TỪ CƠ SỞ NÀY I/ BẦU TRỜI, MẶT ĐẤT VÀ SÓNG ĐIỆN TỪ
Từ thế kỷ VII trước công nguyên, nhà triết học Hy Lạp Pha-le-xu Mi-lét-xki đã nói về đặc tính kỳ lạ của hò phách là sau khi cọ sát vào len thì hút được những vật nhẹ. Từ Hy Lạp « ê-léc-trông » (nghĩa là hổ phách) bây giờ trở thành tên một ngành khoa học, kỹ thuật hiện đại, đầy hấp dẫn : Môn vô tuyến điện tử.
Một thanh nam châm đặt ở vị trí nào đó sẽ tạo ra chung quanh nó một từ trường tĩnh. Một vật tích điện thì tạo ra chung quanh nó một điện trường tĩnh. Điện trường và từ trường sinh ra từ những nguồn không chuyền động này tồn tại độc lập với nhau. Nhưng nếu điện trường hoặc từ trường thay đổi thì khoảng không gian chung quanh xuất hiện đồng thời cả điện trường và từ trường thay đổi. Nói khác đi, từ trường thay đổi sinh ra chung quanh nó điện trường thay đổi, theo quy luật cảm ứng điện từ; ngược lại, khi điện trường thay đổi lại sinh ra một từ trường thay đổi. Chúng tồn tại cùng nhau như hai mặt của một quá trình, người ta gọi là trường điện từ.
Một hòn đá được ném xuống mặt nước phẳng lặng, nó sẽ tạo ra sóng, sóng lan dần ra. Nếu trường điện từ được tạo ra ở một vùng nào đó của không gian, nó cũng sẽ lan ra các vùng còn lại của không gian với tốc độ không đổi. Nếu trường điện từ được tạo ra có tính chất tuần hoàn, sự lan truyền trường đó mang tính chất sóng.
Vì là sóng điện từ trường, nên nó có thành phần điện trường và từ trường. Các thành phần này nằm vuông góc với nhau và đều vuông góc với phương truyền sóng.
(xem hình dưới) Nếu thành phần điện trường nằm trong mặt phẳng thẳng đứng, gọi là sóng có phân cực thẳng đứng. Nếu thành phần điện trường nằm trong mặt phẳng nằm ngang, gọi là sóng phân cực nằm ngang. Còn nếu nó vừa đi vừa quay, thì sẽ có phân cực tròn hoặc phân cực en-líp.
Cũng như đối với sóng cơ học, sóng điện từ có độ dài sóng (bước sóng) λ. Bước sóng có liên quan với tần số dao động f và tốc độ truyền lan sóng V:
λ = V/f Sóng điện từ có bước sóng khác nhau và có tên khác nhau.
Sóng điện từ có bước sóng bằng một phần hai nghìn mi-li-mét, có thể nhìn thấy được bằng mắt người, đó là sóng ánh sáng, cũng có thể ghi sóng đó bằng dụng cụ quang học. Còn các sóng khác, mắt người không nhìn thấy được, chỉ phát hiện được chúng nhờ các dụng cụ khác, như Đài tiếng nói Việt Nam truyền bản tin và ca các sóng 25 m, 31 m, 49 m và 297 m... Sóng có bước sóng 600 m được dành riêng để phát đi các tín hiệu tai nạn của tàu biển. Tất cả các sóng đó chỉ có thể phát hiện bằng dụng cụ quen thuộc là máy thu vô tuyến điện (ra-đi-ô). | |
« Sửa lần cuối: 22 Tháng Sáu, 2020, 08:40:59 pm gửi bởi Giangtvx » | Logged
|
|
|
| Giangtvx Thượng tá  Bài viết: 25560 | 
| Re: Chiến tranh điện tử« Trả lời #5 vào lúc: 10 Tháng Ba, 2020, 05:25:21 am » | Sóng vô tuyến chia ra các dải như sau: (xem bảng 1 phía dưới) Bảng trên, thống kê những sóng điện từ dải sóng hạ âm đến dải sóng quang học.
Những sóng trong dải từ 1 mi-li-mét đến 10 mét thường gọi là sóng cực ngắn. Dải sóng dề-xi-mét và xăng-ti-mét, có khi còn gọi là sóng siêu cao. Cũng có nơi coi từ sóng siêu cao đồng nghĩa với từ sóng cực ngắn. Một số noi gọi sóng đề-xi-mét và xăng-ti-mét là sóng mi-crô (hay vi ba).
Trước đây, khi mới phát hiện ra sự truyền lan sóng điện từ, người ta chưa hiểu rõ bản chất của nó, và giải thích rằng: sóng điện từ phải truyền lan trong một chất ê-te đàn hồi nào đó không có màu sắc, không có mùi vị, không có trọng lượng.
Ngày nay, người ta dã xác định được bản chất của nó là sóng truyền lan trong không khí và truyền lan trong chân không. Trong chân không, sóng truyền lan tốt hơn trong tất cả các môi trường khác.
Để dễ tính toán, người ta dùng khái niệm không gian tự do, đó là không gian vũ trụ bao la, không có mặt trời, không có trái đất, không có tất cả, chỉ có không gian, thời gian và sóng điện từ mà thôi. Trong môi trường như vậy, sóng truyền theo đường thẳng với tốc độ không đổi là 300.000.km/gy. Trong các môi trường thực tế, sóng truyền với tốc độ chậm hơn. Tuy vậy, nếu môi trường đó là không khí thì vẫn coi rằng quy luật truyền lan sóng không bị thay đổi.
Điều kiện truyền lan sóng điện từ có ảnh hưởng rất lớn đến các đường vô tuyến điện nói chung. Một trong những đặc tính cơ bản của đường vô tuyến điện là cự ly hiệu dụng. Cự ly hiệu dụng được xác định bởi máy thu, máy phát, và còn phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện truyền lan sóng vô tuyến. Cả một số đặc tính kỹ thuật khác cũng phụ thuộc vào điều kiện truyền lan này. Chẳng hạn, nếu điều kiện truyền lan sóng thay đổi thì độ chính xác xác định mục tiêu của đài ra-đa cũng thay đồi.
Sóng vô tuyến cũng như ánh sáng đều có những « vật trong suốt», sóng đi qua chúng hoàn toàn tự do, và những « vật không trong suốt » giữ sóng lại. Rất nhiều vật không trong suốt với sóng ánh sáng, lại dễ dàng cho sóng vô tuyển ở những dải sóng khác đi qua. Ngược lại, các tầng cao của bầu khí quyền trong suốt với ánh sáng, lại có thể là vật cản không thể vượt qua được của sóng vô tuyến ở các dải sóng dài, sóng trung, sóng ngắn.
Khi truyền lan trong các vật, sóng bị hấp thụ. Môi trường khác nhau, sóng bị hấp thụ với mức độ khác nhau.
Sóng vô tuyến truyền lan trong các môi trường không đồng nhất cũng bị phản xạ, tán xạ, khúc xạ như sóng ánh sáng.
Khi các đài phát và đài thu đều đặt trên mặt đất thì môi trường truyền lan sóng có sự tham gia của mặt đất và khí quyền. Trên hình 2 cho thấy sóng truyền từ đài phát đến đài thu hoặc từ ra-đa đến mục tiêu có thể trực tiếp hoặc phản xạ từ mặt đất.
(xem hình 2 phía dưới) | |
« Sửa lần cuối: 22 Tháng Sáu, 2020, 08:53:47 pm gửi bởi Giangtvx » | Logged
|
|
|
| Giangtvx Thượng tá  Bài viết: 25560 | 
| Re: Chiến tranh điện tử« Trả lời #6 vào lúc: 10 Tháng Ba, 2020, 05:33:28 am » | Trong trường hợp trên, trường ở điểm A là cộng tác dụng của sóng truyền trực tiếp và sóng phản xạ từ mặt đất.
Tùy thuộc vào pha và độ Ị lớn của chúng, trường tổng Ị cộng sẽ bị giảm đi hoặc có khi tăng lên. Do đó, cự ly hiệu dụng của đài ra-đa ở một số hướng giảm đi đáng kể, còn ở một số hướng khác lại tăng lên so với cự ly hiệu dụng trong không gian tự do.
Mức độ ảnh hưởng phản xạ và hấp thụ từ mặt đất đến trường ở điểm thu xác định bởi hình dạng bề mặt quả đất và các tham số điện của mặt đất. Sóng càng ngắn thì ảnh hưởng đó càng lớn, nếu có một vật cản nằm giữa máy phát và máy thu thì việc thu tín hiệu bị hạn chế hoặc hoàn toàn không thu được. Tuy nhiên, sóng vô tuyến cũng có khả năng đi vòng quanh các vật cản không trong suốt và gọi là nhiễu xạ. Như vậy, sóng dài có khả năng đi vòng quanh vật cản tốt hơn sống ngắn.
Dạng hình cầu của quả đất có ảnh hường lớn đến sự truyền lan sóng điện từ trên mặt đất. Vấn đề là phải xác định khả năng sóng vượt qua chỗ vòng đó như thế nào. Những máy thu thanh thông thường có thể thu tín hiệu của các đài phát thanh cả trong các trường hợp nếu xét tương đối với máy thu, thì các đài đã nằm khuất sau chỗ vòng.
Các đài ra-đa làm việc ở những dải sóng tương đối ngắn thì không thể sử dụng để phát thanh và cũng không thể phát hiện mục tiêu trong vùng khuất. Ở những sóng này, điều kiện đầu tiên để thu được tín hiệu là ăng-ten thu phải nhìn thấy ăng-ten phát. Người ta gọi đó là tính chất nhìn trực tiếp, giống như đối với sóng ánh sáng. Khi đó, cự ly cực đại đề ăng-ten thu nhìn thấy ăng-ten phát (hay ra-đa nhìn thấy mục tiêu) là :
(xem bảng công thức phía dưới)
Ở cự ly xa hơn nữa, sóng không đến được, người ta gọi t vùng tối.
(xem hình 3 phía dưới)
Người ta chia khí quyển thành ba tầng: đối lưu, bình lưu và i-ông (tầng điện ly).
Tầng đối lưu kéo dài đến độ cao từ 10 — 12 km.
Tăng bình lưu từ 10 — 12 km đến 60 km.
Tầng i-ông trên 60km.
Tầng đối lưu, là tầng không đồng nhất về mặt điện. Mật độ không khí giảm dần khi lên cao. Nhiệt độ và độ ẩm cũng thay đồi theo chiều cao. Do đó, khác với trong không gian tự do, trong tầng đối lưu xảy ra sự uốn cong đường truyền sóng vô tuyến, đó là sự nhiễu xạ sóng vô tuyến. Hiện tượng này tạo khả năng nhìn thấy mục tiêu nằm trong vùng tối.
Những vùng không đồng nhất về mặt điện do cuộn xoáy không khí sẽ làm tán xạ sóng vô tuyến. Những sự chuyển động cuộn xoáy của không khí làm hạn chế sự đo đạc chính xác tọa độ mục tiêu bằng phương pháp kỹ thuật.
(xem hình 4, 5 phía dưới)
Trong tầng đối lưu sóng điện từ, có bước sóng ngắn bị suy giảm. Do đó, khi các điều kiện khác không thay đổi thì cự ly hoạt động của các đài ra-da làm việc ở dải sóng ngắn hơn 3 cm sẽ kém những đài ra-da làm việc ờ những dải sóng dài hơn.
Tầng bình lưu, đặctrưng cùa nó là sự tăng nhiệt độ. Ở phần dưới tầng bình lưu, nhiệt độ khoảng — 50°c và ít thay đổi cho đến độ cao 40 km, sau đó thì tăng. Ở độ cao 60 km, vào khoảng + 80°c; trên cao nữa nhiệt độ lại giảm. Việc tăng nhiệt độ liên quan tới sự hấp thụ các tia tử ngoại bức xạ từ mặt trời do có các khi ô-zôn ở đấy. | |
« Sửa lần cuối: 22 Tháng Sáu, 2020, 09:00:02 pm gửi bởi Giangtvx » | Logged
|
|
|
| Giangtvx Thượng tá  Bài viết: 25560 | 
| Re: Chiến tranh điện tử« Trả lời #7 vào lúc: 10 Tháng Ba, 2020, 05:40:26 am » | Tầng i-ông, kéo dài đến một khoảng cách lớn và được đặc trưng bởi áp suất thấp, mật độ không khí nhỏ. Mặc dù thể tích cùa lớp này lớn, nhưng khối lượng của chất khí nhỏ hơn 0,5 % khối lượng chung của khí quyển.
Các tia của mặt trời đi đến tầng i-ông có cường độ lớn. Bức xạ của mặt trời (chủ yếu là tia tử ngoại và tia rơn-ghen) gây nên sự i-ồng hóa chát khí, nghĩa là tách điện tử khỏi phân tử và nguyên tử. Phần lớn khí loãng ở đây thường trong trạng thái i-ông hóa. Chất khí như thế có tính chất dẫn diện và có thể phản xạ sóng điện từ giống như mặt gương khổng lồ.
Trong tầng i-ông, khí nhẹ ở trên, khí nặng ở dưới. Các chất khí khác nhau hấp thụ bức xạ của mặt trời ở mức độ khác nhau và bị i-ông hóa ở mức độ khác nhau. Tầng i-ông phân thành các lớp D, E, F1 và F2.
Lớp E ở độ cao 100 - 130km.
Lớp F2 ở độ cao 300 - 400 km, liên tục tồn tại trên toàn bộ quả đất.
Lớp D và F1, chỉ xuất hiện trong thời gian nhất định của một ngày và phụ thuộc theo mùa. Lớp D bị i-ông hóa yếu, và xuất hiện vào ban ngày ở độ cao 60 - 80 km. Lớp F1 được tạo thành ở độ cao khoảng 200 km.
Ban đêm vào mùa đông, khi tác động của mặt trời giảm, lớp D biến mất, lớp F1 nhập với F2 thành lớp F.
Sự i-ông hóa tăng lên qua mỗi chu trình 11 năm hoạt động cực đại của mặt trời.
Những sóng truyền lan đến các lớp của tầng i-ông bị khúc xạ và phản xạ trở về mặt đất. Sự khúc xạ càng mạnh, nếu cường độ i-ông hóa càng mạnh và sóng càng dài.
(xem hình 6 phía dưới)
Trên hình 6, biểu diễn ba trường hợp đặc trưng của sự bức xạ sóng : song song với mặt đất (tia l), tạo thành một góc với mặt đất (tia 2, 3). Những sóng truyền dọc theo mặt đất gọi là sóng đất. Còn những sóng bức xạ hướng lên trời gọi là sóng trời. Sóng trời có thể phản xạ và trở về trái đất (tia 2), hoặc đi vào không gian vũ trụ (tia 3). | |
« Sửa lần cuối: 22 Tháng Sáu, 2020, 09:01:49 pm gửi bởi Giangtvx » | Logged
|
|
|
| Giangtvx Thượng tá  Bài viết: 25560 | 
| Re: Chiến tranh điện tử« Trả lời #8 vào lúc: 10 Tháng Ba, 2020, 05:42:19 am » | II/ SỰ TRUYỀN LAN SÓNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG
Thông tin vô tuyến điện bắt đầu từ khi nhà vật lý học người Nga Pô-pốp chế tạo ra thiết bị thu phát sóng vô tuyến. Tháng 3 năm 1896, Pô-pốp biều diễn truyền bức điện bằng vô tuyến điện lần đầu tiên trên thế giới tại cuộc họp của Hội lý — hóa Nga, và bức điện đã được truyền trên khoảng cách 250 m trong khu trường Đại học Tổng hợp Pê-téc-bua, từ khu nhà của Viện hóa đến phòng họp. Từ cự ly ngắn ngủi đó, ngày nay đã đạt được thông tin liên lạc vơi các con tàu vũ trụ và vệ tinh nhân tạo xa hàng trăm triệu ki-lô-mét.
Sóng có độ dài này có thể vượt qua một khoảng cách lớn, trong khi sóng có độ dài khác lại mất tích sau đường chân trời. Lại có trường hợp nào đó, nhận được tín hiệu cường độ rất lớn ở một vùng xa xôi nào đó của trái đất hoặc trong vũ trụ sâu thẳm, trong khi không thể nào phát hiện được tín hiệu đó ở vài chục ki-lô-mét cách đài phát... đó là do tính chất sóng vô tuyến điện ở các đài khác nhau ảnh hưởng đến cự ly lan truyền.
Thông tin vô tuyến điện đã phát triển nhanh và được mở rộng ra cả các dải sóng. Mỗi dải sóng có những đặc điểm riêng của nó.
Sóng cực dài và sóng dài :
Sự nhấp nhô của đất và độ cao của vật cản thường có kích thước nhỏ hơn bước sóng ở dải sóng này, do đó hiện tượng nhiễu xạ thể hiện khá rõ rệt và cho phép thu tín hiệu ở cả những vùng kltuất sau đồi núi ở những cự ly nhất định.
Khi truyền lan trên mặt đất, sóng cảm ứng vào đất một sức điện động. Sức diện động này càng lớn nếu tần số của sóng càng cao. Nếu dòng điện tăng lên thì tổn hao năng lượng cũng tăng lên do biến thành nhiệt năng. Như thế, sóng dài bị hấp thụ năng lượng ít hơn, nên truyền lan dọc theo mặt đất ở những khoảng cách lớn.
Sóng đất có thể thu được trong những thời gian bất kỳ ban ngày hay ban đêm.
Điều kiện truyền lan sóng đất, dặc biệt thuận lợi là trên mặt biển, vì nước biền dẫn điện tốt, năng lượng cao tần bị tổn hao không đáng kể.
Những sóng đi tới tầng i-ông và phản xạ từ đó sẽ tạo nên những tín hiệu mạnh ở một khoảng cách lớn. Với cùng khoảng cách đỏ, cường độ những sóng này truyền theo mặt đất đã bị yếu do hấp thụ năng lượng bởi mặt đất.
Những sóng dài có khả năng phản xạ ở những lớp dưới của tầng i-ông, ở đấy sự i-ông hóa yếu.
Sóng cực dài và sóng dài có thể truyền lan đến hàng chục nghìn ki-lô-mét bằng cách phản xạ liên tục từ mặt đất và tầng i-ông.
Ban ngày, sóng phản xạ từ lớp D, còn ban đêm từ lớp E.
(xem hình 7 phía dưới)
Trường ở điểm thu là trường tổng hợp của các tia sóng từ một nguồn phát đi theo hai hay nhiều đường khác nhau. Trường thu, được tăng lên hoặc giảm đi phụ thuộc vào pha của các sóng đó. Nói khác đi, sự giao thoa của các tia sóng là nguyên nhân thay đổi cường độ trường ở điểm thu. Tuy nhiên, ở dài sóng này, sự thay đổi đó xảy ra không mạnh và tương đối chậm. Sự thay đổi cường độ trường thấy rõ nhất vào lúc mặt trời mọc và mặt trời lặn, do thay đổi phản xạ từ lớp này sang lớp khác (lớp D và E).
(xem hình 8 phía dưới) | |
« Sửa lần cuối: 22 Tháng Sáu, 2020, 09:07:13 pm gửi bởi Giangtvx » | Logged
|
|
|
| Giangtvx Thượng tá  Bài viết: 25560 | 
| Re: Chiến tranh điện tử« Trả lời #9 vào lúc: 11 Tháng Ba, 2020, 06:45:39 am » | Dải sóng cực dài vì truyền lan theo sóng đất nên nó ít chịu ảnh hưởng của các vụ nổ hạt nhân, vì vậy được coi là sợi dây thần kinh đáng tin cậy trong chiến tranh tương lai. Người ta chú ý sử dụng sóng cực dài để truyền tín hiệu cho các lực lượng hạt nhân chiến lược.
Mặt khác, nhờ có khả năng xuyên xuống nước biển ở một mức độ nhất định, sâu hơn các dải sóng ngắn, nên các dải vô tuyến điện sóng cực dài được sử dụng chủ yếu để điều khiển các tàu ngầm đang lặn dưới nước. .
Đài vô tuyến điện của hải quân Mỹ ở Úc bảo đảm liên lạc với các tàu ngầm ờ khu vực Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, công suất của đài phát 1.000 ki-lô-oát, dải tần 16 - 20 ki-lô-héc, liên lạc xa đến 13.000 km, hệ thống ăng-ten chiếm diện tích có đường kính 3,2 km dặt trên 7 cột cao 300 - 380 m, có hệ thống chống rò và được tính toán để làm việc trong cả điều kiện có bão.
Các dài sóng cực dài là các trang bị khổng lồ và đắt tiền, số dải sóng làm việc ít, vận tốc truyền tin lại rất thấp, điều đó làm khó khăn thêm cho việc sử dụng số lượng lớn các đài thu phát, vì chúng sẽ nhiễu lẫn nhau khi phát một khối lượng lớn thông tin.
Các đài sóng cực dài còn có nhược điểm là không bảo vệ được ăng-ten trong điều kiện bị vũ khí hạt nhân phá hủy. Vì vậy, người ta phải nghiên cứu làm các thiết bị dự trữ, dùng các ăng-ten di động hoặc treo trên các cột tháo lắp được, nhưng như thế thì hiệu suất lại bị giảm.
Mặc dù dã dùng các máy phát công suất lớn với các ăng-ten khổng lồ, nhưng do sóng điện từ giảm rất nhanh trong nước, nên việc bảo đảm liên lạc với các tàu đang lặn ở độ sâu dưới 20 m vẫn gặp khó khăn.
Hiện nay, người ta đang nghiên cứu để bảo đảm liên lạc ở độ sâu vài trăm mét. Một trong những hướng có khả năng thực hiện được là hạ thấp tần số liên lạc, đồng thời tăng công suất máy phát lên đến vài nghìn ki-lô-oát.
Sóng trung:
Sự hấp thụ trong đất ở dải sóng trung mạnh hơn ở sóng dài, cho nên cự ly hiệu dụng của sóng đất nhỏ hơn.
Muốn phản xạ từ tầng i-ông, đòi hỏi mật độ i-ông cao hơn. Bởi vậy, sóng trung thường đi sâu vào tầng i-ông rồi mới phản xạ về được.
Về mùa hè, khi trời sáng, những sóng này bị hấp thụ rất lớn ở lớp D của tầng i-ông. Vì thế, người ta phải dùng sóng đất để liên lạc vào ban ngày.
Về ban đêm, tính chất tầng i-ông thay đổi, cho phép sử dụng sóng trời để liên lạc trên những cự ly xa. Nhưng sóng trời không ổn định, và sự giao thoa giữa sóng trời và sóng đất, hay giữa các tia sóng trời đi theo các đường khác nhau, gây nên pha đinh tín hiệu ở điểm thu.
Về mùa đông, sóng trung có thể phản xạ từ tầng i-ông cả ban ngày nên có thể sử dụng sóng trời để liên lạc, nhưng độ ổn định kém hơn ban đêm.
Sóng ngắn :
Sóng ngắn truyền lan dọc theo mặt đất bị suy giảm nhanh. Nhưng sóng này bị hấp thụ trong tầng i-ông lại rất ít.
Do đó, có thể liên lạc bằng sóng trời trên những khoảng cách lớn ngay cả trong trường hợp công suất máy phát tương đối nhỏ.
Sóng ngắn đi vào tầng i-ông có mấy đặc điểm:
— Sóng không phản xạ từ các lớp i-ông hóa yếu. Sự phản xạ xảy ra chủ yếu từ lớp i-ông hóa mạnh, như lớp F2.
— Sự phản xạ chỉ xảy ra khi tia sóng tới đi đến lớp phản xạ một cách thoai thoải (tia 2). Khi tia tới vào tầng i-ông với góc dựng đứng, sóng sẽ xuyên qua tâng i-ông và đi vào không gian vũ trụ (tia 3).
— Sự hấp thụ năng lượng của sóng xảy ra chủ yếu ở lớp E trên đường sóng đi tới lớp phản xạ và trên đường trở về mặt đất.
Các đặc điểm này chi phối điều kiện công tác trên sóng ngắn.
Ở một góc nâng xác định thì có thể có ba dạng quỹ đạo truyền lan của sóng.
(xem hình 9 phía dưới)
Khi tần số chưa cao quá thì sóng còn phản xạ (tia l). Nếu tăng tân số đến một giá trị nào đó, sóng không trở về mặt đất (tia 2). Nếu tần số khá cao, sóng sẽ đi vào không gian vũ trụ (tia 3).
Tần số cực đại trong điều kiện của tầng i-ông, sau khi phản xạ, sóng còn tới được điểm thu gọi là tần số sử dụng cực đại (viết tắt là TSC). Nếu tần số cao hơn TSC thì sóng sẽ không phản xạ và không thể tiến hành liên lạc được.
Do sự thay đổi trong tầng i-ông nên tần số sử dụng cực đại cũng thay đổi. Vì vậy, cần phải biết giá trị nhỏ nhất của nó và chọn tần số công tác có một lượng dự trữ nào đó dưới giá trị nhỏ nhất này, tùy thuộc vào yêu cầu giữ vững thông tin liên lạc. Tần số được chọn như thế được gọi là tần số sử dụng tốt nhất, và tương ứng với tần số đó là bước sóng công tác tốt nhất. | |
|
|
|
|