Khác

Chiến tranh biên giới phía bắc năm 1979 - Nhìn từ góc độ công pháp quốc tế

Chiến tranh biên giới phía bắc năm 1979 - Nhìn từ góc độ công pháp quốc tế

Phú Thọ11/03/2026c (Đoàn Phúc Yên)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Khi đại bác lên tiếng thì luật pháp im lặng” - câu nói này không chỉ đúng với cuộc chiến tranh biên giới Việt - Trung năm 1979. Những thiết chế chính trị - an ninh quốc tế đã không thể cứu Việt Nam khỏi một cuộc chiến với đất nước anh em chung ý thức hệ và chung đường biên giới. Tuy nhiên, khi độ lùi của lịch sử đã đủ để cho phép nhìn lại cuộc chiến ngắn ngủi nhưng đẫm máu này, cần thiết phải đặt sự bùng nổ của cuộc chiến dưới lăng kính công pháp quốc tế. Chỉ khi nhìn nhận lại cuộc chiến dưới các chuẩn mực công pháp quốc tế, thì hai nước - hai dân tộc, cũng như cộng đồng quốc tế mới thực sự rút ra được bài học kinh nghiệm, để tránh những hiểm họa binh đao trong tương lai.

Sự bùng nổ của chiến tranh: jus ad bellum và jus in belloHiểu một cách khái quát, công pháp quốc tế là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh mối quan hệ giữa các chủ thể công pháp quốc tế (mà chủ yếu là các quốc gia). Luật chiến tranh có lẽ là một bộ phận ra đời sớm nhất của công pháp quốc tế, gắn liền với lịch sử chiến tranh của loài người.img_0Hai nhóm vấn đề quan trọng của luật chiến tranh, đó là jus ad bellum (quyền tiến hành/phát động chiến tranh), và jus in bello (quyền hành xử/ứng xử trong chiến tranh). Jus ad bellum là tập hợp các chuẩn mực, các lí do hợp pháp để tiến hành một cuộc chiến tranh vũ trang; còn jus in bello là “bộ quy tắc ứng xử” của các bên tham chiến, nhằm lại giảm sự đau khổ và hậu quả của chiến tranh, như quy chế đối xử với tù binh, với dân thường, không sử dụng một số loại vũ khí như bom chùm, vũ khí xạ sinh hóa (NBC) …Trong bài viết này, chủ yếu tập trung phân tích về sự bùng nổ của cuộc chiến, dưới góc độ jus ad bellum. Câu hỏi nghiên cứu chủ yếu được đặt ra là: Liệu Trung Quốc có đủ lí do hợp pháp để tiến hành chiến tranh chống Việt Nam hay không? Và lí do thực sự của cuộc chiến là gì?Chiến tranh trừng phạt dưới vỏ bọc “Đối Việt tự vệ hoàn kích chiến”Trong lịch sử, thường có ba lí do để biện minh về quyền tiến hành chiến tranh của một quốc gia (jus ad bellum): Đó là (i) tự vệ (self-defence), (ii) chiến tranh phòng ngừa (preventative war), và (iii) chiến tranh trừng phạt (punitive war).Tuy nhiên, sau năm 1945, thì chỉ còn các cuộc chiến tranh tự vệ là hợp pháp, theo điều 51 của Hiến chương Liên Hợp Quốc (Không có một điều khoản nào trong Hiến chương này làm tổn hại đến quyền tự vệ cá nhân hay tập thể chính đáng trong trường hợp thành viên Liên hợp quốc bị tấn công vũ trang cho đến khi Hội đồng bảo an chưa áp dụng được những biện pháp cần thiết để duy trì hoà bình và an ninh quốc tế). Ngoài ra, sự ra đời của định chế Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc cũng hợp pháp hóa các hoạt động quân sự thuộc thẩm quyền của Hội đồng bảo an.Với cuộc chiến tranh biên giới phía bắc năm 1979, phía Trung Quốc gọi đây là “Đối Việt tự vệ hoàn kích chiến”, tức Chiến tranh đánh trả tự vệ trước Việt Nam. Điều này mang hàm ý rằng đây là một cuộc chiến tự vệ, phù hợp với điều 51 Hiến chương Liên Hợp Quốc. Song trên thực tế, các bằng chứng lịch sử và những lập luận pháp lý đã bóc trần cuộc chiến này như một cuộc chiến tranh trừng phạt, để “dạy cho Việt Nam một bài học” như lời của ông Đặng Tiểu Bình.Lẽ dĩ nhiên, đặt trong bối cảnh chính trị thế giới sau năm 1945, khi mà chỉ có các hành vi tự vệ được cho phép, thì tất cả các quốc gia - không chỉ Trung Quốc - đều tìm cách biện minh cho cuộc chiến như là một hành vi tự vệ. Điều này dẫn đến một câu hỏi: Điều gì phân biệt một cuộc chiến tranh tự vệ với một cuộc chiến tranh trừng phạt?Chiến tranh trừng phạt chưa bao giờ biến mất trong chính trị quốc tếMột cách chung nhất, chiến tranh trừng phạt có thể được định nghĩa là sự phản ứng cao nhất của một quốc gia đối với một quốc gia khác, vì một hành vi được cho là sai trái. Hành vi sai trái này được coi là lí do cho sự trừng phạt, giúp gia tăng tính chính nghĩa của cuộc chiến.Thời kì Trung cổ, các cuộc chiến tranh trừng phạt thường nhân danh Chúa. Trong thời kì hiện đại, với sự phát triển của các định chế an ninh quốc tế như Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc, quan điểm về việc một quốc gia có thể trừng phạt một quốc gia khác bằng chiến tranh ngày càng mất chỗ đứng. Chỉ còn một số học giả vẫn ủng hộ chiến tranh trừng phạt. Những học giả này dựa vào hai lập luận chính để bảo vệ việc tiến hành chiến tranh trừng phạt, đó là: (i) chiến tranh trừng phạt được thực hiện như một sự trả đũa (retribution) nhằm cân bằng lại những điều mà quốc gia trừng phạt đã phải chịu đựng đối với quốc gia bị trừng phạt; (ii) một cách thực dụng để khôi phục trật tự quốc tế, bằng cách trừng phạt một quốc gia cho đến khi quốc gia đó từ bỏ việc xâm phạm trật tự quốc tế.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn