Bài viết

Chiêu Minh Đại Vương-Thượng Tướng-Thái Sư Trần Quang Khải (1241-1294)

Phạm Vân Ly

Hà Nội22/08/2026phường Nguyễn Trãi (Phường Nguyễn Trãi)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
Chiêu Minh Đại Vương-Thượng Tướng-Thái Sư Trần Quang Khải (1241-1294)

Trần Quang Khải sinh vào tháng 10 âm lịch năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 10 (1241). Ông là con thứ 3 của vua Trần Thái Tông và Thuận Thiên Hoàng hậu, ông cũng là em của vua Trần Thánh Tông.

- Năm Nguyên Phong thứ 8 (1258), ông được phong tước Chiêu Minh Đại Vương.

- Năm Thiệu Long thứ 4 (1261), ông được phong làm Thái Úy khi mới 20 tuổi.

- Năm Thiệu Long thứ 8 (1265), ông được phong làm Thượng Tướng và được điều vào trấn thủ Nghệ An.

- Năm Thiệu Long thứ 14 (1271), ông được phong Tướng Quốc Thái Úy, trờ thành đại thần đứng đầu triều Trần.

- Năm Thiệu Bảo thứ 4 (1282), ông được phong làm Thượng Tướng Thái Sư nắm cả quyền dân sự và quân sự.

Trần Quang Khải là vị tướng tài, đóng góp nhiều công lao cho cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần hai (1285) và lần ba (1288)

Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai (1285), Trần Quang Khải được điều vào trấn thủ Nghệ An. Trước thế giặc mạnh, Trần Quang Khải cho quân đóng giữ các nơi hiểm yếu, quân Nguyên tiến đánh không được bèn rút ra bắc. Trần Quang Khải báo tin cho triều đình phục đánh quân Nguyên ở cửa Hàm Tử, diệt được 5 vạn quân Nguyên.

Quân Nguyên do Thoát Hoan chỉ huy đóng ở Thăng Long, còn thuyền chiến thì đóng ở bến Chương Dương. Trần Quang Khải chỉ huy quân cùng Phạm Ngũ Lão và Trần Quốc Toản tấn công quân Nguyên ở Chương Dương và đuổi chúng chạy vào thành Thăng Long. Ông cho phục binh đóng gần thành Thăng Long. Thoát Hoan đem quân ra đánh, bị phục binh nhà Trần đánh bại, chạy về nước (5/1285).

Ngoài những chiến công quân sự trong hai lần kháng chiến chống quân Nguyên xâm lược. Ông còn là một nhà thơ nổi tiếng. Năm 1278, khi Sài Thung đi sứ sang nước ta, Sài thung hống hách ngạo mạn khiến triều đình bất bình. Khi Sài Thung về nước, Trần Quang Khải cò làm bài thơ tặng Sài Thung trong đó có câu:

“Vị thẩm hà thời trùng đỗ diện

Ân cần ác thủ tự huyên lương.”

Tạm dịch:

“Chưa biết ngày nào cùng tái ngộ

Để ân cần tay nắm chuyện hàn huyên”

Hai câu thơ nói lên tài ngoại giao khéo léo, sự điềm tĩnh trước âm mưu, sự hống hách của giặc phương Bắc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn