Chiêu Trưng vương Lê Khôi: Từ danh tướng xứ Thanh đến vị nhân thần trên đất Nghệ - Tĩnh
Chiêu Trưng vương Lê Khôi: Từ danh tướng xứ Thanh đến vị nhân thần trên đất Nghệ - Tĩnh
"Là cháu ruột của vua Lê Thái tổ, danh tướng Lê Khôi người đất Lam Sơn xứ Thanh không chỉ là dũng tướng nơi chiến trận mà còn được hậu thế nhắc nhớ bởi tấm lòng thương dân. Ngợi ca tài đức của võ tướng Lê Khôi, minh quân Lê Thánh tông còn so sánh ông với văn tài Nguyễn Trãi. Đặc biệt, ông còn là vị nhân thần được người dân vùng đất Nghệ An, Hà Tĩnh tôn kính, phụng thờ.
Chiêu Trưng vương Lê Khôi là người con của đất Lam Sơn xứ Thanh, ông cũng là cháu ruột của vua Lê Thái tổ. Ảnh: Bùi Trang
Lê Khôi là con trai của Lê Trừ - anh trai vua Lê Thái tổ. Ông được biết đến là người trung hậu, ít nói. Trong khởi nghĩa Lam Sơn, sự dũng mãnh của vị tướng Lê Khôi được nhắc đến nhiều nhất trong hai trận: Bồ Ải và Chi Lăng.
Cuối năm Giáp Thìn (1424), lúc bấy giờ cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã mở rộng địa bàn vào trong vùng đất Nghệ An. Giặc Minh chiếm cửa ải Khả Lưu, chúng đóng quân trên núi, đắp lũy phòng ngự. Lúc này, Bình Định vương Lê Lợi đóng quân ở Bồ Ải đã dùng kế tự đốt dinh trại, ngược sông lên phía trên, giả vờ sợ thế giặc mạnh mà bỏ trốn, sau đó bí mật theo đường tắt trở lại căn cứ cũ. Đến ngày hôm sau, Bình Định vương Lê Lợi đem quân tinh nhuệ đến cửa ải Khả Lưu khiêu chiến, quân Minh mở cửa ra đánh. Đợi giặc đến Bồ Ải thì quân phục binh bất ngờ xông ra khiến giặc hoảng loạn. Trong trận chiến này, Lê Khôi cùng các dũng tướng Lam Sơn tiến lên phá trận, đánh tan kẻ thù, chém đầu không biết bao nhiêu kẻ địch. Tướng chỉ huy của giặc Minh là Trần Trí, Sơn Thọ… sợ hãi thu tàn quân chạy về thành Nghệ An cố thủ. Cũng từ đây, thanh thế nghĩa quân Lam Sơn thêm lẫy lừng.
Đến năm Đinh Mùi (1427), quân Minh thua to ở Chi Lăng. Tướng giặc là Thôi Tụ và Hoàng Phúc thu nhặt tàn quân về phủ lỵ Lạng Giang để vào thành Xương Giang. Tuy nhiên, thành này đã bị nghĩa quân Lam Sơn sớm chiếm trước. Giặc Minh buộc phải đóng đồn ở phía Bắc thành Xương Giang chờ viện binh. Sách Địa chí huyện Thọ Xuân viết: “Lê Lợi sai Lê Khôi và Phạm Vấn đem binh hỗ trợ cánh quân Đỗ Sát đánh tan quân giặc, bắt sống Thôi Tụ, Hoàng Phúc và mấy vạn tên địch khiến tổng binh Vương Thông ở thành Đông Quan khiếp sợ phải quy hàng”.
Sau khi khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng, Bình Định vương Lê Lợi lên ngôi vua lập ra vương triều Hậu Lê, dũng tướng Lê Khôi được phong Kỳ lân hổ vệ Thượng tướng quân, hàm Nhập Nội Thiếu úy. Sau đó, ông lại được thăng Tư mã, đeo kim phù (phù hiệu bằng vàng) vô cùng vinh hiển. Đến khi khắc biển công thần, Lê Khôi được phong tước Đình thượng hầu.
Cũng theo sử liệu, khi vua Lê Thái tổ mới lên ngôi nhận thấy nhà nước mới lập dựng, vùng đất Châu Hóa lòng người chưa phục, lại ở giáp biên giới Chiêm Thành - sẽ là mối họa nếu không sớm thu phục. Tuy nhiên, việc trấn ải vùng đất này cần một viên quan có đủ tài đức. Sau nhiều cân nhắc, nhà vua sai Lê Khôi tiếp nhận trọng trách vào đất Châu Hóa. Là vị tướng nhiều năm xông pha trận chiến song Lê Khôi lại là người nhân hậu. Vì thế, khi đến đây ông chủ trương lấy “đức” để thu phục lòng người. Ông cho bỏ các trạm gác, thôi xét hỏi nghiêm ngặt để người dân được tự do đi lại, đồng thời chiêu mộ dân lưu tán, dạy dân làm ruộng, trồng dâu nuôi tằm; với quân sĩ thì huấn luyện nghiêm cẩn để giữ vững biên cương… Vì thế mà vùng đất Châu Hóa dần yên ổn, người dân ngày càng quý mến vị quan trấn thủ Lê Khôi. Còn người Chiêm khi nghe danh đến ông vừa sợ oai lại vừa mến đức.
Danh tiếng ông vang khắp các mường, động, được vua Lê hết sức quý trọng. Sách Địa chí huyện Thọ Xuân dẫn theo sử liệu viết: “Năm Quý Sửu (1433) vua triệu Lê Khôi vào điện để bàn việc lập thái tử rồi mới quyết định giáng con trưởng Tư Tề làm quận vương, lấy con thứ Nguyên Long nối ngôi đại thống”.
Cũng theo sử liệu, dưới thời vua Lê Thái tông, Lê Khôi nhiều lần dẫn binh theo vua xông pha trận mạc, dẹp loạn các vùng biên giới. Tuy nhiên, khoảng năm 1440, một lần “trái ý” vua khiến ông bị cách chức.
Năm 1443 dưới thời vua Lê Nhân tông ông lại được triệu ra làm việc - giữ chức Nhập Nội Thiếu úy, đốc trấn Nghệ An. Khi ông trên đường vào Nghệ An, dân chúng đứng chật hai bên đường để chào đón. Viết về niềm vui của người dân Nghệ An khi đón ông, sách Lịch triều hiến chương loại chí viết: “Chúng tôi mong ông lâu rồi! Ngày nay trời mới giáng phúc cho dân tôi đấy ư”. Trong thời gian ông trấn thủ vùng đất này, với chính sách thân dân khiến tình hình chính sự yên ổn, đời sống người dân tốt lên, mùa màng bội thu… người dân tụng ca ông khắp nơi.
Lễ hội đền thờ Chiêu Trưng Đại vương Lê Khôi huyện Thạch Hà (Hà Tĩnh) được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Ảnh: Báo Hà Tĩnh
Khoảng năm 1444, vua Chiêm Thành là Bí Cai đem quân cướp phá thành Châu Hóa, lúc này các tướng Nguyễn Thận, Nguyễn Xí được lệnh đem binh đi đánh, Lê Khôi cũng đem quân đi tăng viện. Trận này quân Đại Việt thắng lớn, Lê Khôi được vua Lê thăng làm Nhập Nội tham dự triều chính song vẫn ở lại Nghệ An để chuẩn bị tham gia kế hoạch Nam chinh. Đến năm 1446, Bình Chương sự Trịnh Khả vâng lệnh vua mang đại quân đánh dẹp Chiêm Thành. Lúc bấy giờ, Lê Khôi được cử làm tướng tiên phong, đem quân ở Nghệ An tiến trước mở đường. Quân do Lê Khôi tiến đến đâu, quân Chiêm thua chạy tới đó. Tướng Chiêm Thành khi nhìn thấy ông thì sợ hãi xuống ngựa qùy lạy, sai quân mang biếu sản vật, không dám đối đầu. Sau trận này, vua Chiêm Thành cũng bị bắt.
Trên đường khải hoàn trở về, Lê Khôi bị bệnh nặng, đến núi Long Ngâm gần cửa biển Nam Giới (ngày nay thuộc huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh) thì qua đời. Biết tin ông qua đời, vua Lê bãi triều ba ngày, truy tặng chức Nhập Nội Kiểm hiệu tư không, Bình Chương sự, đổi tên thụy là Vũ Mục công.
Quân sĩ và người dân đất Châu Hoan đã chôn cất ông ở Long Ngâm và lập đền thờ gần cửa biển Nam Giới.
Dưới triều vua Lê Thánh tông, nhà vua cho người khắc văn bia về dũng tướng Vũ Mục công (tức Lê Khôi) ở đền thờ nơi cửa biển Nam Giới nhằm lưu truyền muôn đời. Sau đó, vua Lê Thánh tông còn tiến phong cho ông chức Chiêu Trưng vương. Đặc biệt, trong một bài thơ đề vịnh một số khai quốc công thần nhà Hậu Lê, vua Lê Thánh tông còn xem Lê Khôi là võ tướng tài sánh ngang tướng văn Nguyễn Trãi: “Ức Trai tâm sáng đầy thư sử/ Vũ Mục lòng son chật giáp binh” (nhà nghiên cứu Hoàng Tuấn Phổ dịch).
Không chỉ là khai quốc công thần nhà Hậu Lê, với công trạng nổi bật khi trấn thủ vùng đất Châu Hoan, danh tướng Lê Khôi còn là vị quan được Nhân dân vùng đất này (ngày nay là Nghệ An và Hà Tĩnh) vô cùng tôn kính. Theo nhà nghiên cứu lịch sử Hoàng Hùng: “Tôi được biết, ở Nghệ An và Hà Tĩnh có đến 10 đền thờ ngài Lê Khôi (Nghệ An 3 đền thờ, Hà Tĩnh 7 đền thờ). Danh tướng Lê Khôi được tôn nhân thần và người dân Nghệ An, Hà Tĩnh tôn thờ vì ông đã có nhiều đóng góp cho vùng đất này và xưa nay vẫn vậy, ai có công với dân, với nước, người đó sẽ được dân thờ phụng muôn đời”.
Đặc biệt, tại huyện Thạch Hà (Hà Tĩnh), đền thờ Chiêu Trưng Đại vương Lê Khôi không chỉ là di tích lịch sử văn hóa, năm 2017 lễ hội đền thờ Chiêu Trưng Đại vương Lê Khôi còn được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Lê Khôi - thụy là Võ Mục, người Lam Sơn (nay là xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa), là con của Lê Trừ.
Cha mẹ mất sớm, Lê Khôi ở với chú ruột là Lê Lợi, tham gia nghĩa quân, có tên trong Hội thề Lũng Nhai gồm 35 công thần tụ nghĩa. Ông tham gia nhiều trận đánh, lập công lớn, cùng Lê Sát, Lê Phấn bắt sống tướng Minh là Chu Kiệt.
Lê Khôi làm quan qua 3 triều vua Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông; đã giữ tới chức Khâm sai Tiết chế thủy lục như Dinh, rồi lên chức Hộ vệ Thượng tướng quân. Năm 1427 trong trận Xương Giang, ông đã cùng Phạm Vấn cầm quân chi viện cho Lê Sát, Trần Nguyên Hãn đánh tan quân giặc, bắt sống đô đốc Thôi Tụ, Thượng thư Hoàng Phúc và hơn 3 vạn tù binh giặc, góp phần giải phóng Đông Đô.
Năm 1443, ông được phái vào làm Tổng trấn Hoan Châu (Nghệ An – Hà Tĩnh) chỉ vài năm làm công bộc chăm dân ở đây, ông đã nổi tiếng bởi sự công minh chính trực, chú trọng phát triển nông nghiệp, lo cuộc sống cho dân “ nhà nhà ấm no, không lo trộm cướp”.
Năm 1446, ông phụng mệnh vua Nhân Tông cầm quân cùng các tướng Nguyễn Chích, Nguyễn Xí đi đánh Chiêm Thành ở châu Thuận Hóa bắt được chúa Chiêm là Bí Cai. Trên đường trở về, đoàn chiến thuyền đến chân núi Long Ngâm của dãy Nam Giới thì ông mất. Thương tiếc vị tướng tài - đức song toàn, binh sỹ kêu gào dậy sóng một vùng Cửa Sót. Vua quan thương xót vô hạn, nghỉ triều chính làm quốc tang 3 ngày. Thi hài ông an táng tại chóp núi Long Ngâm. Nhà vua cho lập đền thờ, hàng năm tổ chức quốc tế, truy phong. Nhân dân địa phương thương tiếc và kính trọng ông, họ cũng lập đền thờ tại Cửa Sót và hàng năm đều tổ chức Lễ hội đền Chiêu Trưng vào ngày giỗ ông.
Năm Quang Thuận thứ 4 (1463) Vua Lê Thánh Tông ngự giá thăm Đền, viếng mộ, ngự chế bài thơ quốc âm đề vịnh, sắc cho Đô úy Bảng nhãn Nguyễn Như Đỗ soạn bia dựng tại Đền. Năm Hồng Đức thứ 18 (1487) lại phong tặng “ Chiêu Trưng Đại Vương”.
Tại vùng Nghệ An - Hà Tĩnh, người ta vẫn còn lưu truyền câu: “Đền Cờn, Đền Quả, Bạch Mã, Chiêu Trưng”. Đây là tên của 4 ngôi đền linh thiêng và lâu đời ở miền Trung. Đền Chiêu Trưng được xây dựng xong năm Đinh Mão (1447) một năm sau khi Lê Khôi mất. Đến nay, Đền thờ Lê Khôi - Chiêu Trưng Đại Vương được dựng lên đã là 569 năm. Kết cấu đền gồm 3 tòa và lăng mộ (tiền miếu hậu lăng). Nếu đi đường thủy, sau khi rời bến thuyền ngoặt vào núi Long Ngâm, du khách leo qua 23 bậc đá để lên thềm trong bóng râm rợp mát của um trùm cây cối cổ thụ.
Trước cổng Đền có câu đối ghi rõ năm đặt phần mộ, dựng đền và năm xây cổng. Qua cổng và vọng lâu vào đền Hạ là nơi đón tiếp quan khách về tế lễ. Phía Đông là nhà đặt bia khắc bài thơ nôm của Lê Thánh Tông đề tặng ngày 3/5/1447. Đền Chiêu Trưng nằm trên núi Long Ngâm thuộc dãy núi Nam Giới uốn lượn ra biển ở xã Thạch Bàn, huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh. Ngọn núi này nhìn xa giống như một con Rồng đang quay đầu xuống nước. Đền Chiêu Trưng nổi tiếng bởi sự linh thiêng của phát tích và những giá trị nghệ thuật kiến trúc nên ngôi đền.
Nghệ thuật điêu khắc ở đền Chiêu Trưng, đặc biệt ở trung điện hết sức tinh tế, công phu, và điêu luyện. Ngoài các hình tượng bát tiên quả sơn, bát tiên quá hải, tứ linh, bát bảo quen thuộc của nhiều ngôi đền Việt Nam, thì tại đây còn có nhiều hình tượng khác mang đậm nét văn hóa dân gian Việt Nam như: nữ công đánh đàn Nguyệt, nữ công thổi sáo, vũ nữ, lưỡng long chầu nguyệt, lưỡng long chầu nhật, phượng hàm thư; các hình con giống như voi, hươu… Đặc biệt tại Trung điện còn tạc tượng 2 võ sĩ Chàm.
Đền Trung có 3 gian điện thờ. Thượng điện treo tấm biển của Lê Thánh Tông ban: “Nam thiên tuấn vọng”. Trên hương án sơn son thiếp vàng là bức tượng Chiêu Trưng Đại vương Lê Khôi bằng gỗ sơn, nét chạm đẹp, vẻ mặt trang nghiêm mà phúc hậu. Ở Hạ điện có đôi câu đối: Thượng đẳng hiển anh linh thiên hạ huyền công bang hải đạo/ Quốc triều long tự tải nhân bằng thịnh đức phát tài nguyên.
Lăng mộ của Đại vương ở phía sau thượng điện, không cao to, đồ sộ nhưng trang trọng, uy nghiêm. Sau hương án là lối vào có hai hổ chầu hai bên. Ở hai cột nanh có khắc đôi câu đối: “Yên chức hào kiệt/ Chiến tích anh hùng”.
Theo “Danh thắng Quỳnh viên & Đền Chiêu trưng Đại vương”, cái đẹp của Đền không chỉ ở đường nét kiến trúc mà còn là sự hài hòa giữa công trình kiến trúc, không gian kiến trúc và cảnh quan thiên nhiên. Theo thế núi, không gian kiến trúc của ngôi Đền cao dần dẫn khách thập phương đến với sự chiêm nghiệm về công lao và sự thiêng liêng của Đại vương Chiêu Trưng. Ngọn Long Ngâm có dáng đầu rồng cúi đầu uống nước biển Đông mặc cho quanh năm bạc đầu sóng vỗ. Sông Hoàng Hà (sông Sót) chảy mãi cho thế gian giao hòa với biển cả. Ở chốn phong ba hùng vĩ ấy, Đền Chiêu Trưng Đại vương trầm mặc, thấp thoáng trong rừng xanh để quanh năm ngắm non trông bể, lắng nghe âm thanh của tạo hóa, hòa âm của sóng biển với gió rừng. Đúng như câu đối khắc ở đền vọng làng Dương Luật: Vạn cổ thanh danh tùy bất hủ/ Tam triều lãm vọng lẫm như sinh.
Tiếng tăm, công đức của Người mãi trường tồn, ba triều vua ngóng trong vẻ lẫm liệt oai hùng như Người còn đó. Về tổng thể đền Lê Khôi gồm nhiều đơn nguyên kiến trúc phối hợp với nhau thành một công trình kiến trúc hài hòa gồm 3 khu vực. Khu vực 1: là những công trình kiến trúc phụ trải dài từ chân núi đến đỉnh núi. Khu vực 2 là khu kiến trúc chính được xây dựng ngay trên đỉnh núi. Khu vực 3 là khu lăng mộ Đại Vương. Hệ thống hiện vật trong đền có rất nhiều đồ quý. Quan trọng nhất chính là bức tượng Đại Vương Lê Khôi cao gần 1m, sơn son thiếp vàng, được tạc bằng gỗ trầm hương. Dưới bệ tượng thờ là hòm đựng 21 Sắc phong của nhiều đời vua ban cho ngôi đền. Sắc phong sớm nhất có niên đại Cảnh Hưng thứ 4 (năm 1783); sắc phong muộn nhất có niên hiệu Duy Tân thứ 3 (năm 1909). Nội dung các sắc phong đều ghi Lê Khôi được phong là “Thượng Thượng Thượng đẳng thần tối linh”.
Đền Chiêu trưng Đại Vương Lê Khôi thường có 3 kỳ lễ chính:
Lễ Thưởng Xuân (còn gọi là Khai Ân) diễn ra ngày mồng 4 tháng 1 âm lịch.
Lễ hội chính tưởng niệm ngày mất của Lê Khôi, diễn ra trong 3 ngày từ ngày mồng 1 đến mồng 3 tháng 5 âm lịch.
Lễ Hạp Ấn diễn ra ngày 25 tháng 12 âm lịch, là lễ báo ân, báo đáp của nhân dân lên Đức Thánh sau một năm làm ăn gặp nhiều may mắn.
Lễ hội Đền Chiêu Trưng được đánh giá là có quy mô nhất trong vùng, khai thác được nhiều yếu tố văn hóa truyền thống mang đậm phong tục, đặc điểm của cư dân vùng biển. Trong lễ hội chính vào dịp giỗ Đại Vương, người dân trong vùng thường tiến hành các lễ mộc dục, tắm rửa lau chùi tượng Đại Vương. Sau nghi thức tế lễ là các trò vui như hội chèo giải, hội bơi thuyền. Cuộc thi bơi thuyền được diễn ra ngay tại bờ sông Cửa Sót, trước cửa Đền Chiêu Vương. Mỗi kỳ lễ hội đền Chiêu Vương thường thu hút hàng chục vạn lượt người tham gia.
"



