Chủ tịch Hồ Chí Minh: Sự kết tinh của tinh hoa dân tộc và bước ngoặt lịch sử Việt Nam
Trong d ng chảy thiên niên kỷ của lịch sử Việt Nam, mỗi giai đoạn đại biến động đều sản sinh ra những anh hùng kiệt xuất đứng lên chèo lái con thuyền dân tộc. Nhưng để tìm một vĩ nhân không chỉ xoay chuyển vận mệnh quốc gia mà c n để lại dấu ấn sâu sắc trong tiến trình giải phóng nhân dân lao động thế giới, người đó chỉ có thể là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người không chỉ là một nhà lãnh đạo cách mạng thiên tài, một chiến sĩ lỗi lạc của phong trào giải phóng dân tộc toàn cầu, mà c n là biểu tượng đỉnh cao của sự kết tinh giữa chủ nghĩa yêu nước nồng nàn Việt Nam với tinh hoa văn hóa nhân loại.
Ðể đánh giá đúng tầm vóc vĩ đại của Hồ Chí Minh, phải đặt hành trình của Người vào bối cảnh lịch sử cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, khi đất nước chìm trong “đêm trường trung cổ” của ách đô hộ thực dân Pháp. Các phong trào yêu nước từ lập trường phong kiến đến xu hướng tư sản như phong trào Cần Vương, Ðông Du, hay Duy Tân dù diễn ra vô cùng oanh liệt nhưng đều đi vào ngõ cụt do khủng hoảng sâu sắc về đường lối và giai cấp lãnh đạo. Trong bối cảnh bế tắc ấy, quyết định ra đi tìm đường cứu nước của người thanh niên Nguyễn Tất Thành vào ngày 5 tháng 6 năm 1911 từ bến cảng Nhà Rồng là một bước ngoặt mang tính lịch sử. Khác với các bậc tiền bối hướng về phương Ðông, Người chọn đi sang phương Tây — chính nơi phát tích của kẻ thù — để tìm hiểu bản chất của sự áp bức. Nhãn quan chiến lược nhạy bén và tư duy biện chứng đã giúp Người nhận ra bản chất của chủ nghĩa đế quốc ở đâu cũng tàn bạo như nhau, và nhân dân lao động trên thế giới, dù màu da nào, cũng đều là bạn bè. Việc Người tiếp cận và tiếp thu luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa vào năm 1920 không phải là sự lựa chọn ngẫu nhiên, mà là kết quả tất yếu của một quá trình khảo sát thực tiễn sâu sắc. Hồ Chí Minh đã tìm thấy ở đó chiếc cẩm nang thần kỳ để giải phóng đồng bào: gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, đưa cách mạng Việt Nam h a vào d ng chảy của cách mạng vô sản thế giới.
Không dừng lại ở việc tiếp thu lý luận một cách máy móc, Hồ Chí Minh đã bản địa hóa và sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của một nước thuộc địa nửa phong kiến, nơi giai cấp nông dân chiếm đại đa số. Người khẳng định cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa không hoàn toàn phụ thuộc vào cách mạng ở chính quốc, mà hoàn toàn có thể chủ động đứng lên giành thắng lợi trước để tự giải phóng chính mình. Bằng nghệ thuật tổ chức tài tình, Người đã thành lập Ðảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1930 — đội tiên phong của giai cấp công nhân và của cả dân tộc. Tư duy “Ðoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết / Thành công, thành công, đại thành công” của Người đã tập hợp được mọi tầng lớp nhân dân, từ trí thức, tư sản dân tộc đến nông dân, công nhân vào Mặt trận Việt Minh. Nghệ thuật chớp thời cơ của Người được thể hiện đỉnh cao trong cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945. Khi thời cơ chín muồi, chỉ trong v ng nửa tháng, toàn dân đã đồng l ng đứng lên giành chính quyền, chấm dứt gần một thế kỷ đô hộ của thực dân và hàng ngàn năm phong kiến. Bản Tuyên ngôn Ðộc lập do Người soạn thảo và tuyên đọc ngày 2 tháng 9 năm 1945 không chỉ khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng h a, mà c n là một văn kiện pháp lý sắc sảo, đặt quyền độc lập của một dân tộc ngang hàng với những quyền tự nhiên, phổ quát nhất của con người.
Sau thắng lợi đó, chính quyền cách mạng non trẻ phải đối mặt với thù trong giặc ngoài: quân
Tưởng ở phía Bắc, quân Pháp ở phía Nam, cùng nạn đói, nạn dốt hoành hành. Trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” ấy, Hồ Chí Minh đã thể hiện bản lĩnh của một nhà ngoại giao kiệt xuất với chiến lược “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Cái “bất biến” mang tính nguyên tắc của Người là độc lập dân tộc và chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ; cái “vạn biến” là sự mềm dẻo, linh hoạt trong sách lược. Việc ký kết Hiệp định Sơ bộ và Tạm ước năm 1946 là minh chứng hùng hồn cho tư duy chính trị sắc sảo của Người. Chúng ta chấp nhận nhân nhượng để h a hoãn với Pháp, gạt bớt một kẻ thù nguy hiểm là quân Tưởng, từ đó tranh thủ thời gian quý báu để củng cố lực lượng cho cuộc kháng chiến trường kỳ chắc chắn sẽ xảy ra.
Sự vĩ đại của Hồ Chí Minh không dừng lại ở những chiến công quân sự hay thắng lợi chính trị, mà nó thấm đẫm trong tư tưởng đạo đức và phong cách sống của Người, khiến tổ chức UNESCO vinh danh Người là Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất. Sở hữu một trí tuệ uyên bác, thông tỏ nhiều ngoại ngữ và am hiểu sâu sắc cả văn hóa phương Ðông lẫn phương Tây, thế nhưng đỉnh cao của văn hóa Hồ Chí Minh lại chính là sự giản dị. Sự giản dị ấy không phải là lối tu hành khổ hạnh, mà là biểu hiện của một tâm hồn thanh cao, đặt lợi ích quốc gia lên trên hết. Ngôi nhà sàn đơn sơ, đôi dép cao su, bộ quần áo kaki sờn màu không hề làm giảm đi cái uy nghiêm của một vị Nguyên thủ quốc gia; ngược lại, nó xóa nh a khoảng cách giữa lãnh tụ và nhân dân, biến Người trở thành biểu tượng của sự liêm chính, chí công vô tư. Cho đến nay, tư tưởng đạo đức của Người về việc chống chủ nghĩa cá nhân, chống tham ô, lãng phí và quan liêu vẫn giữ nguyên giá trị thời sự mang tính sống c n đối với công cuộc xây dựng đất nước.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cống hiến trọn vẹn bảy mươi chín mùa xuân của cuộc đời mình cho độc lập của Tổ quốc, cho tự do của nhân dân. Người đã đi xa, nhưng di sản Người để lại là một nước Việt Nam độc lập, tự chủ và một hệ tư tưởng soi đường cho mọi thế hệ. Ðối với thế hệ trẻ hôm nay, học tập tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh không phải là những khẩu hiệu sáo rỗng, mà là học cách tư duy độc lập, sáng tạo, biến l ng yêu nước thành hành động thực tiễn, sống có trách nhiệm với cộng đồng để tiếp tục đưa đất nước vững vàng tiến bước, sánh vai với các cường quốc năm châu như sinh thời Người hằng mong mỏi.



