CHIẾN THUẬT “BỦA LƯỚI PHÓNG LAO”
Đoạn trích là hồi ức nghẹt thở về cuộc đấu trí, đấu lực suốt 25 ngày đêm của lực lượng tham mưu Phân khu 1 dưới lòng địa đạo vùng Bắc sông Sài Gòn vào dịp Tết năm 1970. Trước sự phản bội của một trợ lý tác chiến, quân Mỹ đã triển khai chiến thuật "Bủa lưới phóng lao" với quy mô khổng lồ nhằm xóa sổ căn cứ, buộc tác giả và đồng đội phải rút xuống hệ thống địa đạo hai tầng để đối mặt với những đợt đánh thuốc nổ và đào bới điên cuồng ngay trên đầu. Trong tình thế "cá nằm trên thớt", nhờ bản lĩnh ki
Mỹ áp dụng chiến thuật này là dùng lực lượng bộ binh hay kỵ binh không vận kết hợp bộ đội thiết giáp được sư yểm trợ của không quân từ các căn cứ hoặc căn cứ dã chiến cơ động đường bộ hoặc đường không hình thành thế bao vây bất ngờ một khu vực nào đó. Nơi đây Bộ Tư lệnh Mỹ đã nắm được qua tin tình báo có lực lượng ta như cơ quan, kho tàng, địa điểm hội nghị học tập, trường huấn luyện v.v... Sau đó thực hành đột kích bằng xe tăng cùng bộ binh thọc sâu vào trung tâm căn cứ ta đánh phá triệt hạ. Sử dụng biệt kích chó săn... Lùng sục tìm kiếm địa đạo, hầm bí mật, kho tàng. Có khi chà đi xát lại hàng tuần hoặc lâu hơn, lần lượt trên từng khu vực.
Tùy từng đối tượng, Mỹ sử dụng lực lượng quy mô lớn, vừa hoặc nhỏ có sự trợ lực của máy bay ném bom hoặc trực thăng vũ trang.
Mỹ áp dụng chiến thuật này khá phổ biến ở chiến trường Miền Đông Nam Bộ. Địa bàn phân khu 1, Mỹ áp dụng chủ yếu trong thời kỳ này ở vùng giải phóng Bắc sông Sài Gòn thuộc xã Thanh Tuyền, Thanh An (huyện Bến Cát) phía Nam Sở cao su Dầu Tiếng.
Chúng tôi từ Củ Chi lui về căn cứ phía sau ở bắc sông Sài Gòn. Căn cứ được xây dựng nằm giữa trục Tà Leng – Bàu Trâm với Bưng Cồng thuộc xã Thanh Tuyền. Do địch phản kích truy lùng ráo riết, các bộ phận thường trực Phòng Tham mưu phải tách thành hai bộ phận đóng hai căn cứ cách nhau một tiếng rưỡi đồng hồ đi bộ. Căn cứ Cá Rô (gần Bến Chùa thuộc Xã Thanh An) gồm anh chị em thuộc bộ phận tài vụ quản trị, một phân đội vệ binh vận tải. Tại đây cũng là nơi tập kết để vượt sông Sài Gòn qua Củ Chi, Trảng Bàng đột nhập các ấp đông dân mua lương thực thực phẩm, các loại nhu yếu phẩm khác. Căn cứ còn lại có bộ phận thường trực đảm bảo chỉ huy như ban tác chiến, ban cơ yếu, văn thư đánh máy, liên lạc công vụ và một tiểu đội vệ binh. Các ban bệ khác như quân báo, thông tin, công binh, pháo binh, quân lực... Mỗi ban có căn cứ riêng. Từng bộ phận có hầm ngủ âm sâu xuống đất, nắp hầm đắp đất nện khá dày chống được đạn pháo, cối và đạn bắn thẳng từ trên máy bay. Người trong hầm đứng đi lại dễ dàng. Mỗi hầm mắc được hai tầng võng nằm từ ba đến bốn người. Ngoài hầm ngủ, mỗi bộ phận xây dựng địa đạo riêng dài đến vài mươi mét. Bếp nấu ăn kiểu Hoàng Cầm được âm sâu xuống đất như hầm ngủ. Bếp và giếng nước có nắp đậy kín đáo. Có động, được ngụy trang như hầm bí mật và địa đạo. Hầm ngủ của tôi và của tham mưu trưởng cách nhau 30 mét. Trong hầm ngủ của tôi có hầm bí mật riêng cho 5 người trú ẩn không quá gò bó trong sinh hoạt. Hầm của tham mưu trưởng có địa đạo dài và vững chắc.
Thường lệ mỗi sáng kim dạ quang đồng hồ chỉ bốn giờ là tôi tỉnh giấc. Mọi thứ thu vén gọn vào chiếc bồng đeo sau lưng, tay xách xắc đựng tài liệu, tôi luồn qua những lùm cây rậm đến hầm tham mưu trưởng. Sương đêm ướt đẫm lá cây quét vào người như vừa trải qua cơn mưa sáng. Tôi đến gặp đúng lúc anh Năm Lê từ hầm ngủ chui lên. Vừa thoáng thấy tôi, anh nói: “Linh tính mình cảm thấy hôm nay chắc có chuyện gì đó Mười Nỹ ạ?”
Căn cứ chúng tôi trong khu rừng trước đây liên hoàn nhau chạy dài hàng chục ky lô mét. Bề ngang xấp xỉ thế. Mỹ khi chưa có khả năng ủi trắng toàn bộ như bên Củ Chi, chúng cho ủi thành nhiều đường ngang dọc trở thành những ô vuông như bàn cờ, chia lô như rừng cao su. Mỗi đường ủi rộng khoảng 50 mét. Từng ô rừng mỗi cạnh từ 300 đến 400 mét. Làm thế, Mỹ có dụng ý phá nát các căn cứ ta không còn thế liên hoàn với nhau, ta dễ bị bộc lộ mục tiêu, chúng lại dễ quan sát kiểm soát từ trên không. Rừng bạt ngàn mênh mông được chia thành ô phân thành lô cho hoạt động của pháo binh và không quân nhanh chóng chính xác. Tận dụng đường ủi để bộ binh và thiết giáp thực hiện bao vây phong tỏa và đột kích vào những ô rừng nghi hoặc phát hiện có mục tiêu.
Căn cứ chúng tôi bị chia cắt giữa chính và dự bị bởi những đường ủi này. Căn cứ chính phía nam, dự bị phía bắc. Hầm ngủ của tôi chỉ cách đường ủi không quá 50 nét. Cách căn cứ về hướng Tây nam khoảng 2000 mét đường thẳng là chốt dã chiến hỗn hợp bộ binh, xe tăng, xe ủi công binh của Mỹ ở Rạch Kiến cạnh tỉnh lộ 14. Xa hơn phía Đông bắc căn cứ khoảng 7 ky lô mét có một chốt dã chiến khác của Mỹ đóng ở Phố Bình. Những chốt này được sự bảo vệ của các cụm pháo ở Lai Khê, Bến Cát, Dầu Tiếng thuộc sư đoàn 1 bộ binh. Hàng ngày thiết đoàn trên 20 chiếc tăng và xe bọc thép M113 từ Rạch Kiến lên Phố Bình và ngược lại. Đường đi của chúng trở thành con đường quân sự làm gấp chạy cặp lộ ủi mép rừng phía nam căn cứ chỉ cách chúng tôi một dải rừng hẹp 200 mét. Có lần lúc chiều tôi không hiểu sao đoàn chiến xa dừng quân trụ lại đêm sát mép rừng cách cửa hầm địa đạo của văn phòng 50 mét. Lợi dụng lúc trời nhá nhem tối với kỹ thuật động tác đặc công tôi tiếp cận xem chúng muốn giở trò gì? Định tấn công vào căn cứ lúc mờ sáng chăng? Té ra một chiếc tăng đứt xích hay hỏng máy. Bọn lính đang hì hục sửa chữa. Tôi bí mật lần tới một chiếc M113 đang cảnh giới lù lù sát mép rừng. Cự ly giữa tôi và nó vừa tầm ném lựu đạn. Chỉ một quả B40 tôi sẽ trở thành dũng sĩ diệt Mỹ. Làm việc đó lợi bất cập hại. Căn cứ và sinh mệnh anh chị em khó được bảo toàn. Trời tối đen, tôi ngồi thu lu sau gốc cây cụt xem bọn Mỹ chạy tới chạy lui hì hục móc kéo khối sắt nằm vạ giữa đường.
Chúng tôi sống những ngày hết sức căng thẳng. Không phải khoa trương tự đề cao và khuếch đại quá đáng, rõ ràng nếu không có hệ thần kinh vững vàng, chúng tôi không thể sống trong sự nơm nớp lo âu từng phút từng giờ, ngày này qua tháng khác... Cũng có thể không cách nào khác đành chấp nhận sự nguy hiểm luôn luôn rình rập bên mình riết chúng tôi đâm liều tới đâu hay tới đó.
Thường lệ mờ sáng tôi đến chỗ anh Năm Lê. Nếu không ngủ chung hầm với anh, anh yêu cầu tôi phải thế. Hai người luôn ở bên nhau vì công việc và cũng có đồng đội bên cạnh cảm thấy yên tâm.
Đã 6 giờ, màn đêm ở đây chưa tan. Bộ quần áo ướt đẫm sương trên người tôi đã khô. Tôi bứt mấy chiếc lá nhám chà mặt kính đồng hồ đeo tay để làm mất đi các vết xước. Anh Năm Lê gọi giật tôi:
- Mười Nỹ, nghe tiếng trực thăng không?
Tôi gật đầu, tay vẫn miết lên mặt kính chiếc đồng hồ hiệu SeiKo, bụng nghĩ: “trực thăng lúc nào mà chả có trên trời”.
Anh Năm Lê nói tiếp:
- Cậu nghe xem, chắc tiếng động cơ của máy bay tham mưu.
Tôi lại gật đầu xác nhận. Ở chiến trường lâu ngày, trong chúng tôi ai cũng dễ phân biệt tiếng động cơ các loại trực thăng tải quân, trực thăng đầu đỏ vũ trang, trực thăng cá lẹp, cá rô, xương cá, quả chuối bay, cần cẩu loại kỳ đà, trực thăng tham mưu chỉ huy... Rừng kín mít không nhìn thấy máy bay nghe tiếng động cơ là biết loại nào.
- Đúng là nó anh Năm ạ! - một lần nữa tôi xác nhận - nó bay rất cao và chậm ngay trên đầu. Nếu nó bay thẳng thì ổn. Nhưng vòng lại là có chuyện.
Quả thật, tiếng máy bay đã quay lại. Nó lượn một vòng, hai vòng rồi ba vòng. Mệnh lệnh ban ra; “Xóa kỹ dấu vết. Tất cả xuống địa đạo”.
Địa đạo của tham mưu trưởng tôi chưa một lần chui xuống. Hầm ngủ của anh rất chắc chắn, đủ sức chống lại róckét, đạn pháo nặng, bom chụp. Bên trong anh cho đào 4 cái hàm ếch khoét sâu vào vách hầm. Một trong số hàm ếch trên anh dùng làm bếp đun nước. Trên mặt đất đầy tro than. Vách ám khói một màu đen nham nhở.
Anh nói với tôi: “Mười Nỹ ở đây với mình. Cho toàn bộ anh chị em tác chiến, văn phòng, nuôi quân và cơ yếu đều dồn vào cả đây. Có chuyện gì không bị chia cắt”.
Không hiểu sao lần này anh ra lệnh như thế. Mỗi lần có động căn cứ ai nấy ở. Mọi người ngoài hầm ngủ ai cũng có địa đạo riêng. Anh nói tiếp:
- Địa đạo của mình miệng nó bên trong hầm ngủ. Bên dưới mình cho xây dựng 2 tầng, chứa trên 30 người. Ta ở đây chỉ khoảng chừng ấy người. Có 3 ngách thoát hiểm.
Tôi đang tập trung anh chị em thì Sáu Thành chạy đến Anh là cán bộ cơ yếu, một con người nhiều kinh nghiệm tổ chức bố phòng. Anh nói:
- Anh Năm anh Mười ạ! Có tiếng tăng từ Phố Bình xuống, Rạch Kiến lên. Vài phút nữa chắc chắn ta bị Mỹ oanh kích và tấn công. Hai anh xuống ngay miệng này, tôi ở trên ngụy trang. Anh chị em khác tôi cho xuống miệng thứ hai, không tập trung nhiều ở đây.
Anh Năm Lê bước xuống hầm ngủ khều mấy cọng thép ẩn dưới đống tro trong bếp nhắc nắp đậy lên lộ ra miệng hầm bí mật. Tôi ở bên anh từ lâu mà không biết nơi đó là miệng địa đạo. Sáu Thành báo cho biết hai chỗ sẽ gài mìn. Một quả gài đường vào cách miệng hầm ngủ mười mét. Một quả gài ngay bậc lên xuống. Nếu trái này nổ đất cát sẽ phủ trùm kín miệng địa đạo.
Mọi việc tiến hành khẩn trương chu tất không sơ suất.
Bảy giờ pháo binh Mỹ bắt đầu hoạt động. Pháo từ căn cứ Lai Khê bắn lại, Bến Cát bắn qua, Dầu Tiếng bắn xuống, ít ra cũng mươi lăm khẩu bắn cấp tập nhằm vào ô rừng có căn cứ chúng tôi. Đạn rải đều trên diện tích nhỏ hẹp hơn một hecta.
Mọi người đều chuyển xuống tầng hai của địa đạo. Tôi ngồi lại tầng một bên dưới nấp hầm nơi anh Năm Lê làm bếp để theo dõi nghe ngóng tình hình. Tôi tin Sáu Thành đã ngụy trang kỹ. Việc gì chứ tài gài mìn và ngụy trang anh chẳng kém ai, rất khéo tay. Những quả đại bác xuyên sâu phá công sự thật khủng khiếp. Tiếng nổ của nó trong lòng đất chỉ nghe ục ục, nhưng ngồi trong hầm cảm thấy như một cơn địa chấn với cường độ rất mạnh.
Pháo ngừng bắn sau mươi lăm phút oanh kích. Tiếng trực thăng bầy ầm ầm lao đến. Chúng nã trọng liên, đại liên khắp rừng để dọn bãi hạ cánh. Tôi ngồi ở tầng một nghe rõ mồn một mọi diễn biến trên mặt đất. Tiếng gầm rú của động cơ mấy mươi chiếc tăng và bọc thép, tiếng rít của cánh quạt trực thăng hạ cánh, tiếng la hét của bọn lính Mỹ vừa lao xuống đất... Làm cụm rừng bé xíu chao đảo nghiêng ngã như chú thỏ con bị hàng chục sói dữ bao quanh nhe nanh múa vuốt chực nuốt sống ăn tươi.
Quân Mỹ bao vây toàn bộ khóm rừng, hình thành bủa lưới vòng rộng vòng hẹp, vòng trong vòng ngoài. Khi đổ quân ngoài số trực thăng vũ trang yểm trợ, thường mỗi tốp có từ 7 đến 9 chiếc chở quân. Mỗi chiếc trừ giặc lái có 7 tên lính chiến đấu. Có tất cả 7 lần tốp. Tôi ước tính một tiểu đoàn bộ binh có trên 400 đến 450 quân. Tôi lẩm bẩm với mình: “Chúng đã bủa lưới lúc nào thì phóng lao đây”.
Có tiếng chân đi rầm rập. Tôi nghe cây lá bị xéo đẩy rào rào từ bìa rừng vào hướng hầm ngủ của tôi rồi đến hầm tham mưu trưởng. Chúng kéo nhau đi như đã thông thuộc đường đi nước bước, mặc dù trước khi xuống địa đạo, anh chị em ngụy trang rất kỹ. Ngày thường chúng tôi qua lại không để hình thành dấu mòn. Tôi nghe rõ giọng xì xồ của chúng.
Một tiếng nổ đanh gọn. Tiếp theo tiếng rên rỉ, la thét ồn ào chộn rộn. Tôi quá đổi mừng khấp khởi. Một đồng chí từ tầng hai chui lên bò đến bên tôi thì thào: “Anh Năm hỏi tiếng nổ gì thế? Chúng định dùng mìn đánh hầm ta ư?”. Tôi rỉ tai anh bảo: “Đừng lo đấy là tiếng mìn của Sáu Thành gài bên ngoài hầm. Ít ra cũng một đôi thằng lên thiên đàng. Báo lại anh Năm và anh chị em yên tâm.
Bên trên bọn Mỹ đang phát cây. Tôi biết chúng dọn bãi cho trực thăng cứu thương hạ cánh.
Trái mìn nổ gây thương vong làm bọn Mỹ chậm mất thời gian tìm kiếm miệng địa đạo. 12 giờ trưa, bọn Mỹ lúc này la lối ầm ĩ hơn. Tiếng trực thăng hạ cánh, 10 phút sau bay đi. Tôi vái trời mong sao chúng chui xuống hầm qua bậc thang nhiều cấp thế nào cũng dính quả thứ hai của Thành. Quả thật, tiếng nổ lần này to rền hơn quả thứ nhất. Có thể Thành gài quả thứ hai có sức công phá lớn, mạnh hơn. Tiếng nổ trong hầm kín nên âm vang to hơn ngoài trời. Bọn Mỹ la hét chạy tới chạy lui rầm rập. Ngồi sâu dưới tôi càng khoái chí. Trái mìn nổ sẽ văng tung đất cát càng lấp kín miệng địa đạo trong hàm ếch được ngụy trang bằng cái bếp nám khói đen.
Mỹ loay hoay hơn tiếng đồng hồ giải quyết việc cấp cứu chuyển thương. Sau đó tôi nghe tiếng cuốc đào bới trong hầm ngủ. Mỹ cố tìm miệng địa đạo. Tôi tin chúng khó phát hiện trừ phi có người chỉ dẫn. Nghĩ đến đây tôi đâm lo. Nếu ai đó trong cơ quan phản bội dẫn Mỹ đến thì chuyện sống chết của chúng tôi quyết định trong một hai giờ sắp tới.
Anh Năm Lê cho người lên gọi tôi xuống tầng hai hội ý.
Anh hỏi tôi nhận định chuyện này thế nào? Tôi đưa sự nghi ngờ có người dẫn Mỹ đến căn cứ chúng tôi ra bàn với anh.
Không phải ngẫu nhiên chúng thọc thẳng đến hầm ngủ của tôi và anh như đã từng quen biết. Nếu có kẻ phản bội, người đó là ai? Số anh em trên căn cứ Cá Rô không ai biết hầm anh.
|



