Từ chiến tranh thế giới lần thứ nhất, cuộc đấu tranh trong lĩnh vực vô tuyến đã xuất hiện. Hồi ấy, khí tài vô tuyến mới được sử dụng trong thông tin liên lạc, và chủ yếu dùng cho hải quân, người ta cũng đã dùng gây nhiễu cho thông tin đối phương, và tiến hành trinh sát vô tuyến mà các cuộc trao đổi điện tín là nguồn trinh sát chủ yếu.
Nghe trộm thông tin liên lạc vô tuyến, đã giúp cho quân Đức theo dõi các cuộc vận chuyển bộ đội đối phương trên mặt trận phía Đông từ đầu chiến tranh cho đến cuối năm 1915. Quân Áo, nhờ nghe trộm thông tin liên lạc vô tuyến, đã đoán được ý đồ của quân Nga, và sau đó xác định nhanh chóng vị trí tập kết bộ dội đến cấp sư đoàn.
Để gây khó khăn cho địch trong trinh sát, nhiều nước đã bắt đầu dùng mã. Bộ chỉ huy quan Nga trên mặt trận phía Tây, ngày 14-9-1914 đã ra lệnh dùng mã khi thông tin liên lạc. Các mã lúc đó còn đơn giản, dễ bị khám phá.
Từ năm 1916, kỹ thuật trinh sát đã dùng nhiều máy móc hơn, có máy tìm phương để xác định thời gian di chuyển và vị trí tập kết. Dựa theo loại và số lượng đài phát, có thể xác định nơi tập kết bộ đội đối phương và những thay đổi thành phần bộ đội, biết được lực lượng, tổ chức, trang bị của không quân, hải quân.
Đến chiến tranh thế giới lần thứ hai, cuộc đấu tranh chống các khí tài vô tuyến điện tử mới thể hiện rõ tác dụng của nó, không những chỉ đưa lại kết quả về chiến thuật mà còn góp phần thắng lợi cho cả những chiến dịch lớn. Mỹ cho rằng, tiến hành chống hoạt động vô tuyến trong thời gian chiến tranh thế giới lần thứ hai đã bảo vệ được khoảng 450 máy bay ném bom và cứu sống 4.500 nhân viên. Anh cho rằng, nhờ có nhiễu, thủ đô Luân Đôn và các thành phố khác ở Anh đã tránh khỏi phá hủy hoàn toàn.
Để chế áp có hiệu quả các phương tiện vô tuyến đối phương, các bên tham chiến đều cố gắng bằng mọi cách để lấy được tham số các khí tài đó. Ngoài chụp ảnh, trinh sát vô tuyến, gián điệp, có khi còn tổ chức cả đội biệt kích trinh sát. Những đội biệt kích có nhiệm vụ trinh sát, phá hoại các đài ra-đa, chiếm tài liệu hoặc những chi tiết máy quan trọng nhất, có khi đem về cả một đài ra-da hoàn chỉnh.
Trong các cuộc ném bom nước Anh, ngoài các máy bay ném bom, không quân Đức còn có những máy bay mang thiết bị trinh sát các tham số và vị trí đặt đài ra-đa. Trên cơ sở những số liệu nhận được, kết hợp với tin tức gián điệp, quân Đức chế tạo các ra-đa và thiết kế các máy gây nhiễu.
Quân Anh, cũng tiến hành hàng loạt biện pháp nhằm xác định vị trí các đài ra-đa của quân Đức ở dọc bờ biển nước Pháp. Nghe tin quân Đức có loại ra-đa mới, ngày 27-2-1942, Anh đã cho biệt kích đổ bộ vào vùng Buốc- nê-vin (Pháp) và đã chiếm được nhiều tài liệu, máy móc. Đó chính là cơ sở để quân Anh chế tạo máy gây nhiễu những đài ra-đa loại mới của Đức.
Đài BBC của Anh trong thời kỳ này, tiến hành trinh sát vô tuyến rất khẩn trương. Đài này đã thu hầu hết các bức điện của các nước đối địch cũng như các nước trung lập. Trong biên chế đài BBC có hơn 500 nhân viên nghe trộm. Việc nghe trộm được tiến hành bằng 30 thứ tiếng.
Phát xít Đức cũng chú ý đến trinh sát vô tuyến. Trong thành phần quân đội phát xít Đức có bộ đội trinh sát vô tuyến. Mỗi đại đội có 10 máy tìm phương và 10 máy thu ở dải sóng ngắn và cực ngắn. Nhờ những phương tiện này, chúng có thể nghe các cuộc trao đổi trong các mạng thông tin vô tuyến trong sư đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn và các đơn vị xe tăng, đơn vị pháo.
Nước Đức có 5 tổ chức đặc biệt (gọi là Cục nghiên cứu khoa học, thành lập năm 1933) tiến hành trinh sát vô tuyến. Chỉ riêng một tổ chức đó đã có 3.000 nhân viên, và mỗi ngày đọc khoảng 20.000 bức điện nhận được bằng trinh sát vô tuyến.
Biết được máy bay ném bom của Đức có ra-đa phát hiện đối phương bám đuôi, không quân Anh đã trang bị cho máy bay tiêm kích những máy thu, và do dó bảo đảm dẫn máy bay Anh đến bám đuôi máy bay Đức ngay cả những khi tầm nhìn bị hạn chế.
Năm 1942, Đức đặt trên máy bay tiêm kích những đài ra-đa phát hiện và ngắm bắn máy bay ném bom. Để gây khó khăn cho phi công Đức, không quân Anh đã trang bị máy phát nhiễu đặt trên máy bay ném bom. Nhưng trong nhiều trường hợp, phi công Đức lại dựa vào những máy nhiễu này như pha chuẩn, và dẫn máy bay theo hướng các máy bay ném bom.
Một đêm trong tháng 2 năm 1942, hai thiết giáp hạm Sa-rơn-go-xtơ, Gơ-nây-de-nao và chiến hạm Hoàng thân Ôi-gên của quân Đức đã thoát khỏi vòng vây của hạm đội Anh ở cảng Bơ-re-xtơ và bí mật vượt qua eo biển Măng-sơ, mặc dầu trên bờ các đài ra-đa của Anh không ngừng quan sát mặt biển. Các trác thủ ra-đa Anh đã không phát hiện được ba chiếc tàu chạy trốn ngay trước mặt mình, vì các màn hiện sóng của họ đã bị nhiễu làm trắng xóa. Đó cũng là một điển hình về sự ra đời của nhiễu và kết quả của nó. Càng về sau, nhiễu vô tuyến càng được sử dụng nhiều hơn và trở thành một loại vũ khí hiệu nghiệm.
Tháng 6 năm 1943, quân Anh lần đầu tiên dùng nhiễu tiêu cực khi ném bom thành phố Hăm-bua của Đức.
Khi tiến hành các cuộc ném bom Hăm-bua (6-1943), quân Đồng minh đa ném gần 20 tấn nhiễu tiêu cực gồm 2,5 triệu bao nhiễu, mỗi bao dựng khoảng 2.000 dải nhiễu. Trong suốt thời gian chiến tranh thế giới lần thứ hai, quân Đồng minh đa ném trên đất Đức hơn 20.000 tấn lá nhôm.
Khoảng năm 1943, nhiều nước dùng nhiễu tích cực. Mỹ — Anh đã chế tạo máy gây nhiễu đài ra-đa điều khiển pháo Vi-u-rơ-xbua của Đức.
Đến năm 1944, quân Anh đã có 14 phi đội gây nhiễu. Họ đặt dọc bờ biền phía nam nước mình những máy phát nhiễu cực mạnh Tu-ba do Mỹ sản xuất, bảo vệ những đoàn máy bay ném bom xuất kích. Những máy nhiễu này đã làm mù các ra-đa của máy bay tiêm kích Đức.
Anh cũng đã dùng nhiễu để chống lại các cuộc oanh tạc bằng tên lửa tầm xa của Đức. Khi điều khiển tên lửa, dựa trên độ cao và vận tốc tên lửa, vào thời điểm cần thiết, ở dưới đất sẽ cho lệnh tắt động cơ và tên lửa bắt đầu rơi xuống mục tiêu. Anh trinh sát được thứ tự truyền lệnh đó, đã cho lệnh giả làm tắt động cơ sớm hơn, do đó tên lửa của Đức rơi chệch mục tiêu. Hiệu quả của tên lửa giảm đến nỗi quân Đức không dám dùng loại điều khiển vô tuyến nữa. | |
Logged
|
|
|
|
Giangtvx Thượng tá  Bài viết: 25560 | 
| Re: Chiến tranh điện tử« Trả lời #3 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2020, 04:26:14 am » |
Đức đã chế tạo nhiều máy nhiễu có hiệu quả, đã gây nhiễu hệ thống dẫn đường của máy bay Anh đi ném bom thành phố Rua. Khi có nhiễu, cự ly hoạt động của hệ thống dẫn đường đã giảm từ 400 - 600 km xuống chỉ còn 160 km, và thực tế không thể bảo đảm cho máy bay Anh ném bom chính xác nữa.
Quân Đức cũng đã dùng máy phát xung trả lời, làm méo tin tức của đài ra-đa ném bom.
Việc chống nhiễu của quân Đức chủ yếu tập trung vào chế tạo nhiều ra-đa làm việc ở nhiều dải sóng khác nhau và mở rộng dải điều chỉnh tần số ở những đài cũ. Đến cuối năm 1944, chỉ ở miền bắc nước Pháp, người ta đã phát hiện hơn 12 loại đài ra-đa Đức khác nhau. Ngoài ra, Đức cũng đã chế tạo một số thiết bị chống nhiễu cho những đài ra-đa đã được sản xuất từ trước, như thiết bị chọn mục tiêu di động để chống nhiễu tiêu cực.
Trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, phương pháp ngụy trang chống ra-đa cũng đã được dùng rộng rãi.
Đức, đặc biệt quan tâm vấn đề này để chống lại các cuộc ném bom của Đồng minh. Các đê, đập, kè, cảng, nhà máy quan trọng và cả những địa vật có thể làm vật chuẩn cho máy bay ném bom đều được ngụy trang chống ra-đa. Đã có những kế hoạch ngụy trang cả thành phố và thậm chí cả nước Đức! Ngụy trang bằng máy phát nhiễu tích cực đặt ở dưới đất, hoặc là chiếu xạ trực tiếp các máy bay ném bom, hoặc là chiếu xạ máy bay bằng những tia phản xạ từ mặt đất.
Chiếu xạ được toàn bộ mặt đất thì trên màn hiện sóng ra-đa ném bom của đối phương không thể nhận được tín hiệu phản xạ trên nền nhiễu. Để bảo vệ toàn bộ lãnh thổ Đức, cần 300.000 máy phát nhiễu, công suất mỗi máy 100 oát. Phương pháp này không thực hiện được.
Phương pháp khác là chiếu xạ trực tiếp. Ở những vị trí phù hợp chung quanh mục tiêu, đặt các máy phát nhiễu có sơ đồ định hướng ăng-ten hẹp bảo đảm chiếu xạ máy bay bay tới mục tiêu từ bất cứ hướng nào. Cách này dễ thực hiện hơn.
Nhiễu đã tỏ rõ tác dụng trong thời gian chiến tranh thế giới lần thứ hai. Do gây nhiễu hiệu quả, hệ thống phòng không Đức đã giảm đi rất nhiều. Trước đây, để hạ một máy bay bằng súng cao xạ chỉ cần bắn khoảng 800 viên đạn, từ khi bị gây nhiễu phải bắn tới 3.000 viên. Hiệu quả càng lớn khi sử dụng đồng thời cả nhiễu tiêu cực và tích cực. Hiệu lực của hệ thống phòng không khi có nhiễu có thể bị giảm đi 75%.
Năm 1944, trong cuộc đổ bộ tại mặt trận thứ hai, quân đồng minh đã sử dụng tới 700 máy phát nhiễu tích cực, hàng tấn nhiễu tiêu cực để nghi binh và ngụy trang vô tuyến. Các biện pháp này làm cho các đài ra-đa Đức hầu như bị chế áp hoàn toàn.
Như vậy, trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, cuộc đấu tranh chống các phương tiện vô tuyến chủ yếu nhằm vào các khí tài ra-đa và dẫn đường, các khí tài ấy không những chỉ làm nhiệm vụ trinh sát mà còn điều khiển hỏa lực.
Các phương tiện liên lạc trong thời kỳ này ít bị gây nhiễu, vì người ta cho rằng : một là, có thể bị gây nhiễu các hệ thống liên lạc của chính mình; hai là, hệ thống liên lạc vô tuyến của đối phương là nguồn cung cấp các tin tức tình báo cần thiết cho mình. Tức là, trinh sát cần thiết hơn chế áp.
Chính dựa trên những kết quả và những kinh nghiệm chống phá điện tử trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, và dựa trên những thành tựu khoa học, kỹ thuật vô tuyến điện tử, các nước càng ra sức hoàn thiện các biện pháp chiến tranh điện tử.
Chiến tranh vô tuyến điện tử, có ba phần : trinh sát vô tuyến, hoạt động chống vô tuyến và chống lại các hoạt động chống vô tuyến.
— Trinh sát vô tuyến, là cơ sở của chiến tranh vô tuyến điện tử. Đó là quá trình sục sạo và bắt các tín hiệu vô tuyến trong không gian, xác định vị trí và các tham số của các phương tiện vô tuyến điện tử đang bức xạ. Từ đó, có thể xác định dược các hoạt động của bộ đội và ý đồ đối phương, chuẩn bị các số liệu để tiến hành các hoạt động chống vô tuyến cũng như đánh giá hiệu quả của các hoạt động ấy.
— Hoạt động chống vô tuyến (hoạt động chống bức xạ), nhằm chế áp hoàn toàn hoặc hạn chế hiệu quả sử dụng của phương tiện quân sự dùng vô tuyến của đối phương, làm mất chính xác của hỏa lực, phá hoại tổ chức chỉ huy bộ đội, làm giảm sức chiến đấu của đối phương; về phía mình thì tạo điều kiện thuận lợi tiến hành các hoại động quân sự.
— Chống lại các hoạt động chống vô tuyến, là một bước phát triển tất nhiên khi có hoạt động chống vô tuyến Nó bao gồm những phương tiện và hình thức bảo đảm sử dụng hiệu quả các phương tiện vô tuyến điện tử của mình trong điều kiện đối phương tiến hành các hoạt dộng chống vô tuyến, mà nổi bật là việc chống nhiễu.
Tiến hành chiến tranh điện tử bao gồm các biện pháp kỹ thuật và biện pháp chiến thuật. Biện pháp kỹ thuật như tăng khả năng chống nhiễu của khí tài; biện pháp chiến thuật như bố trí đội hình, cơ động đội hình, trình tự thao tác của kíp chiến đấu. Các biện pháp đó bổ sung lẫn nhau. Vì vậy, khi xét một biện pháp chiến tranh điện tử phải xét nó trong toàn bộ các vấn đề kỹ thuật và chiến thuật.
Sự thâm nhập của khoa học, kỹ thuật vô tuyến điện tử vào quân sự đã làm thay đổi rất nhiều chiến thuật sử dụng nhiều loại vũ khí và phương tiện kỹ thuật quân sự. Các loại vũ khí hiện đại mới ra đời, đòi hỏi phải có chiến thuật sử dụng mới. Với vũ khí thông thường, khi có thêm những phần bồ sung bằng điện tử cũng đòi hỏi chiến thuật mới.
Các phương tiện vô tuyến điện tử, các kíp trắc thủ và công tác chỉ huy, ngay trong điều kiện thuận lợi vẫn phải luôn luôn chuẩn bị làm việc trong điều kiện khó khăn nhất của cuộc chiến tranh vô hình này.
Các phương pháp trinh sát vô tuyến, hoạt động chống vô tuyến, và chống lại các hoạt động chống vố tuyến đã áp dụng từ chiến tranh thế giới thứ hai và được tiếp tục phát triển, hoàn thiện theo nhịp độ phát triển của khoa học, kỹ thuật vô tuyến điện tử cùng các ngành khoa học, kỹ thuật khác.
Hiện nay, đã có nhiều hiệu quả tuyệt vời của các vũ khí với sự tham gia điều khiển của các hệ thống tự động bằng vô tuyến điện tử, và trong tương lai, còn có những kỳ công khác nữa trong các hệ thống vũ khí và các hệ thống chỉ huy bộ đội.
Người ta nói, chiến tranh vô tuyến điện tử không có tuyên bố, cũng không có kết thúc, nó không bị giới hạn về thời gian và không gian. Quá trình chuẩn bị chiến tranh vô tuyến điện tử cũng như các trận đánh của nó, được tiến hành đồng thời, liên tục, lặng lẽ và bí mật trong không gian, cũng như trong các phòng nghiên cứu, thiết kế, thí nghiệm. | |
Logged
|
|
|
|
Giangtvx Thượng tá  Bài viết: 25560 | 
| Re: Chiến tranh điện tử« Trả lời #4 vào lúc: 09 Tháng Ba, 2020, 04:32:41 am » | TỪ CƠ SỞ NÀY I/ BẦU TRỜI, MẶT ĐẤT VÀ SÓNG ĐIỆN TỪ
Từ thế kỷ VII trước công nguyên, nhà triết học Hy Lạp Pha-le-xu Mi-lét-xki đã nói về đặc tính kỳ lạ của hò phách là sau khi cọ sát vào len thì hút được những vật nhẹ. Từ Hy Lạp « ê-léc-trông » (nghĩa là hổ phách) bây giờ trở thành tên một ngành khoa học, kỹ thuật hiện đại, đầy hấp dẫn : Môn vô tuyến điện tử.
Một thanh nam châm đặt ở vị trí nào đó sẽ tạo ra chung quanh nó một từ trường tĩnh. Một vật tích điện thì tạo ra chung quanh nó một điện trường tĩnh. Điện trường và từ trường sinh ra từ những nguồn không chuyền động này tồn tại độc lập với nhau. Nhưng nếu điện trường hoặc từ trường thay đổi thì khoảng không gian chung quanh xuất hiện đồng thời cả điện trường và từ trường thay đổi. Nói khác đi, từ trường thay đổi sinh ra chung quanh nó điện trường thay đổi, theo quy luật cảm ứng điện từ; ngược lại, khi điện trường thay đổi lại sinh ra một từ trường thay đổi. Chúng tồn tại cùng nhau như hai mặt của một quá trình, người ta gọi là trường điện từ.
Một hòn đá được ném xuống mặt nước phẳng lặng, nó sẽ tạo ra sóng, sóng lan dần ra. Nếu trường điện từ được tạo ra ở một vùng nào đó của không gian, nó cũng sẽ lan ra các vùng còn lại của không gian với tốc độ không đổi. Nếu trường điện từ được tạo ra có tính chất tuần hoàn, sự lan truyền trường đó mang tính chất sóng.
Vì là sóng điện từ trường, nên nó có thành phần điện trường và từ trường. Các thành phần này nằm vuông góc với nhau và đều vuông góc với phương truyền sóng.
(xem hình dưới) Nếu thành phần điện trường nằm trong mặt phẳng thẳng đứng, gọi là sóng có phân cực thẳng đứng. Nếu thành phần điện trường nằm trong mặt phẳng nằm ngang, gọi là sóng phân cực nằm ngang. Còn nếu nó vừa đi vừa quay, thì sẽ có phân cực tròn hoặc phân cực en-líp.
Cũng như đối với sóng cơ học, sóng điện từ có độ dài sóng (bước sóng) λ. Bước sóng có liên quan với tần số dao động f và tốc độ truyền lan sóng V:
λ = V/f Sóng điện từ có bước sóng khác nhau và có tên khác nhau.
Sóng điện từ có bước sóng bằng một phần hai nghìn mi-li-mét, có thể nhìn thấy được bằng mắt người, đó là sóng ánh sáng, cũng có thể ghi sóng đó bằng dụng cụ quang học. Còn các sóng khác, mắt người không nhìn thấy được, chỉ phát hiện được chúng nhờ các dụng cụ khác, như Đài tiếng nói Việt Nam truyền bản tin và ca các sóng 25 m, 31 m, 49 m và 297 m... Sóng có bước sóng 600 m được dành riêng để phát đi các tín hiệu tai nạn của tàu biển. Tất cả các sóng đó chỉ có thể phát hiện bằng dụng cụ quen thuộc là máy thu vô tuyến điện (ra-đi-ô). | |
« Sửa lần cuối: 22 Tháng Sáu, 2020, 08:40:59 pm gửi bởi Giangtvx » | Logged
|
|
|
|
Giangtvx Thượng tá  Bài viết: 25560 | 
| Re: Chiến tranh điện tử« Trả lời #5 vào lúc: 10 Tháng Ba, 2020, 05:25:21 am » | Sóng vô tuyến chia ra các dải như sau: (xem bảng 1 phía dưới) Bảng trên, thống kê những sóng điện từ dải sóng hạ âm đến dải sóng quang học.
Những sóng trong dải từ 1 mi-li-mét đến 10 mét thường gọi là sóng cực ngắn. Dải sóng dề-xi-mét và xăng-ti-mét, có khi còn gọi là sóng siêu cao. Cũng có nơi coi từ sóng siêu cao đồng nghĩa với từ sóng cực ngắn. Một số noi gọi sóng đề-xi-mét và xăng-ti-mét là sóng mi-crô (hay vi ba).
Trước đây, khi mới phát hiện ra sự truyền lan sóng điện từ, người ta chưa hiểu rõ bản chất của nó, và giải thích rằng: sóng điện từ phải truyền lan trong một chất ê-te đàn hồi nào đó không có màu sắc, không có mùi vị, không có trọng lượng.
Ngày nay, người ta dã xác định được bản chất của nó là sóng truyền lan trong không khí và truyền lan trong chân không. Trong chân không, sóng truyền lan tốt hơn trong tất cả các môi trường khác.
Để dễ tính toán, người ta dùng khái niệm không gian tự do, đó là không gian vũ trụ bao la, không có mặt trời, không có trái đất, không có tất cả, chỉ có không gian, thời gian và sóng điện từ mà thôi. Trong môi trường như vậy, sóng truyền theo đường thẳng với tốc độ không đổi là 300.000.km/gy. Trong các môi trường thực tế, sóng truyền với tốc độ chậm hơn. Tuy vậy, nếu môi trường đó là không khí thì vẫn coi rằng quy luật truyền lan sóng không bị thay đổi.
Điều kiện truyền lan sóng điện từ có ảnh hưởng rất lớn đến các đường vô tuyến điện nói chung. Một trong những đặc tính cơ bản của đường vô tuyến điện là cự ly hiệu dụng. Cự ly hiệu dụng được xác định bởi máy thu, máy phát, và còn phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện truyền lan sóng vô tuyến. Cả một số đặc tính kỹ thuật khác cũng phụ thuộc vào điều kiện truyền lan này. Chẳng hạn, nếu điều kiện truyền lan sóng thay đổi thì độ chính xác xác định mục tiêu của đài ra-đa cũng thay đồi.
Sóng vô tuyến cũng như ánh sáng đều có những « vật trong suốt», sóng đi qua chúng hoàn toàn tự do, và những « vật không trong suốt » giữ sóng lại. Rất nhiều vật không trong suốt với sóng ánh sáng, lại dễ dàng cho sóng vô tuyển ở những dải sóng khác đi qua. Ngược lại, các tầng cao của bầu khí quyền trong suốt với ánh sáng, lại có thể là vật cản không thể vượt qua được của sóng vô tuyến ở các dải sóng dài, sóng trung, sóng ngắn.
Khi truyền lan trong các vật, sóng bị hấp thụ. Môi trường khác nhau, sóng bị hấp thụ với mức độ khác nhau.
Sóng vô tuyến truyền lan trong các môi trường không đồng nhất cũng bị phản xạ, tán xạ, khúc xạ như sóng ánh sáng.
Khi các đài phát và đài thu đều đặt trên mặt đất thì môi trường truyền lan sóng có sự tham gia của mặt đất và khí quyền. Trên hình 2 cho thấy sóng truyền từ đài phát đến đài thu hoặc từ ra-đa đến mục tiêu có thể trực tiếp hoặc phản xạ từ mặt đất. |
|
|