Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Chống phong tỏa sông, biển - Những năm tháng hào hùng

Từ năm 1967 đến năm 1972, bất chấp luật pháp quốc tế, đế quốc Mỹ đã dùng thủy lôi, bom từ trường phong toả các cửa biển của nước ta nhằm mục đích: ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho chiến trường miền Nam, gây sức ép chính trị với ta trên bàn hội nghị (thời kỳ đàm phán ở Hội nghị Paris)... Đầu năm 1967, Mỹ mở cuộc phản công chiến lược lần thứ hai trên chiến trường miền Nam, đưa cuộc "Chiến tranh cục bộ" lên đỉnh cao, đồng thời Tổng thống Mỹ Giôn-xơn cũng bí mật cho rải thuỷ lôi ở các cửa sô

Lai Châu03/07/2026Quân đội nhân dân (xã nậm mạ)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Ngày 11/5/1972, máy bay Mỹ tiếp tục rải mìn bịt luồng ra vào các cảng Hồng Gai, Cẩm Phả, các cửa sông và vùng ven biển miền Bắc nước ta. Từ ngày 9/5/1972 đến tháng 1/1973 địch đã thả ở 8 tỉnh, thành miền Bắc với 166 điểm, gồm hàng vạn quả bom từ trường, thuỷ lôi, mìn các loại; diện tích bị phong toả ở các khu vực trọng điểm gần 478 km, suốt từ Quảng Ninh, Hải Phòng đến Cửa Tùng, Cửa Việt (Quảng Trị)...


Cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ đối với miền Bắc nước ta ngày càng quyết liệt. Cuộc chiến đấu chống phong toả đường biển để giải phóng luồng lạch vào các bến cảng trở thành nhiệm vụ vô cùng cấp bách của toàn Đảng, toàn quân và dân ta. Cục Vận tải Đường biển (nay là Cục Hàng hải Việt Nam) dù mới được thành lập (5/5/1965) vinh dự được Đảng, Nhà nước, Bộ Giao thông vận tải giao nhiệm vụ trực tiếp đương đầu với chiến tranh phong toả đường biển.


Cuộc chiến đấu chống đế quốc Mỹ phong toả sông, biển miền Bắc bằng thuỷ lôi và bom từ trường lần thứ nhất (1967 - 1968) và lần thứ hai (1972 - 1973) là cuộc chiến đấu vô cùng khó khăn, gian khổ, căng thẳng, quyết liệt, đầy nguy hiểm và hy sinh của cán bộ nhân viên ngành Đường biển - nay là Hàng hải Việt Nam.


Với quyết tâm mở luồng, thông tuyến, chống phong toả bằng thủy lôi của địch đảm bảo an toàn cho công tác vận tải đường biển, công nhân ngành Đường biển trở thành những chiến sỹ. Những khẩu hiệu thể hiện ý chí kiên cường, sắt đá của người công nhân gác đèn biển như: "Còn người, còn đảo, trái tim còn đập, đèn còn sáng", hoặc "Ra đi mang nặng lời thề, thuỷ lôi chưa sạch chưa về quê hương".


Thời kỳ này xuất hiện nhiều cá nhân, tập thể, thể hiện tinh thần dũng cảm, bất khuất trong việc đảm bảo an toàn giao thông đường biển của ngành Đường biển Việt Nam: Công nhân Lê Văn Lợi đã được tập thể làm "Lễ truy điệu sông" trước khi lái tàu đi phá thuỷ lôi để mở đường thông tuyến chống phong toả của giặc Mỹ; Ba cô gái: Huệ, Kim, Vây ở tổ trinh sát Hoàng Châu - Cát Hải đã hiên ngang dũng cảm đếm từng quả thuỷ lôi do quân đội Mỹ thả phong toả và đánh dấu chúng trên hải đồ để giao cho đồng đội đi rà phá đảm bảo thông luồng; Các phân đội rà phá thuỷ lôi của Ty Bảo đảm Hàng hải như: Phân đội Lê Mã Lương, Phân đội Quyết Thắng 1 & 2 - đã ra quân là đánh thắng.


Hàng đêm, công nhân luồng của Ty Bảo đảm Hàng hải dùng đèn pin biến mình thành "Đăng tiêu sống" để dẫn luồng cho tàu tránh được thuỷ lôi nổ. Công nhân đảo đèn Long Châu (sống trên diện tích chưa đầy 1 km2) phải chiến đấu 238 trận dưới 5 nghìn tấn bom đạn dội xuống nhưng đảo đèn vẫn sáng. Đảo đèn Hòn Dáu bị đánh 116 trận, đèn chính bị đánh sập, nhưng chỉ trong vòng 24 giờ ngọn đèn hải đăng tạm thời đã lại chớp sáng chỉ dẫn tàu ra vào Cảng Hải Phòng.


Ngành Đường biển Việt Nam mà trực tiếp là Ty Bảo đảm Hàng hải cùng nhân dân miền Bắc và cả nước đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ đối với các cửa biển, luồng vào các cảng biển của miền Bắc. Trong cuộc chiến không cân sức này, chỉ riêng Ty Bảo đảm Hàng hải đã có 2 liệt sỹ trong lúc trực tiếp rà phá thuỷ lôi của địch, 10 liệt sỹ trong lúc đang quan sát thuỷ lôi, 13 thương binh trong rà phá; 3 ca-nô bị đánh chìm, 10 tàu phá lôi bị hư hỏng.


Bằng sự can trường, dũng cảm và ý chí quyết tâm cao trong hai cuộc chiến đấu chống địch phong toả, cán bộ nhân viên ngành Đường biển Việt Nam đã cùng với quân, dân ta phá hủy được 13.346 quả thuỷ lôi và bom từ trường đập tan âm mưu và hành động xảo quyệt của đế quốc Mỹ hòng phong toả sông biển miền Bắc nước ta bằng thuỷ lôi và bom từ trường. Chiến công này góp phần quan trọng cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta tiếp tục tiến lên "đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào", giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất Tổ quốc.


Tiêu biểu cho chủ nghĩa anh hùng cách mạng của ngành Đường biển Việt Nam trong thời kỳ này là tàu Tự Lực 06- 50, tàu Tankit, Trạm đèn biển Long Châu, Nam Triệu, Tiểu đoàn tự vệ Ty Bảo đảm Hàng hải, Tự vệ Cảng Hải Phòng, Cảng Nghệ Tĩnh đã được Đảng, Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng; năm 2010 và năm 2011 cán bộ nhân viên Cục Hàng hải Việt Nam, cán bộ nhân viên Công ty Bảo đảm Hàng hải Miền Bắc (nay là Tổng công ty Bảo đảm an toàn Hàng hải Miền Bắc) tiếp tục được Đảng và Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Sau này, Cục Hàng hải Việt Nam, Ty Bảo đảm Hàng hải, Cảng Hải Phòng... được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học kỹ thuật công trình phá thuỷ lôi từ tính và bom từ trường bảo đảm giao thông (1967 - 1972) do Chủ tịch nước trao tặng1 (Ngoài thành tích chung của tập thể, 10 cán bộ công nhân viên Ty Bảo đảm Hàng hải là các ông Phạm Văn Hải, Vũ Long Vân, Nguyễn Thái Phong, Trần Công Hợp, Trần Viễm, Nguyễn Khắc Khải, Lê Văn Lợi, Nguyễn Công Hoa, Nguyễn Uyển, Đào Nguyên được Bộ GTVT tặng Bằng khen. Nguồn: Tư liệu Nguyễn Thái Phong).


Gần 50 năm đã trôi qua song cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ phong toả sông biển miền Bắc vẫn đang sống động với đầy ý nghĩa và giá trị thực tiễn sâu sắc.

Quá khứ, hiện tại, tương lai là một dòng chảy liên tục.

Chiến công của cán bộ nhân viên ngành Đường biển trong cuộc chiến đấu chống phong toả đường biển mãi mãi là niềm tự hào của các thế hệ cán bộ nhân viên ngành Hàng hải Việt Nam. Khúc tráng ca ấy đã và đang tiếp thêm sức mạnh trên chặng đường xây dựng phát triển mới của ngành Hàng hải Việt Nam, góp phần thực hiện Chiến lược Biển đến năm 2020 và lời dạy thiêng liêng của Bác Hồ kính yêu "Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng, ngày nay ta có ngày, có trời, có biển, bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó"2 (Bác Hồ nói chuyện với Bộ đội Hải quân, tháng 3/1961. Nguồn: Báo Quân đội nhân dân Online).


Hướng tới kỷ niệm các ngày Lễ lớn trong năm 2014 và 2015 trong đó có 50 năm thành lập Cục Vận tải Đường biển (nay là Cục Hàng hải Việt Nam) và 70 năm truyền thống ngành Giao thông vận tải Việt Nam, Cục Hàng hải Việt Nam và Nhà xuất bản Giao thông vận tải phối hợp biên soạn, xuất bản sách "Chống phong toả sông, biển - Nhũng năm tháng hào hùng".


Sách là tấm lòng tri ân của các thế hệ cán bộ nhân viên lao động ngành Hàng hải Việt Nam hôm nay đối với sự hy sinh xương máu và sự cống hiến tuổi xuân vì đất nước của các thế hệ cha ông; đồng thời là lời hứa, quyết tâm xây dựng ngành Hàng hải Việt Nam lớn mạnh, góp phần làm cho Việt Nam trở thành quốc gia "mạnh về biển, làm giàu từ biển".



Bút tích Thư khen lực lượng Bảo đảm hàng hải về thành tích rà phá thủy lôi của Đại tướng, Tổng Tư lệnh Vô Nguyên Giáp (tháng 12/1972)

Logged

ktqsvn

Thành viên
*
Bài viết: 561


Chống phong tỏa sông, biển - Những năm tháng hào hùng« Trả lời #1 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2023, 01:14:28 pm »
PHẦN I
NGÀNH ĐƯỜNG BIỂN VIỆT NAM
VỚI CUỘC CHIẾN CHỐNG PHONG TOẢ SÔNG, BIỂN


Chương 1 - BỐI CẢNH LỊCH SỬ
Sau Hiệp định Genève năm 1954, đế quốc Mỹ hất cẳng Pháp, dựng lên chính quyền Ngô Đình Diệm ở miền Nam Việt Nam. Dựa vào viện trợ và điều hành của Mỹ, chính quyền Diệm đã ra sức chổng phá Hiệp định Genève, cự tuyệt hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất Nam - Bắc; tiến hành chính sách "Tố Cộng, diệt Cộng", lê máy chém đi khắp miền Nam tàn sát hàng vạn đồng bào yêu nước và chiến sĩ cách mạng hòng tiêu diệt phong trào cách mạng miền Nam.


Trước tình hình đó, tháng 1 năm 1959, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam tổ chức Hội nghị lần thứ 15 (Khóa 2), xác định con đường giải phóng miền Nam là con đường cách mạng bạo lực. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 15 đã mở ra bước ngoặt cho cách mạng miền Nam, chuyển từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công, tạo nên bước nhảy vọt mà đỉnh cao là Phong trào Đồng khởi (1959- 1960).


Quán triệt Nghị quyết Trung ương 15, các cấp ủy Đảng ở miền Nam lãnh đạo, nhanh chóng chuyển phương châm đấu tranh, phát động quần chúng nổi dậy, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, đưa phong trào cách mạng miền Nam chuyển sang thế tiến công, giành quyền làm chủ ở nhiều vùng nông thôn và ven đô thị. Cùng với quá trình đấu tranh cách mạng, lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam không ngừng lớn mạnh, từ những đội vũ trang tự vệ và vũ trang tuyên truyền đã phát triển thành các tiểu đoàn, trung đoàn chủ lực; bắt đầu hình thành ba thứ quân bao gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích. Hệ thống chỉ huy quân sự cũng được hình thành đến cấp huyện, xã.


Nhận rõ yêu cầu cấp bách phải kịp thời chi viện cho đồng bào, chiến sĩ miền Nam trực tiếp chống Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa, ngày 19/5/1959, Tổng Quân ủy và Bộ Quốc phòng quyết định thành lập "Đoàn Công tác quân sự đặc biệt" (sau đổi tên là Đoàn 559), có nhiệm vụ mở đường vận chuyển hàng hóa, tổ chức đưa đón bộ đội, cán bộ từ Bắc vào Nam và từ Nam ra Bắc.


Sau thất bại trong "Cuộc chiến tranh một phía" (1954 - 1960), đế quốc Mỹ tiến hành chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" (1961 - 1965), ráo riết thực hiện các cuộc hành quân tìm diệt, tiến hành bình định để nắm đất, nắm dân theo kiểu "tát nước bắt cá", đồng thời mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng biệt kích và phong toả vùng biển để ngăn chặn chi viện của miền Bắc.


Nhằm đáp ứng nhu cầu chi viện cho cách mạng miền Nam ngày một lớn, trung tuần tháng 8 năm 1962, Quân ủy Trung ương quyết định mở đợt vận chuyển vũ khí vào Nam. Đêm 11/10/1962, chiếc tàu gỗ gắn máy đầu tiên của Đoàn 759 chở 30 tấn vũ khí rời bến Đồ Sơn (Hải Phòng) vào Cà Mau. Ngày 24/1/1964, Đoàn 759 được điều chỉnh tổ chức, phát triển thành Lữ đoàn 125 Hải quân3 (Đơn vị sau này 2 lần được tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân). Trong hơn ba năm hoạt động (1962 - 1965), Đường Hồ Chí Minh trên biển đã chi viện cho các tỉnh ven biển thuộc chiến trường Khu V, Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ 89 chuyến tàu, với gần 5.000 tấn vật chất chủ yếu là vũ khí, đạn dược.


Ngày 5/8/1964, Mỹ viện cớ "Sự kiện vịnh Bắc Bộ"4 (Sự kiện vịnh Bắc Bộ - sự kiện được cho là hai cuộc tấn công của Hải quân Nhân dân Việt Nam chống lại hai tàu khu trục USS Maddox và USS Turner Joy của Hải quân Mỹ. Nguồn: Bách khoa toàn thư mở) tiến hành "Chiến dịch Mũi Tên Xuyên"5 (Chiến dịch Mũi Tên Xuyên (tiếng Anh: Operation Pierce Arrow) là chiến dịch không kích do Hải quân Mỹ thực hiện vào ngày 5/8/1964 nhằm "trả đũa" Việt Nam Dân chủ Cộng hoà về Sự kiện vịnh Bắc Bộ xảy ra vào các ngày 2 và 4/8/1964. Chiến dịch này đã mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại chín năm do Không quân và Hải quân Mỹ đối với miền Bắc Việt Nam. Nguồn: đã dẫn) đánh phá miền Bắc Việt Nam. Sự kiện này mở đầu cho các chiến dịch phá hoại miền Bắc Việt Nam kéo dài chín năm của Không quân và Hải quân Mỹ. Trong đó, phong toả thuỷ lôi là chiến thuật được Mỹ kì vọng. Ngày 26/2/1967, Không quân Mỹ thả những quả thuỷ lôi đầu tiên trong chiến dịch phong toả cảng sông miền Bắc.


Do vị trí chiến lược hết sức quan trọng của đường biển đế quốc Mỹ dùng mọi thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, với các loại vũ khí, thiết bị tối tân hiện đại nhất của nền khoa học - công nghệ quân sự Mỹ để đánh phá, hòng huỷ diệt, ngăn chặn, cắt đứt tuyến đường tiếp viện của ta trên biển. Những luồng lạch bến bãi đều nằm trong cốc vùng địch lùng sục, truy quét, đánh phá ác liệt suốt đêm ngày.


Một trong những chiến thuật của Mỹ là sử dụng hỗn hợp nhiều loại thủy lôi: thủy lôi từ tính (cảm ứng từ thay đổi thì phát nổ), thuỷ lôi âm thanh (cảm ứng tiếng động gây nổ), bom từ trường (cảm ứng từ trường gây nổ), thuỷ lôi áp suất (áp suất tàu đi qua thay đổi thì phát nô)...


Những loại thuỷ lôi trên đều nhắm tới một mục tiêu nhất định, dùng để đánh chìm nhiều loại tàu chiến, tàu vận tải khác nhau của ta. Có loại chỉ chở tàu trọng tải lớn mới phát nổ, tăng hiệu quả phá hoại. Ngoài ra, Mỹ còn dùng thủy lôi "định lần" (ví dụ, tàu chạy qua 30 lần mới nổ), dùng để khai thác sự mất cảnh giác, khiến ta lầm tưởng tuyến đường sông này an toàn và mạnh dạn cho nhiều tàu vận tải đi qua...


Âm mưu của Mỹ gây khỏ khăn cho lực lượng rà phá thuỷ lôi của Việt Nam. Bước đầu, chúng đã gây khó khăn trong việc chi viện cho miền Nam và vận chuyển hàng tiếp tế của các nước xã hội chủ nghĩa giúp đỡ Việt Nam6 (Nguồn: Đại tá Nguyễn Thế Trinh, nguyên Tư lệnh Vùng 5 Hải quân, Trưởng khoa Hải quân, Học viện Quốc phòng một trong những cán bộ quân đội tham gia nhiệm vụ chống phong tỏa thủy lôi).

Logged

ktqsvn

Thành viên
*
Bài viết: 561


Chống phong tỏa sông, biển - Những năm tháng hào hùng« Trả lời #2 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2023, 01:16:51 pm »
Chương II
NGÀNH ĐƯỜNG BlỂN VIỆT NAM VỚI CUỘC CHIẾN CHỐNG BAO VÂY PHONG TOẢ SÔNG, BIỂN


Bước vào cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ (năm 1964), cơ sở vật chất của ngành Đường biển còn hết sức nghèo nàn, chỉ có 7 tàu và một số sà lan, tàu kéo có tổng trọng tải 13.000 tấn. Hầu hết các tàu đều có trọng tải nhỏ, kỹ thuật lạc hậu, cũ kỹ chỉ chạy được tuyến ven biển. Toàn Ngành chỉ có 5 tàu: Hoà Bình, Hữu Nghị, Đoàn Kết, Thống Nhất, Bến Thủy là có khả năng chạy trong khu vực Đông Nam Á.


Hệ thống cảng biển gồm: Cảng Hải Phòng, Hồng Gai, Cẩm Phả (tiếp nhận từ Công ty Than Quảng Ninh ngày 21/3/1966), cảng Bến Thuỷ (Nghệ An) và khu bốc xếp Nhật Lệ (Quảng Bình) với tổng chiều dài các cầu tàu của các càng là 1.700 m.


Cảng Hải Phòng là thương cảng lớn nhất miền Bắc thời gian này cũng chỉ có 1.100 m cầu tàu, có khả năng thông qua được 1,5 triệu tấn hàng hoá trong năm (trong đó 2/3 là than nội địa và apatit). Toàn Ngành có trên 10.000 cán bộ công nhân viên, đa số có trình độ Trung cấp hàng hải trở xuống, số cán bộ kỹ thuật có trình độ cao cấp rất ít và phần lớn chưa quen với công việc quản lý thương cảng và các hoạt động viễn dương.


Tuy gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn nhưng cán bộ công nhân viên ngành Đường biển có ý chí quyết thắng và tinh thần trách nhiệm rất cao. Họ phấn khởi, dám nghĩ, dám làm; có ý thức tổ chức kỷ luật và sẵn sàng hoàn thành nhiệm vụ.


Ngành Đường biển thời kỳ này được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước mà trực tiếp là Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghi sự chỉ đạo thường xuyên của Bộ Giao thông vận tải và đặc biệt là Bộ trưởng Phan Trọng Tuệ, được sự phối hợp chân tình, cụ thể, gắn bó giữa các ngành, các địa phương mà trước hết là Bộ Tư lệnh Hải quân, Bộ Ngoại thương, Bộ Nội thương, thành phố như Hải Phòng, chính quyền các tỉnh Quảng Ninh, Nghệ An, Quảng Bình...


Toàn ngành Đường biển thực hiện cả hai nhiệm vụ sản xuất và chiến đấu, tập trung sức vào hai khâu chính là tiếp nhận hàng hoá viện trợ của nước ngoài và bốc xếp, vận tải hàng hoá chi viện cho chiến trường Khu IV và miền Nam; đồng thời chuẩn bị cho sự phát triển Ngành Đường biển trong tương lai.


Khi chuyển hướng sản xuất từ thời bình sang thời chiến, khối lượng hàng nhập khẩu và viện trợ thông qua đường biển tăng vọt lên 80% đã làm đảo lộn cả phương án bốc xếp và quy trình công nghệ của ngành Đường biển, phát sinh rất nhiều khó khăn và mất cân đối gay gắt cần giải quyết.


Trong những năm sau khi Hải Phòng được giải phóng (năm 1955), tại Cảng Hải Phòng, việc bốc xếp hai mặt hàng chính là than nội địa và apatit (khoảng 1 triệu tấn/năm, bằng 2/3 tổng khối lượng hàng thông qua cảng) được cơ giới hoá 90%, vì vậy để bốc xếp lượng hàng nhập tăng lên 3 - 4 lần cần thay đổi kết cấu hạ tầng, trang thiết bị và công nghệ cho phù hợp. Để thay đổi công nghệ bốc xếp, nếu bình thường phải mất vài năm nhưng nhu cầu cấp thiết của cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại và chi viện miền Nam không cho phép kéo dài thời gian mà phải hết sức khẩn trương. Lúc này khả năng của kho bãi chứa hàng và khả năng rút hàng ra khỏi cảng cũng mất cân đối trầm trọng.


Theo đề xuất của các đồng chí lãnh đạo Cảng Hải Phòng là Trần Hữu Liêm, Nguyễn Đức Hoè, lãnh đạo Cục Vận tải Đường biển đã báo cáo và được Bộ Giao thông vận tải cho phép Cảng Hải Phòng triển khai phương án tiếp nhận hàng nhập trong thời chiến với phương châm vừa làm vừa rút kinh nghiệm, vừa hoàn chỉnh quy trình công nghệ, quyết tâm giải phóng tàu nhanh, quay vòng phương tiện nhanh bằng các biện pháp tích cực: tận dụng sức nâng của cần cẩu trên các tàu biển, kéo dài phao neo đậu các tàu lên thượng lưu và xuống hạ lưu khu vực cảng chính, mở các điểm chuyển tải bốc xếp sang mạn trên vịnh Hạ Long, trên sông Bạch Đằng để chuyển thẳng hàng hoá vào nội địa, khắc phục khả năng cầu tàu bị hạn chế, phối hợp với ngành Đường sông huy động phương tiện sang vận chuyển hàng bao; huy động tối đa phương tiện vận tải của các ngành và các địa phương tham gia rút hàng nhập.


Chính phủ đã thành lập Ban Điều hoà vận tải Trung ương7 (Thành lập theo Nghị định 190_CP ngày 6/9/1965 của Hội đồng Chính phủ. Nguồn: Thư viện Pháp luật) bao gồm đại diện Bộ Giao thông vận tải, Bộ Ngoại thương, Bộ Quốc phòng, Văn phòng Chính phủ, đại diện Ủy ban hành chính các tỉnh Hải Phòng, Quảng Ninh và vùng duyên hải do Phó Thủ tưởng Lê Thanh Nghị làm Trưởng ban; đồng chí Lê Văn Kỳ - Cục trưởng Cục Vận tải Đường biển là uỷ viên. Nhằm tăng thêm năng lực bốc xếp, tăng cường việc rút hàng nhập trong khi địch đánh phá, Cảng Hải Phòng được trang bị thêm một số thiết bị mới gồm cần cẩu có sức nâng 10 tấn- cải tạo cần cẩu nổi P1 có sức nâng từ 40 tấn - 120 tấn; đưa cẩu bánh xích có sức nâng 7 tấn gắn xuống phao vừa cẩu vừa ngoạm hàng; đóng mới cẩu P6 có sức nâng 25 tấn, tầm với 13 mét và tiếp tục sản xuất hàng loạt cẩu P4, P7, P8, P9 có sức nâng tới 40 tấn... Việc giải toả rút hàng khỏi cảng được tiến hành khá tập trung và đồng bộ, có ngày rút được 7.000 tấn có đợt hàng nghìn ô tô ở các địa phương và ô tô của sư đoàn vận tải quân sự tham gia rút hàng; có đợt hàng của cảng đã đươc "vét sạch" để đưa đi các nơi.


Đánh phá hệ thống cảng biển miền Bắc nhằm cắt đứt "yết hầu" của hậu phương lớn là một trong những mục tiêu quan trọng của giặc Mỹ. Vì vậy chỉ một thời gian ngắn sau khi bắt đầu cuộc chiến tranh phá hoại, lần lượt các cảng biển bị máy bay địch đánh phá rất ác liệt, đặc biệt là cảng Bến Thuỷ, một càng trung chuyển rất quan trọng ở vùng tuyến lửa khu IV (cũ).


Ngày 11/2/1965, giặc Mỹ cho 46 lần chiếc máy bay A4, F111 và F4 đánh kho Lát Mông (Nghĩa Đàn - Nghệ An) và 22 lần chiếc máy bay ném bom xuống cảng Bến Thuỷ. Hầu hết cơ sở hạ tầng của cảng, thành quả của 10 năm xây dựng, phút chốc đã bị quân thù phá hoại.


Ngày 11/5/1965, máy bay, tàu chiến Mỹ tiếp tục oanh tạc cảng Bến Thuỷ. Tàu Đoàn Kết chở 600 tấn gạo chưa kịp bốc dở đã bị trúng bom. Đồng chí Trần Công Tâm - Chính uỷ tàu hy sinh ngay trong hầm tàu. Tàu bị cháy, trôi trên sông Lam cách cầu tàu 200 mét. Tuy nhiên, số gạo trong tàu Đoàn Kết được giải toả một cách nhanh gọn nhờ sự hỗ trợ đắc lực và kịp thời của C3 công nhân Cảng Hải Phòng.

Logged

ktqsvn

Thành viên
*
Bài viết: 561


Chống phong tỏa sông, biển - Những năm tháng hào hùng« Trả lời #3 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2023, 01:18:05 pm »
Cuộc chiến tranh phá hoại do Không quân và Hải quân Mỹ gây ra ngày càng ác liệt. Khu vực Bến Thuỷ đã bị máy bay, tàu chiến Mỹ đánh phá hàng trăm lần. Địa bàn tiếp nhận, bốc xếp hàng hoá của cảng phải sơ tán nhiều nơi, từ bờ Bắc sang bờ Nam sông Lam, từ chợ Củi (Xuân Hồng) xuống Xuân Viên, Xuân Hội và sau đó thêm nhiều địa điểm khác. Các đơn vị của Cảng Bến Thuỷ được bố trí lại theo mô hình quân sự hoá, chia thành 2C (mỗi C tương đương 1 đại đội), mỗi C được biên chế thành 3B (mỗi B tương đương 1 trung đội). Cảng thành lập Đơn vị Thuỷ đội, buổi đầu có 17 tàu thuyền vận tải với gần 100 chiến sĩ do đồng chí Hồ Quang Hải làm Đội trưởng.


Năm 1965, Cục Vận tải Đường biển thành lập Công ty Vận tải biển 103 chuyên làm nhiệm vụ vận tải hàng hoá trên biển tuyến Khu IV (thay một số tàu lớn của Công ty 101 không phù hợp với phương thức vận tải thời chiến phải đưa đi sơ tán) bao gồm: đội sà lan biển và tàu kéo, đoàn thuyền V0 chạy buồm vỏ gỗ, đoàn thuyền lắp máy vỏ gỗ và đoàn tàu vỏ sắt.


Cục Vận tải Đường biển phối hợp với Cục Cơ khí (Bộ Giao thông vận tải) thành lập Công trường Đóng thuyền biển. Công trường gồm các cán bộ, kỹ sư và công nhân được giao nhiệm vụ lắp máy cho các thuyền gỗ và đóng mới loại thuyền lắp máy và đóng vỏ tàu sắt. Công trường đã đóng được hàng chục thuyền vỏ gồ với trọng tải 10 tấn, 20 tấn, 30 tấn. Sau đó, công trường còn đóng các tàu vỏ sắt (VS) 50 tấn máy 120 CV, tốc độ 10 hải lý/giờ. Các cơ sở của ngành Đường biển còn đề xuất việc thiết kế và chế tạo loại tàu trọng tải 100 tấn, công suất 900 CV, tốc độ 14 hải lý.


Chiến tranh ngày càng ác liệt, mật độ hoạt động của địch trên biển ngày càng tăng. Qua thực tế hoạt động, số phương tiện vỏ gỗ không còn phù hợp nữa. Được phép của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải, Cục Vận tải Đường biển cùng Bộ Ngoại thương đàm phán với Liên Xô và Trung Quốc, đề nghị nước bạn giúp thêm các phương tiện có tính năng kỹ thuật tốt hơn.


Quý III năm 1965, sau khi đàm phán với Trung Quốc, ta mở luồng vận tải Việt - Trung. Trung Quốc giúp ta đóng các loại tàu vỏ sắt trọng tải 50 tấn, lắp máy 120 CV, tốc độ 10 hải lý/giờ để chở hàng khô, chở xăng dầu, và đóng tàu Giải Phóng (GP) (theo đề xuất của ta) trọng tải 100 tấn lắp máy 900 CV, tốc độ 14 hải lý/giờ dùng chạy tuyến Nam Định - Bến Thuỷ và tham gia vận chuyển trên đường Hồ Chí Minh trên biển.


Tàu được Trung Quốc giúp đóng xong, tập kết ở Bắc Hải (Trung Quốc). Ta tổ chức lực lượng sang tiếp nhận. Trên đường từ Trung Quốc về, 3 tàu GP bị máy bay Mỹ đón đánh, 2 tàu bị đắm, hoa tiêu Huỳnh Văn Đảnh hy sinh, riêng tàu do Thuyền trưởng Nguyễn Văn Lễ (Cả Lễ) và đồng chí Bùi Ngọc Châu8 (Sau này là Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam (1995 - 2001)) điều khiển đã mưu trí về tới Hải Phòng an toàn.


Giữa năm 1966, Liên Xô viện trợ cho ta 17 tàu tankit, kiểu tàu "há mồm" trọng tải 50 tấn.

Ngày 23/7/1966, đội tàu vận tải "Tankit" được thành lập với bí hiệu là "Đoàn tàu 17-7" chuyên vận tải hàng hoá nội địa, đường ngắn và ven biển, do Cảng Hải Phòng quản lý, cùng với một số tàu của Thuỷ đội, hình thành đoàn tàu chuyển tải đường ngắn và tiếp viện cho các đảo.


Ngày 29/8/1966, đoàn tàu vỏ sắt 50 tấn được Công ty 103 tổ chức tiếp nhận về khai thác lấy tên là đội tàu Tự Lực ký hiệu là "Đoàn tàu 20-12".

Ngày 10/9/1966, Bộ Giao thông vận tải quyết định chuyển giao số phương tiện và nhân lực đang vận chuyển xăng dầu của Công ty Vận tải Bạch Đằng (Công ty 202) thuộc Cục Vận tải Thuỷ sang cho Cục Vận tải Đường biển quản lý và thống nhất giao cho Cục Vận tải Đường biển phụ trách toàn bộ hoạt động tiếp nhận xăng dầu từ các tàu nước ngoài vào đất liên và vận tải đi khắp các tuyến đường sông và biển (Hải Phòng - Hà Nội - Nam Định và các tỉnh Khu IV). Đồng chí Ngô Tuyết được cử đi tiếp nhận và tổ chức lại hoạt động của các phương tiện trên.


Đến thời kỳ này đã hình thành ba đội tàu do Cục Vận tải Đường biển trực tiếp quản lý và điều hành.

Trên mặt biển, hoạt động đánh phá của địch diễn biến rất phức tạp: có lúc chúng đánh phá dồn dập, có lúc ngừng bắn một vài ngày tết; dài nhất là đạt ngừng bắn 37 ngày rồi trở lại đánh phá ác liệt, tàn khốc hơn và đánh liên tục dài ngày hơn.


Ngày 4/10/1966, Công ty Vận tải biển 101 giải thể để thành lập các đội tàu. Do chiến tranh diễn ra ác liệt đội tàu Hữu Nghị gồm các tàu Hoà Bình, Hữu Nghị, Bến Thuỷ, Thống Nhất, "20-7" phải tạm thời sơ tán sang Trung Quốc.


Hoạt động vận tải biển thời kỳ này thực sự là cuộc đấu trí quyết liệt để hạn chế tổn thất về người và phương tiện, bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ.

Đội tàu Tự Lực ban đầu tổ chức hai phân đội hoạt động trên hai cung đoạn: một phân đội lấy hàng tại Hải Phòng chạy theo tuyến đường sông vào Nam Định; Còn phân đội chủ lực, các tàu VS đều phân tán từ Nam Định, dọc hai bờ sông Ninh Cơ, sau khi lấy hàng xong, ra cửa biển Lạch Giàng, chạy vào Khu IV (Bến Thủy, Sông Gianh, Nhật Lệ).


Các phương tiện đều có lưới nguỵ trang. Đến từng cung đoạn, các phương tiện được đưa vào ụ trú ẩn. Hàng triệu mét lưới nguỵ trang được tổ chức cung cấp cho các trạm bảo đảm hàng hải đảm bảo cho các con tàu đều có nguỵ trang chu đáo khi sơ tán cũng như khi vận chuyển trên luồng. Phương châm là: phòng tránh địch là chủ yếu, chỉ đánh trả máy bay địch trong trường hợp bất đắc dĩ.


Trên luồng vận tải, dù luôn luôn bị máy bay, tàu biệt kích địch uy hiếp, nhưng cán bộ, thuỷ thủ vẫn bình tĩnh, gan dạ, anh dũng, kiên cường.

Quá trình vận tải đã xuất hiện nhiều gương xung phong đi đầu mở tuyến, điển hình như Thuyền trưởng Trịnh Văn Vàng, thuỷ thủ Nguyễn Thanh Hải tàu TL02 - 20, sau chuyến thứ hai thành công sắp về đến đích thì bị máy bay địch phát hiện đuổi theo bắn phá. Tàu chìm và hai anh hy sinh trong khi không rời vị trí chỉ huy và không rời tay lái tại địa phận Nghĩa Hưng (Nam Định).


Trong phong trào thi đua noi gương, học tập tinh thần anh dũng hy sinh của các thuyền viên đã ngã xuống, ở các đội tàu vận tải biển nổi lên nhiều điển hình như các tàu: TL06, VS21, VS24, VS32, VS35, VS27... tăng tốc độ quay vòng từ 1 - 2 chuyến/tháng (Nam Định - Cửa Hội) lên 3 - 5 chuyến/tháng. Đội tàu Tự Lực là đơn vị bị bắn phá nhiều nhất, riêng năm 1967 có đến 18 tàu trong tổng số 24 tàu của toàn Ngành: 3 chiếc bị thuỷ lôi, 14 chiếc bị máy bay oanh tạc, 1 chiếc bị pháo kích (có 12 tàu bị chìm, 6 tàu bị hư hỏng nặng) nhưng toàn đội vẫn kiên cường nêu tấm gương sáng về ý chí tiến công và tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh vì sự nghiệp chống Mỹ cứu nước.

Logged

ktqsvn

Thành viên
*
Bài viết: 561


Chống phong tỏa sông, biển - Những năm tháng hào hùng« Trả lời #4 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2023, 01:19:16 pm »
Đội tàu Quyết Thắng làm nhiệm vụ tiếp nhận và vận tải xăng dầu từ các tàu nước ngoài đến khu vực vịnh Hạ Long đưa vào các kho xăng dầu Hải Phòng và vận chuyển đi khắp các tuyến như Hải Phòng - Hà Nội, Hải Phòng - Nam Định, Hải Phòng - Khu IV. Lực lượng của Đội bao gồm các loại tàu kéo (TD) và tàu đẩy sông với các sà lan chuyên dùng 300 tấn (D), 100 (G), sà lan tự hành 100 tấn (H) tiếp nhận từ Công ty Vận tải Bạch Đằng thuộc Cục Đường sông.


Khi có tàu dầu lớn của nước ngoài (Liên Xô, Trung Quốc và một số nước khác) đến vịnh Hạ Long, Đội lập kế hoạch tổ chức từng đoàn tàu kéo sà lan dầu và sà lan tự hành đêm đến cập mạn tàu ngoại, sang hàng xong theo kế hoạch đã định, đưa từng đoàn, từng phương tiện về các cung đoạn, các nơi ẩn nấp, nguỵ trang tránh máy bay địch. Đêm sau đưa vào khu xăng dầu Hải Phòng bơm lên trả hàng theo phương châm: "Tiếp nhận nhanh để tàu lớn đến nhanh, xăng dầu nhận được nhiều hơn". Ngoài việc tiếp nhận và giao hàng tại Hải Phòng, các phương tiện khác lại vận chuyển đi cung cấp cho các tuyến Hà Nội - Nam Hà...


Theo các cung đoạn đã định, đêm đi, ngày ẩn giấu phương tiện trong điều kiện chiến tranh lại thiếu thốn thiết bị phòng chống cháy nổ, phòng độc; công việc tiếp nhận vận chuyển, sơ tán, nguỵ trang hầu hết phải làm trong đêm tối, thường xuyên trong tình trạng nguy hiểm mà cán bộ thuỷ thủ lại chưa được huấn luyện để làm công tác xăng dầu. Nhưng, với tinh thần anh dũng, kiên cường, quán triệt được nhiệm vụ, vừa làm vừa rút kinh nghiệm nên công việc tiếp nhận, vận chuyển xàng dầu được bảo đảm an toàn, các chỉ tiêu quay vòng, tăng sản lượng và giải phóng tàu nhanh vẫn được thực hiện.


Tháng 3/1967, địch bắt đầu thả thuỷ lôi xuống các cửa sông nhưng chưa trực tiếp đánh vào các Cảng Hải Phòng, Hòn Gai, Cẩm Phả.

Từ ngày 4/8/1967, Mỹ mở đợt tập trung đánh phá, thả bom mìn, thuỷ lôi phong toả cảng và thành phố Hải Phòng. Chúng đánh phá từ vòng ngoài: cầu Nghìn, sông Hoá, sông Thái Bình, sông Mới, sông Văn Úc, sông Luộc, phà Quý Cao, Tiên Cựu. Tiếp đến, chúng đánh phá phà Rừng, phà Đụn, phà Kiền Bái, cầu Đá Bạch, cầu Giá, ném bom và mìn chờ nổ vào các sông trên toàn thành phố Hải Phòng. Từ 2/9/1967, địch đánh phá huỷ diệt các cầu xi măng, cầu đường sắt, cầu Rào, cầu Niệm, gây ách tắc giao thông, chia cắt các khu phố, các huyện thành những đảo nhỏ.


Tháng 9/1967, Nhà Trắng và Lầu Năm Góc quyết định đẩy mạnh đánh phá và phong toả Cảng Hải Phòng nhằm cô lập Hải Phòng để "không cho miền Bắc nhận tiếp tế từ nước ngoài vào", hòng cắt đứt "yết hầu" của miền Bắc và cả chiến trường lúc này. Từ tháng 10/1967, với Chiến dịch "Rồng biển", Mỹ huy động nhiều tàu chiến bắn phá vùng biển từ Vĩnh Linh - Quảng Bình tới Nam Định - Thái Bình. Đồng thời, máy bay Mỹ tăng cường đánh phá các cảng: Hải Phòng, Cẩm Phả, Hòn Gai; các đảo đèn: Long Châu, Hòn Dáu; các đèn biển: Nhật Lệ, Sông Gianh, Cửa Hội, Lạch Trường, Lạch Trào, Bỉm Sơn9 (Trần Xuân Nhơn: Bác Hồ trong lòng đội ngũ công nhân và thủy thủ Hàng hải Việt Nam)...


Tháng 12/1967, địch mở rộng diện thả thuỷ lôi (bằng máy bay) với hi vọng "thực hiện biện pháp có hiệu lực nhất làm cho giao thông đường thuỷ miền Bắc bị giảm xuống".

Trung ương Đảng nhận định: "Đi đôi với việc tăng cường chiến tranh xâm lược miền Nam, chúng sẽ đẩy mạnh chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng Không quân và Hải quân, đánh phá mạnh Hà Nội, phong toả Cảng Hải Phòng, phá hoại đê điều trong mùa mưa, rải chất độc phá hoại mùa màng... Chính vì vậy phải giữ vững tuyến đường vận chuyển vào Nam trong mọi tình huống, tăng cường các mạng đường vận chuyển cho các chiến trường đủ khả năng phục vụ về những nhu cầu vật chất, về hành quân, về sử dụng lực lượng dự bị chiến lược..."10 (Theo lời của tướng G.Sharp - Tư lệnh quân đội Mỹ ở Thái Bình Dương).


Ngày 31/10/1967 để tăng hiệu lực chỉ đạo của Cục Vận tải Đường biển trong tình hình địch phong toả đường biển, Bộ trưởng Phan Trọng Tuệ đã ký Quyết định số 2103 giao cho Cục trưởng Lê Văn Kỳ thay mặt Bộ trưởng điều hành, phối hợp toàn ngành Giao thông vận tải, các địa phương khu đầu mối Hải Phòng, Quảng Ninh và các tỉnh miền duyên hải.


Đến thời kỳ này, Cảng Hải Phòng bắt đầu bị địch đánh phá và phong toả. Tất cả các cảng khác như Vật Cách (ngoại ô Hải Phòng), Cẩm Phả, Hồng Gai (Quảng Ninh), Bến Thuỳ (Nghệ An) đều bị đánh đi đánh lại nhiều lần.


Ở Khu IV, các cảng biển như: Lạch Trường, Cửa Sót, Cửa Nhượng, Cửa Khẩu, cảng Gianh... không những bị máy bay địch bắn phá mà còn bị địch khống chế bằng thủy lôi và bom từ trường (TN)11 (Trích báo cáo tổng kết của Bộ Giao thông vận tải).


Để chống lại những âm mưu, thủ đoạn thâm độc của đich các đội tàu của ngành Đường biển cùng các phương tiện của đường sông kể cả thuyền đánh cá, vừa chuyên chở chi viện cho Khu IV vừa lập các chân hàng cho tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn (thuộc Đoàn 559).


Đội tàu Tự Lực đã khắc phục mọi khó khăn, luôn luôn bám biển trong mọi tình huống, chiến đấu kiên cường dũng cảm, thực hiện đầy đủ chức năng đội tàu chủ lực làm nhiệm vụ xung kích của ngành Đường biển trên tuyến vận tải vào phía Nam với việc tham gia nhiều chiến dịch vận tải của ngành Giao thông vận tải.


Các cơ sở của ngành Đường biển như Cảng Hải Phòng, Ty Đảm bảo hàng hải tổ chức các đài quan sát thuỷ lôi và máy bay địch, lập nhiều cung nhiều tuyến, nhiều trạm bảo đảm giao thông, các bến dã chiến, các công sự âu, ụ đỗ tàu, giấu tàu thuyền...


Khi địch đánh phá ác liệt, theo sự chỉ đạo của Cục Vận tải Đường biển, đội tàu Giải Phóng kiên trì sơ tán, che giấu lực lượng ở vùng vịnh Hạ Long hoặc thượng nguồn các sông ở miền Bắc, bảo toàn lực lượng, làm nhiệm vụ phân đội dự bị của ngành Đường biển, sẵn sàng phục vụ các chiến dịch vận tải khi địch ngừng ném bom vào các dịp Noel, lễ, tết... (như chuyên chở hàng từ Cảng Hải Phòng "thần tốc" chỉ một đêm là đến Khu IV, kịp phục vụ cho nhu cầu của tuyến lửa và chiến trường).


Các tàu Hòa Bình, Hữu Nghị, Thống Nhất, "20 - 7" sơ tán sang Trung Quốc vừa bảo toàn lực lượng lâu dài, vừa tổ chức kinh doanh vận tải bằng cách cho thuê cho các nước. Rieêng hai năm 1967, 1968 các tàu của ta đã vận tải cho Trung Quốc được 20.260 tấn hàng, thu về cho Nhà nước trên 1 triệu đồng nhân dân tệ.


Đội tàu Quyết Thắng đã huy động toàn bộ lực lượng phương tiện chuyên chở xăng dầu, là mặt hàng chiến lược thiết yếu số một trong thời gian này.

Cục Vận tải Đường biển tập trung két chứa xăng dầu hiện có và cho sản xuất loại két xăng 40 tấn lắp xuông sà lan và tàu VS (vì ta không có đủ phương tiện chuyên dùng chở xăng dầu), đồng thời cho chôn két xuống đất để chứa dầu làm kho dự trữ, "hàn kín" hầm sà lan thường thành sà lan chở dầu.

Logged

ktqsvn

Thành viên
*
Bài viết: 561


Chống phong tỏa sông, biển - Những năm tháng hào hùng« Trả lời #5 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2023, 01:20:17 pm »
Tranh thủ lúc địch ngừng bắn, đội tàu Quyết Thắng dùng phương tiện vận chuyển xăng dầu đường sông gặp thời tiết thuận lợi chở thẳng vào tận cửa sông Gianh (Quảng Bình), góp phần tăng thêm lượng xăng dầu chi viện cho miền Nam.


Có những lúc bị máy bay địch oanh tạc trúng tàu kéo và sà lan như các trường hợp tàu kéo TD1, TD2, H1, H2, DU, E54, E55, G15, G23... nhưng tàu vừa phát cháy anh em đã dũng cảm, bình tĩnh lao vào nhanh chóng dập tắt ngọn lửa, cứu được phương tiện và hàng hoá. Có nhiều anh em bị cháy bỏng nhưng không ai dao động rời bỏ nhiệm vụ.


Từ ngày 10/9/1966 đến cuối năm 1969, riêng đội tàu Quyết Thắng đã vận chuyển được trên 1 triệu tấn xăng dầu phục vụ các chiến trường, nhiều gấp 2 lần tổng số xăng dầu đã chở trong 10 năm hoà bình (1955 - 1964).


Khi địch bắt đầu thả thuỷ lôi, bom từ trường, các đội rà phá thuỷ lôi gồm: Phân đội Quyết thắng 1 & 2, Phân đội Lê Mã Lương của Cục Vận tải Đường biển phối hợp chặt chẽ với đơn vị bạn, đặc biệt là Hải quân nhân dân Việt Nam, cùng nghiên cứu và kết hợp thực hiện việc rà phá, làm mất tác dụng của chúng. Đây là cuộc đấu mưu, đấu trí với giặc Mỹ và là sự chịu đựng đầy quả cảm của toàn ngành Đường biển.


Đèn đảo Long Châu12 (Năm 1962 ông Phùng Văn Bằng (công nhân gác đèn biển) và năm 1973 đảo đèn Long Châu được Nhà nước tcặng danh hiệu Anh hùng) bị máy bay Mỹ bắn phá từ ngày 28/4/1966 với tổng số 29 trận trong năm 1966, 126 trận trong năm 1967, 37 trận trong năm 1968, bình quân mỗi cán bộ, công nhân đảo đèn này phải chịu đựng sức nổ của 300 quả bom, mỗi mét vuông đảo chịu 2 tấn bom. Đảo đèn Hòn Dáu trong 3 năm bị địch đánh phá 116 trận, trong đó trận ngày 27/4/1967 chúng dùng bom lade điều khiển từ xa để hòng phá sập tháp đèn. Nhưng với ý chí "Tim còn đập, đèn đảo còn sáng, người này ngã xuống, người khác tiếp tục thay thế" cán bộ, công nhân trên các đảo đèn Long Châu, Hòn Dáu... đã chiến đấu vô cùng dũng cảm, kiên cường với máy bay, tàu chiến giặc bằng mọi vũ khí có trong tay. Nhiều người thà hy sinh nhưng không chịu rời đảo, bằng mọi giá, họ quyết tâm giữ cho "Mắt ngọc của Tổ quốc" luôn luôn phát sáng. Với tinh thần "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh" đó, những đảo đèn và phao đèn dẫn tàu vào Cảng Hải Phòng trong chiến tranh không chỉ được những người canh đèn đảm bảo ánh sáng tới 95% - 97% mà còn là đài quan sát rất hiệu quả để theo dõi giặc Mỹ thả thuỷ lôi và bom chờ nổ vào vùng ven biển và các luồng dẫn tàu. Chính các đảo đèn và 72 đài quan sát được lập dọc các tuyến ven biển đã góp phần xác định tọa độ, giúp cho các chiến sĩ rà phá thuỷ lôi tổ chức rà phá đạt kết quả cao.


Khẩu hiệu hành động của người công nhân đèn biển được khác trên vách đó thể hiện quyết tâm đánh thống giặc Mỹ xâm lược13 (Chiều 28/11/1966, máy bay Mỹ tập kích đảo đèn Long Châu, chiến sĩ thông tin Cao Văn Viên hy sinh. Trong lễ truy điệu đồng đội tuyên thệ "Còn người, còn đảo / Trái tim còn đập, đảo đèn còn ánh sáng").


Việc tổ chức khảo sát, đo đạc, lập bản đồ các tuyến luồng mới, thanh thải chướng ngại vật trên luồng, nạo vét mồi năm hàng triệu mét khối, vẫn thường xuyên được triển khai đi đôi với việc tổ chức lập sơ đồ cho cuộc chiến đấu chống phong toả, đảm bảo an toàn hàng hải có hiệu quả trong suốt cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ.


Công việc rà phá bom, mìn, thuỷ lôi của ngành Đường biển thời kỳ này do Cục trưởng Cục Vận tải Đường biển Lê Văn Kỳ tổ chức chỉ đạo và có sự phối hợp chặt chẽ của Hải quân nhân dân Việt Nam.

Bộ Tư lệnh Hải quân, Bộ Tư lệnh Công binh và Quân khu Tả Ngạn cùng Viện Kỹ thuật Quân sự đã mở nhiều lớp huấn luyện về phá thuỷ lôi cho các đơn vị đường biển. Tư lệnh Hải quân biệt phái một số sĩ quan chuyên gia về bom mìn sang giúp đỡ và phối hợp với đội rà phá thuỷ lôi của Ty Bảo đảm Hàng hải, Cảng Hải Phòng giúp ngành Đường biển có tài liệu nghiên cứu về thuỷ lôi của Mỹ.


Trong cuộc chiến đấu mang tính "sinh tử" với kẻ thù tàn bạo, để góp phần bảo vệ "yết hầu" quan trọng của đất nước, ngành Đường biển xây dựng lực lượng tự vệ biển khá hùng mạnh, phối hợp cùng Hải quân và các Quân khu chiến đấu trực diện trên biển với kè thù. Tự vệ biển được trang bị vũ khí khá đầy đủ gồm 1.800 khẩu súng các loại, trong đó có cả pháo 37 ly - B40...


Để chủ động chống lại việc phong toả của giặc Mỹ, Cục Vận tải Đường biển thành lập đội rà phá thuỷ lôi ở các đơn vị trực thuộc, trong đó nổi bật là Đội rà phá thuỷ lôi mang tên "Quyết thắng" của Ty Bảo đảm Hàng hải14 (Từ 19/8/1967 - 8/1972 là Đội phá lôi Bảo đảm hàng hải, từ 9/1972 đổi tên là Đội phá lôi Quyết thắng. Đội phá lôi "Quyết thắng" gồm 4 phân đội: Quyết thắng 1, 2, Lê Mã Lương, khí tài thủ công. Ngoài ra còn có 2 phân đội dự bị. Nguồn: Tư liệu Nguyễn Thái Phong) với đội hình hàng chục con tàu và hơn 100 chiến sĩ có tinh thần chiến đấu cao do đồng chí Nguyễn Thái Phong làm Đội trưởng và Phó trưởng Ty Vũ Long Vân trực tiếp chỉ đạo.


Đội Công binh Cảng Hải Phòng gồm 60 cán bộ chiến sĩ trẻ, khoẻ, nhiệt tình do Trần Viết Chẩn làm Đội trường. Đội Rà phá thuỷ lôi Cảng Bến Thuỷ gồm 50 đội viên đo đồng chí Nguyễn Tài Vân làm Đội trưởng.


Tất cả các đơn vị nói trên đều đặt dưới sự chỉ huy và điều động trực tiếp của Cục Vận tải Đường biển nhằm tập trung sức mạnh tổng hợp khi triển khai nhiệm vụ.

Ngày 18/4/1967, Cục Vận tải Đường biển thành lập Tổ nghiên cứu thuỷ lôi và công nghệ rà phá làm mất hiệu lực của chúng, đồng thời cho triển khai phương án sản xuất thiết bị PĐ67, chuẩn bị hậu cần, y tế bảo vệ sức khoẻ, cấp cứu cho các lực lượng tham gia rà phá thuỷ lôi.


Vào thời gian này, Trưởng Ty Bảo đảm Hàng hải Dư Bá Thượng cùng một số cán bộ chủ chốt phối hợp với chuyên gia kỹ thuật của Hải quân đến cửa Lạch Trào để tìm cách chống phá thuỷ lôi. Tại đây họ "bắt sống" được 4 quả MK52 Mod - 0 Trung uý Hải quân Nguyễn Sĩ Trinh đã tháo gỡ thành công. Quả thuỷ lôi MK52 trở thành giáo cụ trực quan vô cùng quí giá cho những chiến sĩ tham gia chống thuỷ lôi và là cơ sở thực tiễn duy nhất giúp cho chúng ta thiết kế chế tạo thiết bị rà phá. Đến tháng 6/1967 tổ nghiên cứu có sự giúp đỡ của bộ đội Hải quân đã cho ra đời thiết bị phá thuỷ lôi đầu tiên với tên gọi PĐ67 - 01 (PĐ là "phao đèn" viết tắt) và được đưa vào thừ nghiệm trên bờ (ngày 4/5/1967), thử nghiệm dưới nước (ngày 24/5/1967). Thiết bị PĐ67 - 01 nặng 500 kg, có máy hiện sóng để theo dõi biến thiên từ trường, PĐ67 - 01 được tổ nghiên cứu đưa về Lạch Trào, thử nghiệm rà phá 1 tháng rồi sơ kết rút kinh nghiệm và xác định lại các thông số kỹ thuật để tiếp tục sản xuất PĐ67 - 02, PĐ67 - 03 có trọng lượng nhẹ hơn, thuận tiện và hiệu quả rà phá cao hơn. PĐ67 - 03 chỉ còn nặng 150 kg, sử dụng bộ đóng ngắt tự động (do Cục phó Cục Vận tải Đường biển Trần Văn Nhận kiên trì nghiên cứu chế tạo từ mô tơ gạt nước, có tác dụng rất cao trong việc rà phá thuỷ lôi MK42).

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn