Khác

Chiến trường mới (1)

Viết lời giới thiệu cho cuốn hồi ức của thượng tướng, phó giáo sư Nguyễn Hữu An tôi càng xúc động thương tiếc người đồng chí, bạn chiến đấu gần gũi, tin cậy qua hai cuộc kháng chiến vĩ đại của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng và Bác Hồ muôn vàn kính yêu vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội. Thu đông năm 1947 quân viễn chinh Pháp tấn công lên Việt Bắc, tôi gặp Hữu An là chính trị viên trung đội... ở chiến trường Bắc Cạn, Hữu An được chuyển sang làm đại đội trưởng, chiến đ

Lai Châu03/07/2026Quân đội nhân dân (xã sìn hồ)23 lượt xem0 lượt chia sẻ
ĐI CHIẾN TRƯỜNG

1
Bữa liên hoan nhẹ chia tay, gồm vài bạn thân và người trong gia đình tôi. Mọi người đều tỏ niềm hân hoan chúc mừng chuyến đi học nước bạn của tôi thành công. Thật lòng, được cấp trên cử sang Trung Quốc học quân sự lần này tôi rất phấn khởi, bởi đây cũng là lần đầu được đi học dài ngày. Khoảng gần chín giờ tối, khách đã về hết, tôi và nhà tôi đang kiểm tra lại hành lý lần cuối cùng xem thiếu đủ thế nào, để sớm mai ra tàu khỏi cập rập.

Nghe tiếng chuông điện thoại reo, tôi nghĩ "lại có anh bạn nào trong đoàn hỏi gì chăng?”, bởi số anh em đi học ở Trung Quốc được tổ chức thành đoàn, anh Hoàng (điếc) là đoàn trưởng, tôi là đoàn phó, khi cầm ống nghe đặt vào tai có tiếng nói:

- Anh An phải không? Tôi trực ban của Tổng cục Chính trị đây… Lệnh anh Mậu, anh lên gặp anh Mậu ngay. Có việc gấp.

Lại có việc gì gấp nữa đây. Hộ chiếu có rối, giờ tàu số toa có rồi…, đoàn đội đã sinh hoạt cả rồi... sao anh Mậu không gặp Hoàng lại gặp mình. Tôi thoáng nghĩ chuyến đi này lại có trục trặc gì đây? Chẳng có lý chuẩn bị đẩy đủ mọi thứ, chỉ còn lên tàu nữa thôi mà lại ngừng. Quay sang phía nhà tôi, tôi nói: thôi đừng thu xếp nữa, hình như có trục trặc gì rồi đấy em ạ!

Tôi vừa bước vào cửa phòng làm việc của thiếu tướng Phạm Ngọc Mậu, anh đã cười “khà khà". Tiếng cười cởi mở dễ dãi của anh báo động cho tôi chuẩn bị đón nhận điều bất ngờ.

- Không đi học nữa – anh Mậu vừa cười vừa nói - Đi đánh nhau nhá. Quyết định của Quân ủy anh đi ngay vào Quân khu 4 nhận chức tư lệnh sư đoàn 325, gấp rút chấn chỉnh bổ sung trang bị rồi đưa vào miền Nam chiến đấu.

Tinh thần phấn chấn về chuyến “du học” ở nước ngoài như quả bóng xì hơi, trong tôi lại phải sắp xếp lại cái trật tự tư duy bình thường của người chiến binh, nghĩa là chuẩn bị tư tưởng hành quân xa mang nặng, là chiến đấu liên tục, là gian khổ đói khát... hoàn toàn không giống việc đi học ở một đất nước đang sống bình yên. Lúc này trong tôi xuất hiện hai luồng suy nghĩ: không đi học thì cũng tiếc, nhưng đi đánh nhau vẫn khoái hơn nên tôi chấp nhận một cách thoải mái.

Tôi đang mang bệnh trĩ ngoại, ngồi cũng đau, đi lại cũng đau... Tôi tính đi học để kết hợp chữa chạy, nhưng bây giờ đi chiến đấu lại là vấn đề hoàn toàn khác. Tôi nói với thiếu tướng Mậu:

- Cho tôi xin dừng lại một tuần lễ để chữa trĩ, hiện nó đang ra máu.

- Anh còn phải gặp anh Dũng giao nhiệm vụ cụ thể, vẫn còn thời gian đi chữa không lo.

Thế là thêm một chuyến đi học hụt. Năm ngoái (1963) tôi được học nửa năm tiếng Nga ở trường văn hóa Lạng Sơn. Để đi Liên Xô học, hộ chiếu đã cầm tay, đang nghỉ phép để chuẩn bị lên đường lại nhận lệnh “thôi không đi học”, “đi chiến trường Lào”. Mãi sau này mỗi lúc ngồi ôn chuyện cũ mấy anh bạn tôi thường nói đùa "cái số cậu vất vả”.

Sau một, hai hôm thiếu tướng Mậu báo “thôi không đi học” tôi được văn phòng Bộ Tổng Tham mưu gọi điện “tới gặp thủ trưởng Dũng”. Tôi đếm bước trên chín cái bậc đá có hai con rồng đá chầu hai bên, rồi ngước mắt nhìn những cây xoài cổ thụ có tán lá rộng phủ bóng xuống cái sân gạch khá rộng – sân rồng của triều Lê đó, và địa điểm của văn phòng Bộ Tổng Tham mưu. Cũng vì lẽ đó mà anh em thường gọi hài hước: Văn phòng Bộ Tổng Tham mưu là “Sân rồng“.

Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng, Phó chủ nhiệm tổng cục Hậu cần Nam (đen) và một cán bộ tham mưu đã ngồi bên chiếc bàn khá rộng, trước mắt là tấm bản đồ khổ lớn. Tôi vừa ngồi xuống ghế, anh Dũng nói ngay vào lý do cuộc gặp và căn dặn tôi những vấn đề chung cho tính chất chiến lược. Anh nhấn mạnh tầm quan trọng việc “lần đầu tiên ta đưa một sư đoàn đầy đủ từ miền bắc vào chiến trường miền Nam. Việc chuẩn bị cơ sở vật chất cho sư đoàn, anh Dũng cho biết Bộ đã giao cho Quân khu 4 chịu trách nhiệm".

Tôi hỏi việc tiếp tế dọc đường hành quân, anh Nam (đen) trả lời:

- Gạo ở các kho trên dọc đường đủ cung cấp cho một sư đoàn, gạo để lâu bị mọt nhưng vẫn ăn được.

« Sửa lần cuối: 18 Tháng Mười Một, 2016, 08:58:26 pm gửi bởi Giangtvx »

Logged

Giangtvx

Thượng tá
*
Bài viết: 25560

Re: Chiến trường mới - Thượng tướng Nguyễn Hữu An« Trả lời #2 vào lúc: 18 Tháng Mười Một, 2016, 08:52:33 pm »

Khoảng giữa tháng 9 năm 1964 Bộ Tổng tham mưu cho xe đưa tôi vào Đồng Hới. Mấy ngày nắng gió tây nồng nực, không còn cảm giác thời gian này đang là mùa thu, lưng áo tôi lúc nào cũng thấm ướt mồ hôi. Doanh trại sư đoàn bộ bằng tre, dựng trên ngọn đồi đất tương đổi bằng phẳng ở phía bắc thị xã Đồng Hới. Những hàng rào phi lao cằn cỗi chưa đủ sức tạo ra bóng mát cho những đoạn đường đất đỏ nối tiếp các nhà trong khu doanh trại.

Các anh Quách Sĩ Kha chính ủy, Hữu Anh phó chính ủy, Trần Văn Trân phó tư lệnh, Cao Long tham mưu trưởng... trong Bộ Tư lệnh đã nhận được tin tôi vào nhận chức sư trưởng. Chúng tôi làm quen với nhau rất nhanh. Theo nền nếp cũ, ai làm việc nấy, đơn vị vừa huấn luyện bổ sung vừa chuẩn bị trang bị cho cuộc hành quân. Thời gian chuẩn bị gấp, Quân khu 4 không đủ quân trang để trang bị cho sư đoàn đành phải động viên nhau "có gì dùng nấy”. Những đợt đi "B" trước, anh em được trang bị ba lô con cóc, tăng, võng, áo len, quần áo ka ki, tiền của ngụy. Lần này đi sư đoàn 325 mỗi người được trang bị hai bộ quần áo, một cái võng bạt, không áo len, và vẫn giữ cái ba lô vuông cũ. Trang bị thiếu thốn ảnh hưởng tới sức khỏe và tinh thần của anh em suốt dọc đường hành quân, và điều đó cũng làm cho các cán bộ chỉ huy trực tiếp vất vả hơn.

Tôi, Minh Đức (mới về thay anh Quách Sĩ Kha) cùng một số cán bộ của trung đoàn 101 và một đội trinh sát, tất cả khoảng hơn 100 người đi trước (khoảng tháng 11) để chuẩn bị chiến trường. Qua vài binh trạm giao liên ở ngoài Bắc, tôi hỏi thăm xem vào tuyến đường trong kia có khó khăn, thuận lợi gì. Có anh em nói nửa đùa, nửa thật: "Hành quân xa thêm một cái cúc áo cũng cảm thấy nặng hơn. Khi vượt qua tây Trường Sơn rồi không cần mang theo nhiều lương thực, thực phẩm dự trữ cho nặng, các đơn vị đi trước họ vất đầy ven đường chịu khó nhặt cũng đủ ăn...". Tôi mỉm cười nghi ngờ chuyện lạ lùng đó.

Đơn vị hành quân đến trạm 40, chúng tôi đã bắt đầu nếm mùi gạo mục. Nhưng vẫn chưa đến nỗi nào, khi nấu lên dù mùi hôi có xộc ngay vào mũi vẫn có thể gọi là cơm được. Và lúc này còn thức ăn khô nên bữa ăn mọi người vẫn cảm thấy bình thường.

Sớm hôm ấy chúng tôi lội qua con suối đá khá rộng, rồi đi vòng vèo theo ven bờ lên chân dốc của ngọn núi "một ngàn lẻ một". Đây là một ngọn núi cao đầu tiên để vượt từ phía đông sang phía tây Trường Sơn. Tôi ngửa mặt nhìn con dốc cao mất hút trong vòm lá xanh, nhiều đoạn anh em giao liên đã tạo ra những bậc thang bằng đất dựng đứng 80 - 90 độ, những dây song hoặc cành cây buộc nối tiếp làm tay vịn qua tay nhiều người đã bóng loáng như phủ quang dầu. Nghĩ tới trung tá Tô Đình Khản vóc người còm nhom đang ốm cõng cái ba lô nặng mười bốn, mười lăm ki-lô-gam gò từng bước, từng bước một mà tôi ái ngại, tưởng như mình đang mắc lỗi gì đó.

Mặc dầu Khản chỉ ké vào cuộc hành quân này để vào bổ sung cho trung đoàn 320, nhưng trong lòng tôi vẫn canh cánh không yên. Tôi quyết định đeo ba lô của mình và bảo cậu công vụ đeo ba lô giúp Khản. Từ lúc đó cho tới suốt chặng đường dài "con ruồi đậu nặng một đồng cân" nhưng tôi thấy lòng mình nhẹ nhàng thanh thản.

Vượt qua phía tây Trường Sơn, vẫn con đường mòn không thể đi sóng đôi được ấy, nhưng những con dốc hiền hòa hơn, không còn tình trạng đầu người đi sau đụng vào ba lô của người đi trước như ngày hôm qua. Đến cung đường này tôi chú ý nhìn hai ven đường, kiểm tra ý kiến của mấy anh cán bộ binh trạm ngoài Bắc nói lương thực, thực phẩm "...vất đầy ven đường, chịu khó nhặt cũng đủ ăn... ". Quả thật, cũng có chuyện vứt bỏ bừa bãi nhưng rải rác chỗ này vài vỏ đồ hộp, chỗ kia vài cái quần áo rách làm gì có thứ ăn được lại vất đi!

Càng đi sâu vào các cung đường phía nam, việc nuôi quân càng kém hơn. Ở đây dù cán bộ hậu cần có tài năng thế nào cũng "vô kế khả thi". Mỗi ngày đầu người được hưởng hai lon sữa bò gạo mục, sau rút xuống còn một lon cộng với sắn. Anh em lĩnh gạo ở kho về, tôi bốc một nhúm đưa lên mũi ngửi. Trời ơi! Không còn gọi là gạo nữa mà nó vừa hôi vừa mốc, một thứ mùi hỗn hợp thật khó chịu. Có cách gì chữa chạy để giảm bớt mùi khó ngửi ấy không. Các chiến sĩ nuôi quân có hạng cũng lắc đầu, bó tay. Nếu đem xuống suối vo, gạo sẽ thành bột và chỉ còn lại là những con mọt trên rá. Đành cứ như thế mà đổ vào nồi vậy.

Để khắc phục cái mùi khó ngửi kia, anh nuôi thường làm món cơm canh hỗn hợp, nghĩa là kiếm được mớ rau rừng (phổ biến là rau môn thục) thì cho luôn vào nồi rồi đảo trộn với gạo nấu đến nhừ thì thôi. Bữa ăn xới từ trong nối ra bát, cái gọi là cơm nó deo dẻo màu lá cây phủ ra mùi hăng hăng, nồng nồng. Nhưng lúc bụng đói cồn cào, ai để ý màu sắc, mùi vị làm gì, miễn rằng cái thứ đó vừa xúc vào bát của mình có thể nuôi sống người và cứ thế lùa cho đầy dạ dày.

Logged

Giangtvx

Thượng tá
*
Bài viết: 25560

Re: Chiến trường mới - Thượng tướng Nguyễn Hữu An« Trả lời #3 vào lúc: 18 Tháng Mười Một, 2016, 08:57:47 pm »

Lương thực, thực phẩm hậu cần phải cung cấp trên dọc đường chỉ trần trụi có mấy thứ: gạo, muối và mắm kem. Gạo như đã nói trên, còn muối thì sao? Quản lý chia đầu người/ngày một gạt miệng hộp cao sao vàng. Bữa ăn như vậy, nên sau bữa ăn mọi người cảm thấy hau háu thòm thèm cái gì đó. Giá như được một bữa rau muống luộc có nước chấm đàng hoàng, giá như được một cốc nước chanh, giá như được một bữa thịt luộc ăn thoải mái...

Đi tới gần Tây Nguyên tình cờ gặp trung tá Nguyễn An là bạn học tiếng Nga ở Lạng Sơn cũ, binh trạm trưởng nơi chúng tôi vừa hành quân tới. Nguyễn An thết tôi một bữa cơm cá chép nấu canh chua. Ôi! Sao mà ngon đến như vậy. "Miếng ngon nhớ lâu”, sau này tôi đã từng dự liên hoan, nhưng thật khó có một bữa nào ngon tuyệt vời như vậy.

Sự thiếu thốn trang bị, lương thực, thực phẩm trong hành quân so với tính chất quan trọng mà Bộ Tổng Tham mưu nêu ra, khi trao nhiệm vụ cho sư đoàn tôi, tôi thấy trong đó có cái gì thiếu cân xứng. Việc chuẩn bị cơ sở vật chất cho một sư đoàn vào chiến trường (ở thời điểm ấy) có lẽ không nên giao cho cấp quân khu. Bộ (* Khái niệm “Bộ” có nghĩa là Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Quốc phòng có khi cả Quân ủy Trung ương.) trực tiếp và có kiểm tra cụ thể chắc chắn bộ đội đỡ cực hơn, và sức khỏe sẽ tốt hơn.

Nhìn cán bộ, chiến sĩ người nào cũng xanh xao vàng vọt hốc hác, đã thôi thúc tôi khi đến nơi phải viết ngay bức thư nói rõ, những suy nghĩ của mình về thực tế cuộc hành quân, sư đoàn vừa trải qua để Bộ rút kinh nghiệm.


2
Khi tới Công Tum, tôi, anh Nguyễn Minh Đức chính ủy và một số anh em trong bộ tư lệnh sư đoàn rẽ vào Đắc Un, nơi đóng quân của Bộ chỉ huy Mặt trận B3 (* Mật danh chỉ Mặt trận Tây Nguyên.). Tưởng Bộ chỉ huy Tây Nguyên là ai xa lạ, hóa ra quen thuộc cả. Các anh Nguyễn Chánh tư lệnh, anh Đoàn Khuê chính ủy, Hà Vi Tùng tham mưu trưởng. Riêng chính ủy Đoàn Khuê là người tôi mới gấp lần đầu. Mọi người mới cũ đều tỏ ra vui mừng xúc động thăm hỏi nhau.

Chúng tôi được nghỉ ngơi vài ngày ăn chế độ "bối dưỡng”, nghĩa là được ăn no, mỗi ngày ba lon gạo còn thức ăn tự kiếm ở rừng, chủ yếu là măng và môn thục, thỉnh thoảng cũng được bữa cá do anh em đánh ở suối.

Tranh thủ thời gian, Bộ chỉ huy Mặt trận họp phổ biến tình hình chung của chiến trường và cho chúng tôi biết chỉ thị của Quân ủy và của Bộ. Tôi và Minh Đức bổ sung vào Đảng ủy Mặt trận. Về chính quyền tôi là phó tư lệnh, Minh Đức là phó chính ủy của Mặt trận B3; một số cán bộ cơ quan sư đoàn 325 sẽ nhập vào cơ quan Bộ tư lệnh B3. Trung đoàn 95 và trung đoàn 18 xuống đồng bằng Quân khu 5. Trung đoàn 101 Ở lại Tây Nguyên. Đến đây thực chất sư đoàn 325 đã bị giải thể, nhiều cán bộ chiến sĩ trong sư đoàn tôi chưa kịp làm quen đã phải chia tay.

Mặt trận Tây Nguyên trực thuộc Quân khu 5 gồm ba tỉnh Công Tum, Plây Cu, Buôn-Ma-Thuột, trung đoàn 320 và 101, bộ binh, tiểu đoàn đặc công và ba đại đội địa phương tỉnh.

Chủ trương của Mặt trận thời gian này là: đưa trung đoàn 101 vào tham gia tác chiến ngay để làm quen với chiến trường, cách đánh: sử dụng chiến thuật "vây điểm diệt viện".

Đối với tôi chiến trường này hoàn toàn mới mẻ vả xa lạ, nên sau mấy.ngày nghỉ, tôi và Minh Đức cùng cán bộ của trung đoàn 101 tranh thủ đi trinh sát dọc theo đường 14 xem địa hình các điểm Đắc Sút, Đắc Long, Pô Cô, Đắc Tô, Tân Cảnh rồi lên phương án tác chiến. Chúng tôi hạ quyết tâm vây Đắc Long đánh địch viện từ Tân Cảnh tới.

Trung đoàn 101 đang chiếm lĩnh trận địa vây Đắc Long và mai phục đoạn đường từ Đắc Sút về Đắc Long được hai ngày thì nhận được lệnh “rút quân” của Bộ tư lệnh Mặt trận, với lý do vừa nhận được điện của Bộ: "Không bộc lộ lực lượng sớm, để nuôi cho địch chủ quan sơ hở…”.

Trong thâm tâm tôi chưa thật thoải mái: “Địch chưa biết ta có lực lượng mới, tại sao ta không giành thế bất ngờ mà lại chờ nuôi cho nó chủ quan…”, nhưng tôi vẫn nghiêm chỉnh chấp hành, và hạ lệnh cho trưng đoàn 101 rút quân. Nhận được lệnh rút, anh em có xì xầm bàn tán, thậm chí có người tỏ vẻ bực mình nữa. Loại tình huống này đối với tôi không phải mới gặp lần đầu. Tôi và Minh Đức biết khá rõ sự phản ứng của anh em. Chúng tôi bàn và đề ra công tác lãnh đạo tư tưởng cho anh em quán triệt và chấp hành nghiêm chỉnh.

Tôi rời bộ phận bao vây Đắc Long tới sở chỉ huy trung đoàn 101, cách khoảng mươi mét đã nghe tiếng tranh luận có vẻ gay gắt.

… Trung đoàn trưởng Mót nói:

- Tôi cho các đơn vi rút thật nhanh ra khỏi trận địa đề phòng địch dùng phi pháo.

Minh Đức nóng nảy cắt ngang:

- Nhanh không có nghĩa là ẩu tả thiếu tổ chức chặt chẽ. Tại sao anh không hạ lệnh cho thứ tự từng đơn vị, đội hình rút, đề phòng tình huống có thể gặp...

Thấy tôi anh Minh Đức ngừng lại hất cầm thay lời nói "anh xem đó". Tôi thấy điều anh Minh Đức nói hoàn toàn đúng nên cũng nhắc Mót: chú ý thêm động tác tổ chức chỉ huy cho chặt chẽ.

Logged

Giangtvx

Thượng tá
*
Bài viết: 25560

Re: Chiến trường mới - Thượng tướng Nguyễn Hữu An« Trả lời #4 vào lúc: 19 Tháng Mười Một, 2016, 08:19:27 am »

3
Mấy hôm sau chúng tôi về họp Bộ tư lệnh Mặt trận để quán triệt ý kiến chỉ đạo của Bộ qua bức điện nói trên. Cuộc họp phần đông ý kiến tán thành sự chỉ đạo của Bộ. Họp xong tôi báo cáo với anh Đoàn Khuê: “Đề nghị anh đánh điện về Bộ nói rõ đó là ý kiến của Nguyễn Hữu An rằng: nếu vì nuôi cho địch chủ quan sơ hở thì không cần thiết phải làm như vậy. Địch đang chủ quan, ta đưa lực lượng lớn vào trong lúc chúng bị bất ngờ ta mở ngay trận đánh lớn, đánh vừa để tiêu diệt sinh lực địch mở rộng thêm vùng giải phóng và giải quyết khó khăn về hậu cần có hơn không”.

Anh Đoàn Khuê viết điện cho tôi xem rồi gửi lên Bộ. Tôi thầm cảm ơn anh Khuê.

Trong thời gian chờ điện của Bộ chỉ đạo, Mặt trận tiếp tục cho các đơn vị đánh các bốt nhỏ và đánh vào một số ấp chiến lược để phá kế hoạch bình định của địch. Nhưng qua thực tế đánh nhỏ lẻ, mỗi ấp chiến lược vài chục hộ dân cũng phải đưa tới một tiểu đoàn đánh trầy trật, có khi thương vong nhiều. Mỗi huyện mấy chục ấp chiến lược, đến bao giờ mới nhổ hết? Chúng tôi đã diệt một vài đồn nhỏ như đồn Đắc Long, Pô Cô... Nhưng chúng không hề đưa viện binh tới. Cách đánh như vậy chưa trúng “huyệt”, tôi đề nghị với Bộ tư lệnh: “Tập trung nhổ quận lỵ thì ấp chiến lược sẽ tan...”. Các anh trong Bộ tư lệnh B3 đồng ý. Mặc dầu Bộ chưa trả lời ý kiến của tôi, nhưng chúng tôi vẫn chấp hành mệnh lệnh rất nghiêm chỉnh.

Minh Đức và tôi được Bộ tư lệnh Mặt trận phân công trực tiếp chỉ huy trung đoàn 101 bao vây quận lỵ Tu-mơ-rông (Đắc Hà).

Tu-mơ-rông cách Đắc Tô khoáng 10 ki-lô-mét, nằm trong tầm yểm hộ pháo binh của căn cứ Đắc Tô, Tân Cảnh; lực lượng ở đây có một tiểu đoàn thiếu, 1 đại đội dân vệ và một trung đội pháo 105 ly hai khẩu.

Dân xung quanh quận lỵ là người chí cốt với cách mạng, quanh năm ăn sắn, ngô không có gạo, muối. Mặc dù muối của chúng tôi thiếu (tiêu chuẩn ngày có chiến sĩ đếm được mấy chục hạt muối nhỏ), nhưng chúng tôi vẫn chia sẻ phần khó khăn với đồng bào.

Bao vây được bốn ngày, địch không đưa quân viện, chúng tôi lại nhận được tin trinh sát qua thông tin lệnh cho Tân Cảnh: “Việt Cộng dùng kế “điệu hồ ly sơn”, phải cố thủ tới cùng đừng mang lực lượng giải vây, nó hết gạo tất phải rút”. Địch đã phán đoán chính xác, chúng tôi chỉ còn ba ngày gạo nữa. Nếu chúng xử trí kiểu lỳ như vậy sẽ vô hiệu hóa chiến thuật “vây điểm diệt viện” sở trường của chúng tôi.

Để đạt mục đích đã định, một mặt chúng.tôi cho hậu cần đi đào sắn (nương sắn CM) (* Nương sắn cách mạng: do nhân dân Tây Nguyên tự giác trồng để nuôi bộ đội và cán bộ cách mạng.) thu sắn khô, ý dĩ để có thêm lương thực trụ kéo dài ngày hơn; mặt khác điện về sở chỉ huy cơ bản: xin cho tiêu diệt địch ở quân lỵ Tu-mơ-rông.

Mấy ngày ăn sắn khô trộn ý dĩ mồm miệng nhạt thếch, Minh Đức cười nói với tôi:

- Hộp sữa “dự trữ chiến lược” bây giờ đưa ra sử dụng được rồi đó.

Tôi không hiểu Minh Đức moi đâu ra được hộp sữa đã quá hạn ba năm, đem về khoe với tôi trước ngày vây Đắc Long rồi giao cho chiến sỹ vệ binh mang. Lúc này anh hỏi chiến sĩ vệ binh kia. Cậu vệ binh trả lời một cách tự nhiên:

- Em thèm quá trót ăn hết rồi!

Chúng tôi nhìn nhau cười xòa: “nó trẻ, háu đói hơn mình...”.

Nhưng tôi cũng nói thêm vừa chữa ngượng cho đồng chí chiến sĩ vừa để giáo dục ý thức kỷ luật: “Lần sau nếu có thèm ăn thì phải xin, chính ủy đồng ý cậu mới được ăn hiểu chưa?”. Cậu ta cười một cách ngượng ngùng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn