CHIM VỀ TỔ ẤM
CHIM VỀ TỔ ẤM Hồi ký của anh HUỲNH NGỌC THÀNH Tham gia phong trào sinh viên học sinh Đà Nẵng năm 1975

Khoảng cuối tháng 10-1974, tôi được anh Lê Anh Dũng - Trưởng ban cán sự học sinh nội thành, đưa về vùng giải phóng Quảng Đà. Sau hơn 2 ngày đêm đi trong mưa bão miền Trung, vượt qua nhiều trạm kiểm soát dọc đường của địch, nhiều lần phải thay đổi phương tiện đi lại, chúng tôi mới đến được điểm hội ngộ nơi mà tôi đã trông đợi từ lâu - đó là mảnh đất Xuyên Trà, huyện Duy Xuyên. Chúng tôi đã ôm nhau trong hạnh phúc tuyệt vời của anh em bạn bè vừa thoát ly về đây bằng nhiều đường dây hợp pháp như: Lê Đức Hùng, Lương Thanh Liêm, Lê Ngọc Thủy, Lê Ngọc Duyên, Võ Văn Đồng.
Sau đợt cao điểm địch đàn áp, bắt bớ phong trào sinh viên học sinh vào tháng 5-1972, tôi hoạt động đơn tuyến trong thế hợp pháp của tổ chức học sinh Phật tử Đà Nẵng. Các mũi công tác thanh vận nội thành lúc ấy đều hoạt động độc lập với nhiều phương thức cụ thể, dưới sự chỉ đạo tập trung của cơ quan Đặc khu Đoàn Quảng Đà.
Trong những ngày ở vùng giải phóng, tôi được vinh dự được đứng vào hàng ngũ của Đoàn thanh niên nhân dân cách mạng Hồ Chí Minh do Ban cán sự đoàn Thanh niên sinh viên học sinh Đà Nẵng tổ chức kết nạp. Dưới lá cờ vinh quang của Đoàn, tôi như muốn vỡ tung lồng ngực khi đọc lời thể với Đoàn, với tổ chức - đó là kỷ niệm nhớ đời khi tôi vừa tròn 20 tuổi. Và nhiều niềm vui tràn trề cùng đến với tôi trong những ngày sống trong trong vùng giải phóng, được gặp gỡ nhà thơ Phan Duy Nhân ( tức Nguyễn Chính) Anh được trao trả, vừa từ chiến trường Quy Nhơn trở ra Quảng Đà. Và người thân của tôi thoát ly trước đó vài năm, anh Huỳnh Văn Xuân (giáo viện trường nội trú cấp 2 Quảng Đà) từ Thạnh Mỹ về thăm tôi ở Xuyên Trà, khi hay tin tôi từ nội thành mới đến.
Trước ngày chờ giao liên hướng dẫn trở lại nội thành, anh Phan Văn Nghệ - Bí thư Đặc khu Đoàn, căn dặn tôi nhiều lần về phương pháp thanh vận, tìm mọi cách đứng sâu vào những tổ chức quần chúng hợp pháp để có lợi cho phong trào cách mạng ở nội thành, chú ý phát triển thực lực và xây dựng nhiều đầu mối cơ sở tin cậy để làm đà cho phong trào nổi dậy khi thời cơ chín muồi.
Vì nguyên tắc bí mật, tôi phải trở lại nội thành để giao liên đưa đón những mũi công tác ở các nơi khác, hạn chế những thiệt hại khi đường dây bị vỡ. Phong trào nội thành đầu năm 1975 đã có nhiều tổ chức công khai hợp pháp như Mặt trận nhân dân cứu đói, phong trào phụ nữ đòi quyền sống, phong trào đòi thì hành Hiệp định Paris, đoàn công tác xã hội Nhất Chi Mai...
Giữa tháng 2-1975, một lần nữa tôi được giao liên hướng dẫn ra vùng giải phóng và lần này trở lại nội thành tâm trạng tôi vô cùng phấn chấn chờ mong đến ngày thành phố rực đỏ một màu cờ. Những dòng thơ của cao trào yêu nước ở đô thị miền Nam làm bừng lên trong tôi sức mạnh của tuổi trẻ:
Em đang mơ ngày bạo quyền gục ngã,
Xác chúng phơi trên ngưỡng cửa đề lao.
Kiêu hùng tóc biếc bay cao,
Em tung nón rách em gào tự do...
thơ Võ Quê
Những ngày cuối cùng của chế độ bạo tàn gần sụp đổ, tôi cùng nhiều anh em bận rộn với biết bao công việc được phân công như xây dựng, phát triển cơ sở tại chỗ. Nhiệm vụ của chúng tôi là phải bằng mọi cách ngăn chặn, phá vỡ âm mưu cưỡng ép cuộc chạy loạn với tên gọi mỹ miều “tùy nghi di tản” của địch. Dưới danh nghĩa hợp pháp, tôi phụ trách một đoàn học sinh Phật tử có nhiệm vụ tiếp quản trường trung học Quốc Gia Nghĩa Tử (khu vực 88 Hùng Vương hiện nay), để thành lập trung tâm tiếp cư đồng bào Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế và các nơi chạy vào Đà Nẵng. Với cương vị Trưởng Ban Trung tâm cứu trợ xã hội tôi đã cùng với anh chị em tổ chức tiếp nhận gần mười nghìn đồng bào di tản có nơi tạm trú, vận động quyên góp lương thực, thực phẩm giúp họ tạm ổn định đời sống, tư tưởng, hạn chế được tình trạng cướp giật gây náo loạn trên đường phố, đồng thời làm chỗ dựa hợp pháp cho cơ sở của ta có địa điểm tập kết sâu vào nội thành để góp phần tấn công làm tan rã nguy quân ngụy quyền tại chỗ. Ngay trong đêm 28-3-1975, tôi đã bắt liên lạc với các anh Lê Ngọc Thủy, Lê Anh Dũng mới từ vùng giải phóng vào và chuyển toàn bộ hệ thống loa phóng thanh của trung tâm cứu trợ cho một bộ phận của Hội liên hiệp thanh niên giải phóng đang chiếm đồn cảnh sát Hoàng Diệu (nay là trụ sở công an phường Nam Dương, quận Hải Châu) làm phương tiện kêu gọi đồng bào nổi dậy góp phần giải phóng thành phố Đà Nẵng.
Sau khi thành phố được giải phóng, nhiệm vụ đầu tiên mà tổ chức phân công cho chúng tôi là vận động đồng bào di tản bình tĩnh và an tâm trở về quê cũ sinh sống. Ngôi trường do chúng tôi tiếp quản được bàn giao nguyên vẹn cho Ty Giáo dục Quảng Đà trong những ngày đầu tháng 4-1975. Đây là ngôi trường dành cho con em cô nhi của chế độ cũ, do vậy cơ sở vật chất và trang thiết bị trường học khá đầy đủ để tiếp tục mở cửa đón các cháu đến lớp.
Thành phố bên sông Hàn đã bừng lên ngày mới trong độc lập hòa bình tự do. Chúng tôi cùng nhau hội tụ về điểm hẹn mới: trụ sở Hội Liên hiệp thanh niên - số 30 Bạch Đằng, để hát vang những bài ca cách mạng, để học tập tiếp tục những nhiệm vụ mới như tham gia thu hồi những văn hóa phẩm độc hại, phát động các phong trào thanh niên thành phố góp phần xây dựng một xã hội mới - xã hội tốt đẹp mà tuổi trẻ chúng tôi đã mơ ước từ lâu.
Thời gian thấm thoát đã 25 năm trôi qua. Những sợi tóc màu đen cứ lặng lẽ nhạt phai theo năm tháng thăng trầm cuộc đời... Nhưng nhiều kỷ niệm tươi đẹp của một thời thanh xuân vẫn còn đọng mãi trong tâm trí chúng tôi, sưởi ấm nhiệt tình cách mạng của chúng tôi như những cánh chim đã tìm về tổ ấm.


