, trong chúng tôi ai cũng dễ phân biệt tiếng động cơ các loại trực thăng tải quân, trực thăng đầu đỏ vũ trang, trực thăng cá lẹp, cá rô, xương cá, quả chuối bay, cần cẩu loại kỳ đà, trực thăng tham mưu chỉ huy... Rừng kín mít không nhìn thấy máy bay nghe tiếng động cơ là biết loại nào.

- Đúng là nó anh Năm ạ! - một lần nữa tôi xác nhận - nó bay rất cao và chậm ngay trên đầu. Nếu nó bay thẳng thì ổn. Nhưng vòng lại là có chuyện.

Quả thật, tiếng máy bay đã quay lại. Nó lượn một vòng, hai vòng rồi ba vòng. Mệnh lệnh ban ra; “Xóa kỹ dấu vết. Tất cả xuống địa đạo”.

Địa đạo của tham mưu trưởng tôi chưa một lần chui xuống. Hầm ngủ của anh rất chắc chắn, đủ sức chống lại róckét, đạn pháo nặng, bom chụp. Bên trong anh cho đào 4 cái hàm ếch khoét sâu vào vách hầm. Một trong số hàm ếch trên anh dùng làm bếp đun nước. Trên mặt đất đầy tro than. Vách ám khói một màu đen nham nhở.

Anh nói với tôi: “Mười Nỹ ở đây với mình. Cho toàn bộ anh chị em tác chiến, văn phòng, nuôi quân và cơ yếu đều dồn vào cả đây. Có chuyện gì không bị chia cắt”.

Không hiểu sao lần này anh ra lệnh như thế. Mỗi lần có động căn cứ ai nấy ở. Mọi người ngoài hầm ngủ ai cũng có địa đạo riêng. Anh nói tiếp:

- Địa đạo của mình miệng nó bên trong hầm ngủ. Bên dưới mình cho xây dựng 2 tầng, chứa trên 30 người. Ta ở đây chỉ khoảng chừng ấy người. Có 3 ngách thoát hiểm.

Tôi đang tập trung anh chị em thì Sáu Thành chạy đến Anh là cán bộ cơ yếu, một con người nhiều kinh nghiệm tổ chức bố phòng. Anh nói:

- Anh Năm anh Mười ạ! Có tiếng tăng từ Phố Bình xuống, Rạch Kiến lên. Vài phút nữa chắc chắn ta bị Mỹ oanh kích và tấn công. Hai anh xuống ngay miệng này, tôi ở trên ngụy trang. Anh chị em khác tôi cho xuống miệng thứ hai, không tập trung nhiều ở đây.

Anh Năm Lê bước xuống hầm ngủ khều mấy cọng thép ẩn dưới đống tro trong bếp nhắc nắp đậy lên lộ ra miệng hầm bí mật. Tôi ở bên anh từ lâu mà không biết nơi đó là miệng địa đạo. Sáu Thành báo cho biết hai chỗ sẽ gài mìn. Một quả gài đường vào cách miệng hầm ngủ mười mét. Một quả gài ngay bậc lên xuống. Nếu trái này nổ đất cát sẽ phủ trùm kín miệng địa đạo.

Mọi việc tiến hành khẩn trương chu tất không sơ suất.

Bảy giờ pháo binh Mỹ bắt đầu hoạt động. Pháo từ căn cứ Lai Khê bắn lại, Bến Cát bắn qua, Dầu Tiếng bắn xuống, ít ra cũng mươi lăm khẩu bắn cấp tập nhằm vào ô rừng có căn cứ chúng tôi. Đạn rải đều trên diện tích nhỏ hẹp hơn một hecta.

Mọi người đều chuyển xuống tầng hai của địa đạo. Tôi ngồi lại tầng một bên dưới nấp hầm nơi anh Năm Lê làm bếp để theo dõi nghe ngóng tình hình. Tôi tin Sáu Thành đã ngụy trang kỹ. Việc gì chứ tài gài mìn và ngụy trang anh chẳng kém ai, rất khéo tay. Những quả đại bác xuyên sâu phá công sự thật khủng khiếp. Tiếng nổ của nó trong lòng đất chỉ nghe ục ục, nhưng ngồi trong hầm cảm thấy như một cơn địa chấn với cường độ rất mạnh.

Pháo ngừng bắn sau mươi lăm phút oanh kích. Tiếng trực thăng bầy ầm ầm lao đến. Chúng nã trọng liên, đại liên khắp rừng để dọn bãi hạ cánh. Tôi ngồi ở tầng một nghe rõ mồn một mọi diễn biến trên mặt đất. Tiếng gầm rú của động cơ mấy mươi chiếc tăng và bọc thép, tiếng rít của cánh quạt trực thăng hạ cánh, tiếng la hét của bọn lính Mỹ vừa lao xuống đất... Làm cụm rừng bé xíu chao đảo nghiêng ngã như chú thỏ con bị hàng chục sói dữ bao quanh nhe nanh múa vuốt chực nuốt sống ăn tươi.

Quân Mỹ bao vây toàn bộ khóm rừng, hình thành bủa lưới vòng rộng vòng hẹp, vòng trong vòng ngoài. Khi đổ quân ngoài số trực thăng vũ trang yểm trợ, thường mỗi tốp có từ 7 đến 9 chiếc chở quân. Mỗi chiếc trừ giặc lái có 7 tên lính chiến đấu. Có tất cả 7 lần tốp. Tôi ước tính một tiểu đoàn bộ binh có trên 400 đến 450 quân. Tôi lẩm bẩm với mình: “Chúng đã bủa lưới lúc nào thì phóng lao đây”.

Có tiếng chân đi rầm rập. Tôi nghe cây lá bị xéo đẩy rào rào từ bìa rừng vào hướng hầm ngủ của tôi rồi đến hầm tham mưu trưởng. Chúng kéo nhau đi như đã thông thuộc đường đi nước bước, mặc dù trước khi xuống địa đạo, anh chị em ngụy trang rất kỹ. Ngày thường chúng tôi qua lại không để hình thành dấu mòn. Tôi nghe rõ giọng xì xồ của chúng.

Một tiếng nổ đanh gọn. Tiếp theo tiếng rên rỉ, la thét ồn ào chộn rộn. Tôi quá đổi mừng khấp khởi. Một đồng chí từ tầng hai chui lên bò đến bên tôi thì thào: “Anh Năm hỏi tiếng nổ gì thế? Chúng định dùng mìn đánh hầm ta ư?”. Tôi rỉ tai anh bảo: “Đừng lo đấy là tiếng mìn của Sáu Thành gài bên ngoài hầm. Ít ra cũng một đôi thằng lên thiên đàng. Báo lại anh Năm và anh chị em yên tâm.

Bên trên bọn Mỹ đang phát cây. Tôi biết chúng dọn bãi cho trực thăng cứu thương hạ cánh.

Trái mìn nổ gây thương vong làm bọn Mỹ chậm mất thời gian tìm kiếm miệng địa đạo. 12 giờ trưa, bọn Mỹ lúc này la lối ầm ĩ hơn. Tiếng trực thăng hạ cánh, 10 phút sau bay đi. Tôi vái trời mong sao chúng chui xuống hầm qua bậc thang nhiều cấp thế nào cũng dính quả thứ hai của Thành. Quả thật, tiếng nổ lần này to rền hơn quả thứ nhất. Có thể Thành gài quả thứ hai có sức công phá lớn, mạnh hơn. Tiếng nổ trong hầm kín nên âm vang to hơn ngoài trời. Bọn Mỹ la hét chạy tới chạy lui rầm rập. Ngồi sâu dưới tôi càng khoái chí. Trái mìn nổ sẽ văng tung đất cát càng lấp kín miệng địa đạo trong hàm ếch được ngụy trang bằng cái bếp nám khói đen.

Mỹ loay hoay hơn tiếng đồng hồ giải quyết việc cấp cứu chuyển thương. Sau đó tôi nghe tiếng cuốc đào bới trong hầm ngủ. Mỹ cố tìm miệng địa đạo. Tôi tin chúng khó phát hiện trừ phi có người chỉ dẫn. Nghĩ đến đây tôi đâm lo. Nếu ai đó trong cơ quan phản bội dẫn Mỹ đến thì chuyện sống chết của chúng tôi quyết định trong một hai giờ sắp tới.

Anh Năm Lê cho người lên gọi tôi xuống tầng hai hội ý.

Anh hỏi tôi nhận định chuyện này thế nào? Tôi đưa sự nghi ngờ có người dẫn Mỹ đến căn cứ chúng tôi ra bàn với anh.

Không phải ngẫu nhiên chúng thọc thẳng đến hầm ngủ của tôi và anh như đã từng quen biết. Nếu có kẻ phản bội, người đó là ai? Số anh em trên căn cứ Cá Rô không ai biết hầm anh.

Anh Năm Lê đồng tình với ý kiến tôi. Tôi nói tiếp: “Điều may, nếu có kẻ dẫn đường chắc chắn phải đi đầu kèm theo một vài tên Mỹ áp tải. Bọn này thương vong do quả mìn đầu của Sáu Thành. Nếu chỉ một tên ta đỡ lo. Điều này chứng tỏ sau khi bị quả thứ hai chúng vẫn không biết miệng địa đạo nên đang đào bới tìm.

- Nếu chứng tìm được miệng địa đạo trong bếp thì sao?

- Chúng chẳng dám mò xuống. Sẽ tìm mọi cách phát hiện lỗ thông hơi và sống địa đạo, dùng chất nổ cực mạnh đánh sập vùi lấp chúng ta ở đây. Tuy sống địa đạo tầng một đất dày đến hai mét, nhưng khó chịu nổi hàng tạ thuốc nổ cho từng điểm đặt của chúng. Giải pháp tốt nhất là trồi lên sống chết với chúng để thoát vây.

- Mười Nỹ, đồng chí là bí thư liên chi bộ tác chiến và văn phòng, tôi thay mặt Đảng ủy cấp trên ủy nhiệm đồng chí tổ chức cuộc đối đầu với quân Mỹ, tìm cách thoát vây trong ngày và đêm nay ra khỏi đây.

Các Đảng viên và số anh chị em ngoài Đảng được triệu tập ngồi dọc tường hầm. Tôi phổ biến tình hình đang diễn ra trên mặt đất. Giả thiết có kẻ phản bội nào đó chỉ dẫn Mỹ đến vây hãm tấn công căn cứ và thủ đoạn nếu chúng phát hiện ra địa đạo. Địa đạo cấu trúc chắc chắn nhưng khó chịu nổi sức công phá nhiều tấn thuốc nổ. Mỹ không tiếc gì chuyện đó. Ta không thể thụ động bó tay chờ chết. Bây giờ đã 15 giờ. Địa đạo còn 3 ngách hầm chui lên... Sau đó tôi đưa phương án phá vây ra bàn. Mọi người tán thành và hạ quyết tâm. Kế hoạch là: mỗi ngách hầm lên, tổ chức một tổ ba người trang bị AK với cơ số đạn đầy đủ. Ba ngách 3 tổ. Từ đây đến khi trời tối nếu thấy hiện tượng quân chúng giang xa để máy bay ném bom tấn xuyên sâu hoặc đặt chất nổ phá công sự loại cực mạnh, đồng loạt xông lên nổ súng đánh tới tấp phủ đầu chúng cho đến tối. Anh chị em còn lại chia thành tổ tự động len lỏi thoát ra vòng vây rút về căn cứ dự bị bên kia. Không rút ra xa vì Mỹ phong tỏa các đường và hướng có thể đi đến. Tôi không quên động viên anh chị em giữ vững khí tiết nếu lỡ sa vào tay địch như gương hai chiến sĩ trung đoàn 88 trong chiến dịch Tết Mậu Thân. Nếu địch chưa phát hiện được địa đạo, đến tối sẽ tìm cách len lỏi bí mật rút khỏi nơi đây.

Anh em tình nguyện xung vào các tổ xung kích nhiều hơn số cần thiết. Tôi chỉ chọn 9 người trong đó tôi làm tổ trưởng một tổ. Đồng chí Sáu Thành bên cơ yếu và đồng chí On trợ lý đồ bản mỗi người phụ trách một tổ. Ai có lựu đạn tập trung cho các tổ chiến đấu.

Lúc này tiếng cuốc bọn Mỹ bên trên lơi dần, vài mươi phút sau ngưng hẳn.

Đã năm giờ chiều.

Tôi trườn lên tầng một tiếp tục nghe ngóng. Tiếng bước chân bọn chúng chuyển về hướng hầm ngủ của tôi. “Chúng tạm thời rời khỏi mục tiêu trong đêm nay nhưng chưa hẳn đã bỏ - tôi nghĩ - Dù sao cũng tạo cho mình cơ hội”.

Sáu Thành bò đến bên tôi báo tin Mỹ rút qua bên hầm ngủ của tôi như tôi dự đoán. Giá như chúng ém quân ngay đây có khi đêm nay buộc phải thực hiện theo phương án chiến đấu thoát vây. Đó là cách giải quyết tình huống không còn cách nào khác. Mọi hành động quân Mỹ không qua khỏi cặp mắt tinh tường của Thành. Miệng địa đạo thứ hai do anh phụ trách trong lùm gai rậm nhiều dây leo rất kín đáo. Tại đây anh quan sát mọi diễn biến hoạt động quân Mỹ. Anh cho biết hai quả mìn nổ đã có bốn cáng thương đưa lên trực thăng. Trời tối hẳn anh trồi lên mặt đất đến chỗ hầm ngủ anh Năm Lê ra tín hiệu rồi mở nắp cho chúng tôi lên. Mọi việc gì tiếp đến sẽ bàn sau.

Mọi việc tiến hành suôn sẻ. Chúng tôi lần lượt trở lên hầm ngủ. Nơi này Mỹ đào bới lung tung phản phất mùi máu tanh nồng. Đồng chí On trợ lý đồ bản và một đồng chí khác tình nguyện xung phong đi trinh sát chung quanh cụm rừng dò xem chỗ nào có khoảng trống trong màn lưới Mỹ bủa vây để đưa đoàn thoát ra. Một điều tôi không ngờ, bốn cô gái chị nuôi, y tá thư ký đánh máy xin trở lại bếp nấu ăn làm bữa cơm tối và cho cả ngày mai. Chúng tôi đã nhịn bữa ăn trưa nhưng không ai thấy đói. Khui bếp và giếng nước, đỏ lửa trong đêm có nên liều lĩnh mạo hiểm không? Quân Mỹ đang bí mật ém phục ngay hầm ngủ của tôi chỉ cách bếp 50 mét. Rất dễ lộ nguy hiểm lắm. Đồng chí quản lý và các em gái quả quyết làm được.

Bếp nấu được âm xuống đất như hầm bí mật, miệng lên xuống có nắp đậy kín được ngụy trang, có hệ thống thông khói theo phương pháp bếp Hoàng Cầm. Ở đây khu đất cao nên đào sâu đến 11 mét, mùa khô vẫn nhiều nước. Cả hai khi đã đậy nắp, ngụy trang kỹ, người lạ đứng kề bên khó phát hiện. Suốt ngày hôm nay bọn Mỹ lùng sục khắp nơi vẫn chưa phát hiện. Tin ở khả năng và sự khéo léo của chị em, đặc biệt kinh nghiệm và tháo vát của đồng chí quản lý, chúng tôi yên tâm.

Hai tiếng đồng hồ sau, tổ trinh sát trở lại mang về cho chúng tôi nỗi mừng tưởng không có gì quý hơn. Anh em cho biết Mỹ bao vây chặt cụm rừng. Cách vài ba mươi mét một chiếc M113 hoặc tăng lù lù án ngữ. Bộ binh chúng rải đều im hơi lặng tiếng. Ngay mùi thuốc lá thơm chúng thường dùng cũng không ngửi thấy. Phát hiện được qua mùi thơm của dầu xoa chống muỗi. On cho biết trong cái khó ló cái may, Mỹ vây kín nhưng vẫn còn đường thoát. Đơn vị Mỹ phong tỏa hướng chúng tôi về căn cứ dự bị là đơn vị được phái lùng sục tìm địa đạo chúng tôi trong ngày. Hiện chúng bí mật ém lại trong căn cứ để theo dõi hoạt động của ta trong đêm. Vì vậy hướng ta cần phải rút ra Mỹ bỏ trống. Lại một sự ngẫu nhiên trùng hợp khó tin.

Làm như có bàn tay huyền bí nào bố trí xui khiến bọn Mỹ như thế. Chúng tôi ai cũng mừng như bắt được vài tạ gạo.

Gạo đối với chúng tôi lúc nào cũng quý hiếm. Nhiều lúc ta phải hy sinh mạng sống mới kiếm được năm ba bao gạo. Cơm ăn tối, cơm vắt ngày mai được mang đến.

- Có phát hiện Mỹ phục gần đây không?

- Nghe rõ chúng bẻ nhành cây xua muỗi tuy chúng đã xoa dầu chống muỗi. Rừng kín dày. Cây cối bị đại bác bắn làm tróc gốc gãy cành la liệt lại càng kín hơn. Chị em thận trọng từ cái nhắc tay, từng bước chân xê dịch. Lúc nấu đậy kín nắp hầm không lọt ánh lửa ra ngoài... mình sợ nó một, nó mình gấp mười. Đố thằng nào dám rời xa chỗ nằm năm ba bước nghe ngóng động tĩnh. Thằng nào cũng lo rúc đầu co cổ sợ bị tấn công. Vả lại trong rừng đêm tối khẽ vang nhiều tiếng động như cành gãy nhánh rơi, con chim đập cánh, con chuột rúc hang, con rắn mối lướt trên lá ủ… Làm lính Mỹ chết khiếp sợ đặc công Cộng Sản mò đến. Nếu nghi ngờ chúng không dám bắn. Bắn bị lộ làm hỏng kế hoạch. Chúng âm thầm theo dõi có hay không sự xuất hiện của ta. Nếu có từ đâu chui lên. Chỉ bắn trả khi bị tấn công.

Ban ngày bom pháo đinh tai ức nhức óc, làm chao đảo xáo động như muốn chặt xới bằm nát cả khu rừng, về đêm lại yên tĩnh lạ lùng. Không hề một tiếng nói, tiếng kêu của bọn Mỹ, hay một phát tín hiệu, một quả pháo sáng...

Chúng tôi kiên nhẫn đợi đến khuya để cho quân Mỹ mệt mỏi lịm trong giấc ngủ sẽ bí mật rút ra. Chúng tôi cho kiểm tra việc mang xách của từng người trong khi di chuyển không để phát ra tiếng động, dặn dò chu đáo tránh để xảy ra một sơ suất nhỏ mang đến tai họa không lường.

Một giờ sáng ngày 29 tháng chạp năm Kỷ Dậu (1970) chúng tôi như ngậm tăm bí mật, thận trọng, lách qua khỏi vòng vây của Mỹ rút về căn cứ dự bị bên kia lộ ủi. Như thế chúng tôi đã lộn lại trụ sau lưng chúng khoảng 150 mét nằm ngoài vòng vây, nơi chúng không chú ý đến.

Tiểu đội vệ binh tiếp tục trụ lại căn cứ của anh em. Tên chỉ điểm không biết chỗ này tất nhiên quân Mỹ cũng không biết

Về đến căn cứ dự bị ai cũng thở phào nhẹ nhõm. Bao nỗi âu lo được vơi đi. Cái nguy hiểm đang rình rập sát nách được đẩy ra xa đôi chút...

Sau khi thoát hiểm còn chút thời gian trước khi trời sáng, tôi và Tham mưu trưởng bàn xem kẻ nào phản bội dẫn Mỹ đánh trúng phóc vào căn cứ. Trầm ngâm suy nghĩ hồi lâu, anh Năm Lê đập khẽ vào vai tôi báo hiệu anh đã tìm ra đáp số bài toán vướng mắc đầu óc cả hai suốt ngày hôm nay. Anh thì thầm vào tai tôi: “Thằng Đ. Chết tiệt này chứ không ai”.

- Sao nó biết hầm anh?

- Dạo xe Mỹ tiến sát bìa rừng phía đông căn cứ, cái đêm mà cậu rình bọn nó đấy. Thằng Đ, tôi đang giao nhiệm vụ cho hắn ngay hầm ngủ của tôi. Tôi cho hắn cùng xuống địa đạo. Ngoài hắn ra không ai biết. Hắn là trợ lý của cậu, hắn biết rõ hầm ngủ của cậu. Dĩ nhiên căn cứ này hắn thuộc trong lòng bàn tay. Nhưng vì sao hắn bị Mỹ bắt, bị bắt trong trường hợp nào? Lúc nào? Điều cả hai chúng tôi chưa khẳng định.

Vậy tên phản bội nào đó vẫn là ẩn số.

Chỉ vài hôm sâu bài toán này đã được giải

Đ. là một tiểu đoàn trưởng có tiếng gan lì, đánh trận dũng cảm. Vóc người anh ta cao lớn, da đen ngâm trông như một đại hán, quê Quảng Bình, trình độ học lực mới hết lớp ba nhưng tài tán gái loại “vua”. Đi đến đâu vài ba hôm Đ. đã có “em ôm” bất kể đẹp xấu. Không hiểu sao người ta lại điều hắn về làm trợ lý tác chiến cho tôi. Làm cái nghề này không gì ghê gớm, nhưng đòi hỏi phải có một vốn kiến thức nhất định về phương pháp tổng hợp nhận định đánh giá tình hình rút ra vấn đề kết luận về địch về ta, về phương thức hoạt động tác chiến, về xây dựng phát triển các phong trào du kích chiến tranh, đấu tranh chính trị của quần chúng... Phải dự thảo xây dựng phương hướng hành động, phương án tác chiến, công tác bảo đảm.v.v... Đòi hỏi anh ta làm việc này thà cho anh ta chịu phạt bỏ đói còn hơn. Sở trường và khả năng duy nhất của anh ta về làm cán bộ tác chiến là được cử đi làm phái viên chiến trường. Nhiệm vụ này với anh ta rất thích hợp. Được đi đây đi đó có dịp “cà kê dê ngỗng” nhậu nhẹt tán tỉnh...

Sử dụng cán bộ không đúng người đúng việc là lỗi của lãnh đạo. Tôi đề nghị anh Năm Lê đồng ý bố trí anh ta xuống trung đoàn bộ binh 268. Nơi đây vốn khuyết một tham mưu phó trung đoàn.

Được quyết định của Bộ Tư lệnh, nhận nhiệm vụ mới tuy ở chức “quyền” nhưng Hai Đ. sướng như muốn phát điên. Chính cái đêm đến gặp tham mưu trưởng nhận nhiệm vụ mới là lúc anh buộc phải cho hắn xuống địa đạo khi xe tăng Mỹ ép sát mé rừng.

Trung đoàn bộ binh 268 thường đứng chân vùng Trảng Bỏ - Bờ Lới. Đơn vị thường xuyên nóng ra hoạt động vùng An Tịnh và một số xã Nam Trảng Bàng. Hai Đ. về đây như thả hổ về rừng. Xã An Tịnh là xã có phong trào du kích chiến tranh khá mạnh thuộc vùng tranh chấp. Về đêm nhiều ấp nhất là những ấp giáp vùng căn cứ ta hầu như ta hoàn toàn làm chủ. Mặt trời chưa khuất hẳn cán bộ, bộ đội... ùn ùn kéo vào các ấp đặt hàng lấy gạo mua bán lắm thứ. Là dịp mọi người bù khú tán tỉnh tổ chức nhậu nhẹt, đờn ca tài tử... Nơi này thường diễn ra những cuộc gặp gỡ người ngoài khu với kẻ trong thành ra hội ngộ.

Hai Đ. về đơn vị mới thời gian ngắn, không thể cưỡng lại lực hấp dẫn lôi cuốn anh ta vào vòng xoáy lắm thứ chuyện ở những xóm ấp này. Anh ta bị gài bẫy trụ lại ban ngày để cho bọn Mỹ đến tóm cổ.

Đ. bị bắt, tính gan lì dũng cảm như lời đồn đại ca ngợi anh ta “chạy thoát” đâu mất. Bị lôi ra khỏi hầm bí mật anh ta quy phục đầu hàng. Mỹ vớ được Hai Đ. như hốt được bạc, anh ta vốn cán bộ tác chiến tất nhiên phải nắm chắc tình hình hoạt động, tổ chức, vị trí các căn cứ cơ quan tham mưu phân khu 1, thứ mà quân Mỹ tốn bao công sức trong nhiều năm không lần ra dấu vết.

Bị bắt ngày 25 tháng chạp âm lịch, một ngày sau anh ta dẫn Mỹ vây đánh căn cứ Cá Rô (Bến Chùa). Củ Chi là một trong mấy căn cứ cơ bản của phòng tham mưu. Hiện nơi đây có một bộ phận 20 anh em của văn phòng trú đóng. Trong vùng còn nhiều cơ quan khác. Văn phòng đã tổ chức được một chuyến đi vượt sông Sài Gòn qua Củ Chi mua sắm lương thực, thực phẩm và nhu yếu phẩm cho Tết sắp đến.

Sáng ngày 26 tháng chạp Mỹ bất ngờ đổ quân vây chụp. Rừng khu vực này không lớn. Anh em xây dựng hai hệ thống địa đạo, một của văn phòng, một của ban thông tin. Nhưng của ai nấy biết. Người bộ phận này không rõ hệ thống địa đạo bộ phận kia. Địa đạo văn phòng, tên Hai Đ. quá rành. Hắn đã nhiều lần chui xuống bò lên. Cả hai miệng hầm hắn nắm trong tay.

Vận dụng chiến thuật “Bủa lưới phóng lao”, Mỹ dùng trực thăng chở quân bất ngờ đổ chụp nơi khu đất trống hình thành ngay thế vây chặt đón lỏng. Việc đầu tiên chúng chặn vít hai miệng hầm. Sau đó giở trò kêu gọi chiêu hôi dụ hàng, đe dọa đủ điều.

Cuộc đổ quân vây chụp của Mỹ thật bất ngờ. Anh chị em bên trong địa đạo trước cái chết gần kề động viên nhau thà hy sinh quyết không hàng giặc. Mọi người nắm tay nhau biểu thị lòng quyết tâm sắt đá. Anh em tổ chức hai đội trang bị AK, lựu đạn, bố trí hai đầu sẵn sàng tiêu diệt nếu tên nào có gan mò xuống. Mỹ có kinh nghiệm không bao giờ dám thò chân xuống hầm. Chúng chỉ ở bên trên la hét kêu gọi dụ dỗ... Đáp trả mọi cố gắng của chúng bằng sự im lặng. Mỹ cay cú ra lệnh dùng thuốc nổ đánh hầm. Chúng đào lỗ âm gần mép theo sống địa đạo chôn thuốc nổ cực mạnh lần lượt đánh từng đoạn một.

Đoạn địa đạo văn phòng dài 50 mét. Mỹ đánh từ hai đầu lại. Lúc còn 20 mét đoạn giữa, anh em phải dồn siết chặt bên nhau. Nhiều người bị chấn động của bộc phá mồm mũi rỉ máu. Nghe chúng đào lỗ chôn thuốc nổ trên đầu như tiếng cuốc đào huyệt chôn mình. Mọi người sẵn sàng đón đợi cái chết thê thảm trong năm hết Tết đến. Không ai dao động. Không lời đề nghị tìm cái sống nhục nhã. Có tiếng của đồng chí nào đó vang lên: “Bác Hồ ơi! Chúng con sắp đến với Bác đây!”.

Một điều ngẫu nhiên lạ lùng lại xảy ra, tiếng đào xới chôn mìn của bọn Mỹ bỗng ngừng hẳn. Mọi thứ tiếng ồn ào tất bật bên trên dịu dần, tản xa...

Thì ra đúng 18 giờ Mỹ ngưng hoạt động nghỉ tay tắm rửa ăn tối. Có thể chúng cho bọn “Việt cộng” như cá nằm trên thớt chạy đâu cho thoát.

“Mô phật, Bác Hồ linh thiêng đã cứu chúng con”!

Anh chị em sướng run. sắp phải vào cửa chết lại được quay lại. Đồng chí phụ trách lên tiếng: “nếu chúng đánh tiếp, chúng ta chết. Chúng ngừng đêm nay mọi người sẽ sống”.

Khi tên Hai Đ. ẩn trú trước đây trong địa đạo, chỉ có hai miệng hầm lên xuống. Khi hắn đi rồi anh em khoét thêm một ngách làm miệng hầm thứ ba được trổ giữa đoan địa đạo. Hắn không biết miệng hầm này.

Anh chị em kiên nhẫn đợi đến khuya khi quân Mỹ sau một ngày tất bật vất vả, chúng lăn ra ngủ say như chết. Anh em thành lập tổ cảm tử sẵn sàng chiến đấu kềm chân Mỹ để các đồng chí khác thoát vây nếu bị lộ. Lúc bấy giờ cách đó hơn 50 mét, một tổ thông tin từ miệng địa đạo bí mật của mình ngóng về hướng văn phòng hồi hộp lo âu cho đồng đội. Địa điểm này tên Hai Đ. chưa hề biết đến. Khi bắt được liên lạc với nhau anh chị em không xiết nỗi mừng. Đúng như từ cõi chết trở về.

Điều làm Mỹ sững sờ ngạc nhiên vì ngày hôm sau chúng tiếp tục đánh sập toàn bộ đoạn địa đạo còn lại. Chúng đinh ninh không một tên “Việt Cộng” nào thoát được chết. Chúng ra sức bươi móc nhưng chẳng thấy chi ngoài mấy bì gạo, một số thực phẩm, nhu yếu phẩm tung tóe trộn lẫn bụi đất vung vãi khắp nơi. Tuyệt nhiên không một xác người, một khẩu súng, một trang tài liệu, ngay cả một băng đạn để để làm chiến tích cũng không.

Chúng tôi sống chung với quân Mỹ cách nhau một dải rừng hẹp. Ban ngày mọi người sống và làm việc dưới địa đạo. Địa đạo nơi nào rộng nhất chỉ 1,2 mét, thường chỉ 0 8 đến 1 mét, chiều cao từ 1 đến 1,2mét, dưới rộng trên hẹp dần, như hình tam giác cân, đầu ôm tròn để tạo sự phân lực hợp lý, tăng thêm sự bền chắc. Cách 3 đến 4 mét có lỗ thông hơi moi xuyên hai bên hông đoạn hào để tạo dòng đối lưu không khí. Lỗ thông hơi dưới rộng gần bằng cái xô đựng nước, càng lên cao càng nhỏ dần, đến gần mặt đất chỉ còn cái lỗ nhỏ bằng ngón tay cái thông qua một đoạn tre chọc thủng mắt (nếu chung quanh đó có những bụi tre) hoặc một khúc cây mục rỗng ruột khó ai phát hiện. Xây dựng địa đạo một tầng hai tầng đã khó, nhưng khó nhất là khoét đào hệ thống thông hơi. Với chúng tôi nếu địa đạo một tầng, sống của nó phải dày 2 mét đất (mới đủ sức chống lại xe ủi, xe tăng cày xéo bên trên). Với độ dày này khoét lỗ thông hơi hai bên, đường khoét chênh chếch phải đến 2,5 mét. Địa đạo 2 tầng phải nhân gấp đôi. Từ dưới xoi lên, người xoi trong tư thế gò bó với chiều dài 5 mét không phải dễ làm. Cần có người tay nghề giỏi nhiều kinh nghiệm và có dụng cụ chuyên dùng. Dù ở sâu dưới đất miệng địa đạo đã lấp kín nhưng không gây khó thở, bên trong vẫn có gió lùa mát rượi, thậm chí nằm ngủ phải đắp chăn chống lạnh (tác dụng của lỗ thông hơi nếu đào đúng cách). Mọi tiếng động bên trên nghe rõ. Để làm việc như đọc tài liệu, sách báo hay viết lách, đánh máy chữ chỉ bằng một loại đèn cầy (sáp) vì nó không có muội khói gây độc ô nhiễm không khí. Nếu lấy được những khối pin máy vô tuyến điện của Mỹ, ta gắn bóng đèn pin để chiếu sáng quá tuyệt.

Trừ tham mưu trưởng và mấy cô gái, chúng tôi luân phiên trực gác. Các đồng chí cơ yếu về căn cứ riêng. Miệng địa đạo ẩn trong vùng gai rậm nhiều dây leo nên rất kín đáo. Bịt mảnh vải dù loang lổ điệp màu với cây rừng để ngụy trang, chúng tôi ló đầu khỏi miệng hầm quan sát.

Có chuyện xảy ra. Giữa trưa trời nắng gắt, không gió. Vào mùa khô cuối năm lá rụng đầy mặt đất chuẩn bị cho nẩy những nụ mầm xuân. Tôi đang làm việc dưới ánh nến chập chờn, đồng chí trực bò đến bên tôi với giọng nói hồi hộp trong hơi thở dồn dập:

- Mỹ đến anh Mười ạ!

- Mỹ đâu?

- Gần miệng địa đạo, cách em chừng mươi lăm mét.

- Nhiều không?

- Em nhìn chỉ thấy một thằng. Rõ... rõ ràng thằng Mỹ.

Tôi vội chui lên, từ từ nhích từng phần một nắp hầm dịch sang bên, phủ kín tấm vải dù ló đầu quan sát. Chẳng thấy gì ngoài ánh nắng trưa xuyên qua kẽ lá thành những đốm sáng lay động lắc lư. Tôi kiên trì nghe ngóng phóng tầm nhìn các hướng, tai căng ra nghe tiếng động. Suốt nửa giờ như thế vẫn không phát hiện điều gì nghi ngờ. Tôi nhủ thầm: “Bọn Mỹ không dám đi lẻ một thằng sâu vào rừng. Đồ nhát như thỏ đâu dám mò mẫm vào đây. Anh chàng này luôn ám ảnh bọn chúng. Thần kinh anh ta căng thẳng, lại giữa trưa nóng bức dễ tạo ra ảo ảnh. Chuyện bình thường. Tuy thế tôi không cho phép mình chủ quan khinh suất, đề phòng chúng có nhiều tên mai phục đâu đây. Không được khinh thường bọn trinh sát Mỹ rất thông thạo kỹ thuật do thám. Tôi tự đảm phiên trực này cho đồng chí ấy hơn một giờ. vẫn không thấy động tĩnh gì. Tôi yên tâm bàn giao cho đồng chí khác trở về với công việc của mình.

Chiều xuống, đợi mặt trời lặn hẳn, bóng tối bao trùm, sau khi trinh sát kỹ trong khu vực không thấy dấu vết bọn Mỹ thâm nhập, chúng tôi mới lên mặt đất hít thở không khí trong lành. Các chị em moi miệng hầm bếp, giếng nước thổi cơm tối. Mọi người luân phiên rửa ráy tắm giặt. Việc sinh hoạt bình thường nhưng khi làm lại không đơn giản. Chị nuôi nấu bếp ngoài việc che chắn không để ánh lửa lọt ra ngoài, còn làm sao không để thoát ra mọi thứ mùi không kình thường như khê khét... để bịt những cái mũi thính hơi của bọn trinh sát Mỹ. Khi tắm rửa muốn không để lại dấu vết chúng tôi dồn lá khô cành gãy qua một chỗ, nước không vung vãi làm ướt sạch lá cây. Mờ sáng hôm sau nước khô cào lá lấp làm sao không ai nhận ra có bàn tay con người nhúng vào việc này. Phải tạo ra cảnh tự nhiên y hệt như vốn có của nó. Mọi người lặng lẽ đợi bữa cơm tối. Gọi bữa cơm chứ khẩu phần mỗi người được sét chén nhỏ nấu bằng gạo hẩm với tí muối quẹt (muối pha loảng trong nước hòa chút bột ngọt cô đặc sền sệt).

Ăn xong, mọi người lặng im, kẻ dựa gốc cây trầm ngâm người xếp chân bằng ngồi như thiền. Không chuyện vãn, không phát tiếng sặc tiếng ho... điều gì muốn nói đã nói với nhau dưới địa đạo. Cần lắm đến gần bên nhau rỉ tai nói thầm. Không một ai được mắc võng. Nơi buột dây dễ để lại dấu vết trên thân cây...

Quân Mỹ mấy hôm đầu còn giữ bí mật. Vài ngày sau yếu tố bất ngờ không còn, chúng tha hồ la to lớn tiếng. Nhờ thế chúng tôi dọ biết từng cụm đóng quân của chúng. Gần chúng tôi nhất có một cụm Mỹ khoảng 40 tên đóng ngay bìa ủi bên trên đoạn địa đạo ăn thông từ căn cứ dự bị chúng tôi đang ém đến chỗ tiểu đội vệ binh.

Mờ sáng khi bóng sao mai nhô lên lấp ló trên ngọn cây, mọi người xuống địa đạo mang theo vắt cơm bằng nắm tay dành cho bữa ăn trưa.

Cứ thế, chúng tôi sống suốt 25 ngày đêm cùng quân Mỹ kiên trì vây hãm chúng tôi. Các cô gái chừng ấy thời gian không hề thấy được ánh sáng mặt trời.

Căn cứ, nơi Mỹ tấn công bị đào xới bươi móc nát tan hoang tìm ra hầu hết các địa đạo của từng bộ phận, hầm ngủ, hầm bếp giếng nước... Nhưng không mò đâu ra những thứ chúng cần như người, vũ khí, tài liệu, kho tàng để có cái làm chiến tích. Bộ Tư lệnh sư đoàn 1 bộ binh Mỹ tung vào cuộc vây quét này một lực lượng không dưới năm trăm tên vừa lính chiến đấu, lính công binh, biệt kích, trinh sát và cả chiến đoàn xe tăng thiết giáp, được máy bay ngày đêm yểm trợ nhằm vào một nhóm không quá 20 người của chúng tôi. Mỹ thực hiện cuộc vây quét dài ngày mà suốt 10 năm chống Mỹ tôi chỉ gặp lần này là một.

Sau khi thoát khỏi vòng vây, một hai ngày sau, bộ máy hoạt động của chúng tôi tiếp tục vận hành thông suốt. Chúng tôi vẫn duy trì đều đặn hàng ngày việc liên lạc bằng vô tuyến điện với các cơ quan chỉ huy lãnh đạo cấp trên. Cũng từ đây - nơi chúng tôi - vẫn phát đi những chỉ thị mệnh lệnh, kế hoạch, ý kiến giải quyết những vấn đề cụ thể cho các đơn vị địa phương dưới quyền.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn