Khác

CHIẾN TRƯỜNG HOẠT ĐỘNG CỦA GIẢI PHÓNG QUÂN HÓC MÔN - BÀ ĐIỂM - ĐỨC HÒA

óc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa là địa danh thuộc hai tỉnh Gia Định, Chợ Lớn, nằm ở trung tâm miền Đông Nam Bộ. Miền Đông Nam Bộ là cụm danh từ chỉ vùng đất phía đông của Nam Bộ, gồm Sài Gòn - Chợ Lớn và các tỉnh Gia Định, Chợ Lớn, Bà Rịa, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Tây Ninh (theo sự phân chia địa lý hành chính năm 1945). Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), miền Đông Nam Bộ là chiến trường trọng điểm của Nam Bộ, được tổ chức thành hai khu: Khu 7 và khu Sài Gòn - Chợ Lớn.

07/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Tỉnh Gia Định nằm trong khu Sài Gòn - Chợ Lớn, án ngữ một địa bàn quan trọng bao quanh thành phố Sài Gòn từ các mặt tây bắc, bắc, đông và đông nam, gồm các quận Hóc Môn, Gò Vấp, Thủ Đức, Nhà Bè; nằm trên vùng đất miền Đông Nam Bộ, nơi ra đời của Giải phóng quân liên quận Hóc Món - Bà Điểm (thuộc tỉnh Gia Định) và Đức Hòa (thuộc tỉnh Chợ Lớn).


Hóc Môn là một trong bốn quận của tỉnh Gia Định (Hóc Môn, Gò Vấp, Thủ Đức, Nhà Bè), nằm về phía tây bắc thành phố Sài Gòn, cách trung tâm thành phố 20km.

Suốt dọc chiều dài phía đông của Hóc Môn1 (Ngày nay Hóc Môn chia thành huyện Củ Chi, Hóc Môn và quận 12) là sông Sài Gòn, dài 17 km, làm ranh giới tự nhiên giữa hai quận: Hóc Môn và Thuận An2 (Ngày nay Thuận An bao gồm các quận Lái Thiêu, Dĩ An (Thủ Dầu Một)) (Bình Dương). Ngoài ra còn có nhiều sông rạch nhỏ với các hệ thống kinh mương chằng chịt khắp huyện như: rạch Bến Cát, rạch Bà Hồng, Rạch Tra, kinh cầu Xáng từ Rạch Tra chảy qua cầu Bông đến cầu An Hạ (Đức Hòa - Long An). Sông ngòi trong quận chiếm 1/3 đất đai, bồi đắp phù sa cho những ruộng vườn dọc ven sông bôn mùa đều có hoa quả xanh tươi màu mỡ. Trong quá trình cách mạng, việc qua lại bằng giao thông thủy đã đóng góp lớn cho các cuộc kháng chiến chống xâm lược, của địa phương.


Hóc Môn có các tuyến đường bộ quan trọng như quốc lộ 1 cũ (nay là quốc lộ 22), xuất phát từ thành phố đi Tây Ninh sang Cam-pu-chia. Tỉnh lộ 15 từ tỉnh lỵ Gia Định (nay là quận Bình Thạnh) chạy qua Hóc Môn 7 km, từ cầu Đông Hưng Thuận (Chợ cầu) đến cầu Xáng lên các xã, huyện Củ Chi. Các tỉnh lộ 9, 14, 16, hương lộ 1, hương lộ 12 chia ngang xẻ dọc khắp các xã trong huyện và sang các huyện bạn thuộc các tỉnh Long An, Tây Ninh, Bình Dương... Do giao thông thủy bộ thuận lợi nên việc tiếp xúc giữa huyện với thành phố và các tỉnh bạn dễ dàng, nhanh chóng.


Huyện Hóc Môn nằm trên vành đai ngoại ô của thành phố Sài Gòn, là một địa bàn giao thông chuyển tiếp quan trọng cho việc giao lưu hàng hóa, việc tiếp xúc mọi hoạt động của thành phố về quân sự, chính trị, kinh tế và văn hóa xã hội với các tỉnh bạn.


Hóc Môn chia làm ba vùng: Vùng đất gò, vùng đất triền và vùng đất trũng. Vùng đất gò và vùng đất triền gồm các xã xung quanh thị trấn. Hai vùng này có nhiều ruộng lúa, hoa màu, vườn trầu, tre trúc, và vườn cao su... Vùng trũng ven sông Sài Gòn chạy suốt dọc phần đất phía đông bắc với nhiều sông rạch chi chít. Đất đai khá phì nhiêu, màu mỡ, có nhiều ruộng lúa, mía, vườn cây ăn quả... Địa hình rất thuận lợi cho hoạt động cách mạng nên đã từng được chọn làm nơi đặt cơ quan đầu não của các đồng chí Trung ương, Xứ ủy, Tỉnh ủy Gia Định, lấy nơi đây làm cơ sở cho hoạt động cách mạng chỉ đạo chung cho thành phố và các tỉnh. Nơi đây, năm 1930 cũng đã có những chi bộ Đảng đầu tiên thuộc Đảng bộ huyện Hóc Môn ra đời và không ngừng phát triển.


Từ năm 1950 trở về trước, Hóc Môn (gồm cả quận 12 và huyện Củ Chi ngày nay) có 4 tổng và 25 xã, là một trong bốn quận của tỉnh Gia Định cũ. Phía bắc quận (Củ Chi hiện nay) là vùng đất cao, có nhiều rừng rộng hàng trăm héc ta trải dài tiếp giáp với các huyện Trảng Bàng (Tây Ninh), Bến Cát (Bình Dương), nối liền Hóc Môn với các căn cứ kháng chiến lớn nổi tiếng của nghĩa quân thời chống Pháp như vùng bưng. Từ Vườn Điều (Xuân Thới Sơn), có thể nối với bưng Tràm Lạc (Mỹ Hạnh - Đức Hòa), vượt sông Vàm Cỏ Đông rồi xuống tận Đồng Tháp Mười, về phía tây có vùng bưng Xuân Thới Tây, Xuân Thới Thượng, Tân Thới Nhứt tiếp giáp vùng Gò Mây, Vĩnh Lộc (Bình Chánh), có nhiều rừng cây thấp mênh mông như giồng Bằng Lăng nổi tiếng. Vùng rừng từ Tân An Hội chạy dài đến Truông Mít, tiếp cận vùng núi Bà Đen (Tây Ninh) và biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia. Những cánh rừng này là nguồn lợi đáng kể bị bọn thực dân Pháp độc chiếm chuyển thành những rừng cao su để thu lợi. Các khu rừng trên đây, ngày xưa là nơi trú ẩn hoạt động của nghĩa quân Trương Định rồi Trương Quyền để chống quân xâm lược Pháp. Sau khi Trương Định rút về Gò Công thì một bộ phận nghĩa quân Hóc Món, Củ Chi, Bến Cát rút về lập căn cứ ở núi Cậu; sau đó bị bọn phản bội dẫn quân Pháp ở Thủ Dầu Một lên tấn công. Năm 1940, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại, các chiến sĩ cộng sản đã rút về đây để củng cố lực lượng chiến đấu. Trong cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và trong các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, các vùng rừng này là những căn cứ địa vững chắc của quân, dân tỉnh Gia Định. Ở phía đông, vượt sông Sài Gòn là sang địa phận huyện Thuận An và Bến Cát của Bình Dương, nối liền Hóc Môn với các căn cứ kháng chiến hiểm trở nổi tiếng ở miền Đông Nam Bộ như chiến khu Bời Lời, Dương Minh Châu (Tây Ninh), chiến khu Đ (Đồng Nai), chiến khu Long Nguyên (Thủ Dầu Một).


Có thể nói huyện Hóc Môn kết hợp với các huyện Gò Vấp, Đức Hòa, Trảng Bàng, Bến Cát, Bình Chánh... tạo thành một khu vực chiến lược có tầm quan trọng sống còn đối với lực lượng cách mạng, tiên thoái đều thuận lợi1 (Căn cứ 4 xã Bình Mỹ, Bình Lý, Tân Mỹ, Đông Thạnh (hai bên Rạch Tra) và một phần làng Tân Thới Tam, Tân Thới Tứ, Tân Hiệp, Xuân Thới Sơn. Riêng xã Tân Xuân xây dựng được xã chiến đấu có địa đạo, có hàng rào sát quốc lộ 1, cách giếng nước Tân Thới Nhì 500m). Vì thế nên Hóc Môn còn được gọi là “vành đai đỏ” trong thời kỳ bí mật chống thực dân Pháp ở vùng ngoại vi Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định.

Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế

quansuvn

Moderator
*
Bài viết: 7290



WWW

Lịch sử Giải phóng quân Hóc Môn-Bà Điểm-Đức Hoà Chi đội 12 Trung đoàn 312« Trả lời #2 vào lúc: 28 Tháng Bảy, 2021, 07:54:57 pm »
Dân cư Hóc Môn mang những nét bản chất của người dân Nam Bộ. Họ là những người nông dân Việt Nam từ các miền Trung, Bắc, vì không chịu nổi áp bức bóc lột của bọn phong kiến Trịnh, Nguyễn, vì nghèo đói cơ cực quá không sống nổi nên đã rời bỏ quê hương di chuyển vào phương Nam tìm vùng đất mới để tạo dựng cuộc sống tự do, no ấm.


Người dân Hóc Môn xưa đã phải lao động gian khổ chống các thú dữ, chống với thiên nhiên khắc nghiệt, ra sức khai phá các rừng rậm, bãi hoang, chịu khó trồng tỉa, chăn nuôi, tạo những vùng đất hoang vu này trở thành những vùng đất canh tác màu mỡ.


Người dân sống chủ yếu là nghề nông, trồng lúa khoai và hoa màu rồi dần dần phát triển trồng cây ăn quả, đặc biệt là trồng trầu cau thành những vườn xanh tốt.

Bà Điểm nằm trong xã Tân Thới Nhứt quận Gò Vấp xưa. Bà Điểm lại ở sát cánh với huyện Hóc Môn, thuộc phần đất của 18 thôn Vườn Trầu, về địa lý hành chính liên quan mật thiết với Hóc Môn, nằm sát nách Sài Gòn, là cửa ngõ ra vào thành phố về phía tây bắc. Bà Điểm, Hóc Môn thuộc tỉnh Gia Định. Đầu thế kỷ XIX, đời vua Minh Mạng triều Nguyễn, Hóc Môn - Bà Điểm được gọi chung là 18 thôn Vườn Trầu. Khi đó 18 thôn Vườn Trầu phần lớn nằm trên đất Hóc Môn - Gò Vấp - Đức Hòa, dân cư trù phú, có nhiều vườn trầu, và nơi đây cũng trở thành vùng chuyên canh trồng trầu, cau.


Lịch sử 18 thôn Vườn Trầu gắn liền với sự phát triển vùng Sài Gòn, (tức Bến Nghé) của người Việt. Khi hình thành 18 thôn Vườn Trầu thì xung quanh vùng này còn là rừng rậm, có nhiều cọp beo nên đã nổi tiếng là “cọp dữ như cọp Vườn Trầu” và rất nhiều thú dữ khác.


Khi nói về lịch sử đấu tranh ngày xưa, Bà Điểm (có thời là quận Bà Điểm) thường được gọi chung với quận Hóc Môn trong tên gọi Mười tám thôn Vườn Trầu.

Quận Đức Hòa là địa phương thứ ba trong các địa phương hình thành liên quận Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa. Làng Mỹ Hạnh quận Đức Hòa là nơi diễn ra lễ ra mắt của Giải phóng quân liên quận.

Quận Đức Hòa trước năm 1945 là một trong bốn quận của tỉnh Chợ Lớn (gồm Cần Giuộc, Thủ Thừa, Đức Hòa, Trung Quận).

Tháng 10 năm 1945, khi Nam Bộ chia thành ba khu, thì tỉnh Chợ Lớn thuộc Khu 7 và Đức Hòa là một trong bốn quận của tỉnh Chợ Lớn (Đức Hòa, Trung Quận, Cần Giuộc và Cần Đước).

Ngày nay huyện Đức Hòa là một trong 14 huyện, thị của tỉnh Long An. Trung tâm Đức Hòa cách Tân An khoảng 40 km về hướng bắc, cách Sài Gòn 30 km về hướng tây.

Phía bắc Đức Hòa giáp huyện Củ Chi, Trảng Bàng (Tây Ninh), phía đông giáp huyện Hóc Môn, Bình Chánh (thành phố Hồ Chí Minh), phía nam giáp huyện Bến Lức, phía tây là sông Vàm Cỏ Đông và giáp huyện Đức Huệ của tỉnh Long An.


Địa hình Đức Hòa chia làm 3 khu vực: phía tây, giáp sông Vàm Cỏ dáng đất thấp, nhiều khu vực lầy lội và nhiều kênh rạch nhỏ. Ở giữa là vùng đất “giồng” tương đối cao ráo có nhiều làng mạc với các lũy tre xanh bao bọc, phía đông bắc là vùng đất thấp giáp thành phố Hồ Chí Minh.


Nhìn chung, địa hình địa thế Đức Hòa mang nhiều tính chất của đồng bằng miền Đông Nam Bộ, có pha trộn một số nét của đồng bằng Tây Nam Bộ.

Giao thông thủy ở Đức Hòa khá thuận lợi với sông Vàm Cỏ khá lớn chạy dọc suốt chiều dài của huyện và nhiều kênh rạch nhỏ hơn từ đó chạy sâu vào các cánh đồng, vừa dẫn nước tưới tiêu vừa là đường vận chuyển khá tốt bằng xuồng ghe.


Giao thông đường bộ ở Đức Hòa khá phát triển với trục lộ số 10 chạy giữa trung tâm và suốt chiều dài huyện. Đức Hòa còn có lộ số 6, lộ số 7 số 8 số 9 cắt ngang lộ số 10 và cách nhau tương đối đều tạo thành một mạng lưới giao thông khá cân đối trên tất cả các vùng của huyện. Lộ số 9 nối với lộ số 31 thông ra quốc lộ số 1A.


Đức Hòa có mối giao lưu kinh tế - xã hội tương đối rộng rãi trong vùng. Nhiều người dân Đức Hòa có mối thân tộc với dân ở Hóc Môn, Tân Bình, Bình Chánh, Củ Chi thành phố Hồ Chí Minh.

Như vậy, xét về mặt địa lý hành chính, Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa đều là những vùng đất của miền Đông Nam Bộ. Ba địa phương ở gần sát bên nhau, sát nách trung tâm Sài Gòn, cách Sài Gòn 20 đến 30 km. Hóc Môn - Bà Điểm nằm ở hướng bắc, Đức Hòa cách Sài Gòn 30 km về hướng tây.


Từ Hóc Môn - Bà Điểm đến Đức Hòa có thể đi bằng đường bộ, (lộ 10, lộ 8, lộ 9, lộ 7) và có đường liên tỉnh lộ thông ra quốc lộ số 1 bằng đường thủy từ Hóc Môn - Bà Điểm nhờ sông Sài Gòn chảy qua cầu Bông đến cầu An Hạ. Từ Đức Hòa, theo sông Vàm Cỏ có thể vận chuyển bằng xuồng ghe đến các huyện bạn một cách dễ dàng, nhanh chóng.


Về đặc điểm địa lý quân sự, do đặc điểm địa lý hành chính sát nách Sài Gòn, lại có những điều kiện thuận lợi về mặt hành chính, đi lại thuận lợi dễ dàng bằng các loại phương tiện thủy, bộ... nên Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa là những địa bàn quan trọng cho hoạt động cách mạng sau này.


Cư dân Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa mang đặc điểm truyền thống của nhân dân Nam Bộ. Họ đều là những người dân từ Bắc, Trung di cư vào Nam để tránh cuộc phân tranh đẫm máu giữa chúa Trịnh và chúa Nguyễn (thế kỷ thứ XVI). Những người dân tha phương đã đoàn kết với nhau vượt qua sự thử thách khắc nghiệt của thiên nhiên, đấu tranh với thú dữ, và chiến đấu chống bệnh tật, có truyền thống yêu thương nhau “lá lành đùm lá rách” để sống và tồn tại. Trong cuộc sống họ đã từng đoàn kết bên nhau chống lại kẻ thù.

Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế

quansuvn

Moderator
*
Bài viết: 7290



WWW

Lịch sử Giải phóng quân Hóc Môn-Bà Điểm-Đức Hoà Chi đội 12 Trung đoàn 312« Trả lời #3 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2021, 07:27:05 pm »
Nhân dân Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa vốn có truyền thống yêu nước và tinh thần đấu tranh anh dũng chống kẻ thù xâm lược.

Từ năm 1859, quân xâm lược Pháp nổ súng lần đầu tiên tiến công thành Gia Định. Nhân dân Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa gia nhập nghĩa quân do những người yêu nước chiêu mộ, tiêu biểu nhất là nghĩa quân do Trương Định lãnh đạo, đã đánh địch ngay tại trung tâm Gia Định. Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa là những căn cứ của quân nổi dậy; giúp nghĩa quân Trương Định đánh tan đồn Thuận Kiều.


Sau đó, nhân dân Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa tiếp tục ủng hộ các cuộc khởi nghĩa do Nguyễn Anh Thủ (1871) và Phan Công Hớn (1885) lãnh đạo.

Từ đầu thế kỷ XX, những tư tưởng cách mạng cấp tiến đã bắt đầu xâm nhập vào Việt Nam. Do vị trí sát Sài Gòn và có địa thế lợi hại nên Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa trở thành địa bàn hoạt động khá mạnh của các nhóm và các tổ chức có tư tưởng tiến bộ. Tổ chức đầu tiên có tinh thần yêu nước hoạt động ở Gia Định - Chợ Lớn là hội kín Phan Xích Long lây tên là “Thiên Địa Hội”. Tổ chức này đã tập hợp khá rộng rãi những người nông dân yêu nước chống thực dân Pháp.


Đêm ngày 23 tháng 3 năm 1913, nghĩa quân vùng ngoại thành Hóc Môn - Bà Điểm cùng các tỉnh lân cận đột nhập vào nội thành tiến công một số cơ sở của Pháp như Sở thanh tra, Khám lớn Sài Gòn...

Đêm ngày 14 tháng 2 năm 1916 nghĩa quân dự kiến tiến công dinh thống đốc Nam Kỳ, Khám lớn Sài Gòn giải thoát cho Phan Xích Long nhưng kế hoạch bại lộ, bị đàn áp dữ dội và tan rã.

Năm 1925, nhà trí thức yêu nước Nguyễn An Ninh về nước để tuyên truyền tư tưởng cách mạng, ông đã chọn ngay Đức Hòa làm địa bàn hoạt động của mình. Nguyễn An Ninh đã gặp những người yêu nước ở Thiên Địa Hội. Những buổi lễ “trích máu ăn thề”, “kết nghĩa huynh đệ” của ông với những người yêu nước đã diễn ra ở Đức Hòa.


Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa cũng là nơi diễn ra mạnh mẽ phong trào để tang cụ Phan Chu Trinh, đòi thả cụ Phan Bội Châu (1926)... là địa bàn hoạt động quan trọng của hội kín Nguyền An Ninh (1926 - 1929).


Có thể nói các phong trào trước khi có Đảng lãnh đạo đã diễn ra mạnh mẽ ở tỉnh Gia Định, Chợ Lớn, trong đó nổi bật ở các huyện Đức Hòa (Chợ Lớn) và Hóc Môn - Bà Điểm (Gia Định). Các phong trào yêu nước đã khơi sâu lòng căm thù sâu sắc đối với thực dân Pháp và tay sai, khơi dậy tinh thần yêu nước của nhân dân, tạo nên những tiền đề hết sức thuận lợi cho việc tập hợp, tổ chức quần chúng nhân dân đấu tranh giải phóng dân tộc.


Ngày 3 tháng 2 năm 1930, Đảng cộng sản Việt Nam thành lập. Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, phong trào cách mạng phát triển mạnh mẽ ở Gia Định, Chợ Lớn và các địa bàn miền Đông Nam Bộ. Đức Hòa là một trong những nơi ra đời các chi bộ Đảng đầu tiên ở Nam Bộ và trở thành căn cứ và nơi hoạt động của Xứ ủy. Ở Hóc Môn - Bà Điểm nổi lên cuộc đấu tranh chống sưu thuế của nông dân (tháng 6 năm 1930)... đã làm cho kẻ thù hoảng sợ. Ngày 4 tháng 6 năm 1930, 2000 công nhân Đức Hòa biểu tình đòi thực dân Pháp giảm sưu thuế, không được áp bức công nhân (do đồng chí Châu Văn Liêm, Bí thư Tỉnh ủy Chợ Lớn lãnh đạo).


Ngày 1 tháng 8 năm 1930, Đảng bộ Gia Định chủ trương một cuộc đấu tranh bằng đồng khởi ở hai quận Hóc Môn - Bà Điểm. Từ đây, nhân dân Hóc Môn - Bà Điểm càng thêm khăng khít bên nhau trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.


Sang đầu năm 1931, phong trào đấu tranh của quần chúng ở vùng nông thôn Hóc Môn - Bà Điểm - Gò Vấp vẫn diễn ra sôi nổi.

Từ những năm 1930-1931, phong trào đấu tranh của nhân dân Gia Định - Chợ Lớn lên rất cao, nhất là vùng Hóc Môn - Bà Điểm (Gò Vấp), Đức Hòa, các tổ chức Đảng phát triển nhiều đảng viên, cơ sở quần chúng ở địa phương như Nông hội đỏ càng tập trung thêm nhiều nông dân tích cực, quần chúng rất tin tưởng vào sức mạnh của Đảng, qua đó cơ sở quần chúng của Đảng được phát triển lan ra khắp vùng.


Cao trào 1932-1935, tình hình địa phương Hóc Môn - Bà Điểm rất căng thẳng, đế quốc Pháp đàn áp khủng bố cộng sản gay gắt càng làm cho khí thế đấu tranh của quần chúng ngày một tăng lên. Chúng tăng cường bộ máy cai trị, đưa tên cò Bataille khét tiếng, trưởng bót và tên Rigaut, phó bót cùng một tiểu đội lính Pháp về đóng tại Bà Điểm, hòng ngăn chặn sự đấu tranh của quần chúng mà chúng cho Bà Điểm là trung tâm của cộng sản.


Làn sóng khủng bố của thực dân Pháp đã tràn qua vùng Hóc Môn - Gò Vấp, làm cho một số tổ chức cơ sở bị tan rã, một số cán bộ, đảng viên bị bắt nhưng chỉ trong một thời gian ngắn thì Đảng khôi phục lại ngay, tổ chức Đảng ở cơ sở các làng vẫn được giữ vững và phát triển.


Trong cao trào 1936-1939, Bà Điểm, 18 thôn Vườn Trầu đã được Đảng chọn làm căn cứ địa cách mạng của Trung ương để lãnh đạo phong trào cách mạng trong cả nước.

Trong thời gian từ năm 1936 đến năm 1939, Trung ương Đảng đóng trụ sở tại Bà Điểm và mở nhiều cuộc hội nghị quan trọng nhưng không một đồng chí nào bị lộ, bị địch bắt tại đây; các đảng viên cơ sở và những quần chúng tốt đã đảm bảo bí mật và an toàn tuyệt đối cho các đồng chí Trung ương.


Cũng trong thời gian này ba địa phương: Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa hình thành một “vành đai đỏ” ở phía tây bắc Sài Gòn. Vành đai đấu tranh cách mạng ấy đã làm cho quân Pháp tốn không ít công sức để đối phó.


Những năm 1936-1939 là thời kỳ đấu tranh rất sôi nổi ở Gia Định (Hóc Môn - Bà Điểm) và Chợ Lớn (Đức Hòa). Đảng bộ đã vận dụng khá sáng tạo và linh hoạt sự chuyến hướng chỉ đạo chiến lược mục tiêu đấu tranh đòi quyền dân sinh dân chủ, chống phát xít nhưng trong tình hình cụ thể, Đảng bộ đã nhạy bén khai thác được những vấn đề nổi cộm nhất: ở Đức Hòa là quyền lợi của người trồng thuốc lá và trồng mía: Đòi quyền tự do trồng cây thuốc lá không hạn chế số lượng, đòi bỏ thuế đoan và thuế đi lại đối với người buôn bán thuốc lá; đòi bỏ thuế đoan và môn bài đối với loại thuốc đã xắt thành sợi. Cuộc đấu tranh đã thu được thắng lợi. Sau đó là cuộc đấu tranh của những người trồng mía đòi tăng giá mía. Cuộc đấu tranh của bà con nông dân được sự đồng tình ủng hộ của công nhân hãng đường và những người khuân vác, chuyên chở mía. Có được sự phối hợp hành động nhịp nhàng giữa bên ngoài và bên trong là do có sự chỉ đạo của huyện ủy về sự kết hợp giữa chi bộ nhà máy và “Nông hội đỏ”.

Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế

quansuvn

Moderator
*
Bài viết: 7290



WWW

Lịch sử Giải phóng quân Hóc Môn-Bà Điểm-Đức Hoà Chi đội 12 Trung đoàn 312« Trả lời #4 vào lúc: 30 Tháng Bảy, 2021, 07:28:06 pm »
Ở Hóc Môn - Bà Điểm, nhiều cuộc biểu tình của quần chúng nổ ra rầm rộ ở trong huyện, kết hợp với các cuộc biểu tình của công nhân hãng Ba Son. Bà con nông dân Hóc Môn - Bà Điểm đã tích cực đóng góp giúp đỡ công nhân kéo dài các cuộc đấu tranh đi đến thắng lợi, thể hiện sự liên minh chặt chẽ giữa nông dân và công nhân, giữa nội thành, ngoại thành Sài Gòn - Gia Định trong cuộc đấu tranh chung giành thắng lợi.


Năm 1938, được sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Gia Định, quần chúng ba quận Hóc Môn, Gò Vấp, Đức Hòa phối hợp biểu tình kéo vào thị trấn Hóc Món đấu tranh đòi giảm thuế, đòi thi hành các quyền tự do dân chủ, đòi địa chủ giảm tô và chống bắt lính.


Phong trào Đông Dương Đại hội (1936-1939) có ý nghĩa to lớn, đã tập hợp đông đảo quần chúng tại địa phương vào trận tuyến mới của Đảng sau thời gian phong trào tạm lắng (1932-1935). Chính thắng lợi của phong trào này đã tạo điều kiện thuận lợi cho Đảng hoạt động được trong điều kiện lúc bấy giờ mà vẫn bảo đảm được an toàn cơ sở.


Qua các cuộc biểu dương lực lượng và đấu tranh của quần chúng, uy tín của Đảng ta thêm sâu rộng, trình độ giác ngộ chính trị và trình độ của quần chúng được nâng cao. Với phong trào Đông Dương Đại hội, Đảng đã tập hợp quần chúng, tập dượt họ, kiểm nghiệm họ để chuẩn bị cho cao trào đấu tranh mới. Các cơ sở Đảng ở Hóc Môn, Bà Điểm và Đức Hòa phát triển nhanh chóng, một lần nữa ba địa phương đã sát cánh bên nhau dưới sự lãnh đạo của tỉnh ủy trong các cuộc biểu tình, đấu tranh của công nhân và nhân dân lao động.


Năm 1940 Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa lại sát cánh bên nhau kiên cường bất khuất trong khởi nghĩa Nam Kỳ. Tháng 11 năm 1940, các ủy ban khởi nghĩa quận tống đều họp kiểm tra sự chuẩn bị và đặt kế hoạch cho từng địa phương.


Quận Hóc Môn có nhiệm vụ vào quận lỵ tuyên truyền vận động quần chúng trong thị trấn, kêu gọi binh lính đi với cách mạng, triệt hạ đồn Hóc Môn và tiêu diệt bọn gian ác, đồng thời tiếp ứng cho Sài Gòn.

Quận Gò Vấp chịu trách nhiệm diệt bót Bà Điểm, bót Vườn Tiêu Tân Sơn Nhất, bót ngã năm Vĩnh Lộc; ngoài ra còn nhiệm vụ đưa quân vào tiếp ứng cho Sài Gòn.

Quận Đức Hòa có nhiệm vụ cướp chính quyền ở địa phương và chi viện cho Sài Gòn để phối hợp với cuộc binh biến của binh sĩ đồn Ô-ma.

Ngày 20 tháng 11 năm 1940, Thường vụ Xứ ủy ra lệnh khởi nghĩa. Thời gian khởi nghĩa được xác định vào đêm ngày 22 tháng 11 năm 1940. Lệnh đã gửi đi các tỉnh trong toàn xứ thì trưa ngày 23 tháng 11 năm 1940, đồng chí Phan Đăng Lưu ở ngoài Bắc vào, mang chỉ thị của Trung ương hoãn cuộc khởi nghĩa, nhưng lệnh khởi nghĩa đã xuống đến các cơ sở, không thể thu hồi lại được, nên cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ đã nổ ra. Trước giờ khởi nghĩa, các đồng chí lãnh đạo xứ và thành ủy đều bị bắt. Một số đảng viên phản bội đầu hàng đã khai báo với địch về chủ trương khởi nghĩa nên kế hoạch đã bị lộ.


Gia Định, Chợ Lớn và các vùng xung quanh thành phố, đêm ngày 22 tháng 11 năm 1940 vẫn tiến hành khởi nghĩa vì không bắt được liên lạc với Thành ủy và Xứ ủy.

Tại quận Gò Vấp, nghĩa quân đã tấn công các đồn bót địch Lăng Cha Cả, bót Vườn Tiêu, bót ngã năm Vĩnh Lộc và bót Phú Lâm...

Quận Hóc Môn huy động một lực lượng lớn quần chúng tham gia khởi nghĩa, cùng lực lượng nghĩa quân của 4 tổng chia thành 4 mũi tấn công áp sát dinh lũy tên quận trưởng Hóc Môn...

12 giờ đêm ngày 22 tháng 11 năm 1940, các cánh nghĩa quân tiến công đồn Hóc Môn. Cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt, ta làm chủ tình hình, nhưng đến 4 giờ sáng thực dân Pháp cho hai đội quân từ Thủ Dầu Một và Gia Định đến giải vây.


Ở Đức Hòa, huyện ủy chủ trương tiếp cận thị trấn ngã ba Chùa Ông, sau đó trừ diệt một số tên ác ôn. Đến sáng ngày 23 tháng 11, quân Pháp đưa về thị trấn Đức Hòa một đại đội lính lê dương cùng xe bọc thép, máy bay yểm trợ mở cuộc càn vào xã Đức Hòa và vùng ven thị trấn.


Cũng như Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa và một số vùng Sài Gòn - Gia Định, cuộc khởi nghĩa không thành và bị thực dân Pháp khủng bố, trả thù đẫm máu.

Trước tình hình đó, để bảo tồn lực lượng, quận ủy Đức Hòa buộc phải phân tán lực lượng, chỉ để lại một số đồng chí còn giữ được bí mật ở lại bám cơ sở, số còn lại chia làm hai cánh.

Cánh thứ nhất do bí thư Nguyễn Văn Yến và đồng chí Huỳnh Văn Một chỉ huy rút về giồng Bốt, qua Hóc Môn - Bà Điểm rồi về Truông Mít - Tây Ninh.

Cánh thứ hai ít người hơn, do phó bí thư Lê Văn Lao chỉ huy rút về Mô Ba Làng - Hậu Thanh rồi nhập với nghĩa quân Thủ Thừa - Bến Lức, Trung Quận. Cánh quân do bí thư Nguyễn Văn Yên của Đức Hòa rút về Hóc Môn, gặp cánh quân quận Gò Vấp cũng rút về đây. Ba lực lượng Đức Hòa, Gò Vấp, Hóc Môn rút về làng Mỹ Hạnh (quận Đức Hòa - Chợ Lớn), được nhân dân tiếp tế lương thực, thực phẩm. Một cuộc họp giữa lãnh đạo và chỉ huy ba lực lượng được tổ chức để bàn việc thống nhất lực lượng.


Sau đó cánh lực lượng nghĩa quân Hóc Môn, Gò Vấp, Đức Hòa rút về rừng cao su Phước Vĩnh An (quận Hóc Môn). Ban lãnh đạo chỉ huy ba quận nhât trí cử ra Ban chi ủy Đảng để lãnh đạo gồm 7 đồng chí (2 đồng chí của tỉnh ủy và cán bộ xứ, 2 đồng chí của Đức Hòa, 1 đồng chí của Gò Vấp và 2 đồng chí của Hóc Môn), do đồng chí Nguyễn Văn Mùi (tức Hà Đăng Nam) làm bí thư và đồng chí Đặng Văn Cơ (Tỉnh ủy viên Gia Định làm phó bí thư).


Lực lượng nghĩa quân thống nhất ba quận Hóc Môn, Gò Vấp, Đức Hòa gồm khoảng 150 chiến sĩ (có 1 nữ) với 30 súng trường, 8 súng lửa và các loại lười lê, dao mác, một ít đạn và các dụng cụ khác.

Lực lượng nghĩa quân hoạt động đến cuối tháng 12 năm 1940 thì nhận được chỉ thị của Xứ ủy Nam Kỳ (do nữ đồng chí Nguyễn Thị Sao đưa đến) phân tán để trở về địa phương.

Như vậy, một lần nữa ba địa phương đã tổ chức thành một liên quân thống nhất dưới sự chỉ huy của một ban chi ủy Đảng lãnh đạo, tạo tiền đề cho việc tổ chức lực lượng sau này.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn