Bài viết

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VĨ ĐẠI

Nghệ An03/08/2026Đoàn xã Tân Minh (Tân Minh)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Giữ những ngày trưa nắng cháy bỏng của xứ Nghệ, bên dòng Lam giang xanh thẳm, cậu bé Nguyễn Sinh Cung- sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh – đã mở mắt nhìn thế giới bằng một cái nhìn vừa trong trẻo, vừa đau đáu trước nỗi cơ hàn của quê hương, Từ những ngày còn thơ bé, Người đã đứng dưới bóng cây đa làng Sen, nghe cha mình – cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Trắc – giảng về nhân nghĩa, về tấm lòng với dân với nước. Chính từ thuở ấy, Người đã lặng lẽ nuôi một chí lớn cứu dân khỏi lầm than.

  Những buổi chiều gió Lào bỏng rát, khi nhìn những người dân đôi chân nứt nẻ vẫn lam lũ trên đồng, Người từng hỏi cha:

- Vì sao dân mình khổ đến thế?

  Câu hỏi ấy như một nhát dao khắc sâu vào tâm trí Người, mở đầu cho một hành trình đi tìm con đường giải phóng dân tộc kéo dài hơn 30 năm bôn ba nơi đất khách.

Cuộc hành trình đầy gian nan ấy bắt đầu từ ngày 5 tháng 6 năm 1911, từ bến nhà Rồng, chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành ra đi trên con tàu Amiral Latouche – Trresville. Không phải ra đi để tìm vàng, tìm giàu sang, mà đi để tìm lời giải cho câu nói của cả dân tộc mãi không được lí giải:

- Nước ta làm thế nào để được độc lập?

   Suốt nhiều năm lênh đênh trên biển, làm phụ bếp, dọn tuyết, rửa ảnh,…Người tiếp xúc với tận cùng nỗi khổ của những thân phận lao động và cả sự tàn nhẫn của chủ nghĩa thực dân. Chính trải nghiệm ấy giúp Người nhận ra chân lý chỉ có cách mạng vô sản mới cứu được nước, giải phóng con người.

Vào năm 1920, tại Đại hội Tour (Pháp), Nguyễn Ái Quốc đã dõng dạc đứng lên tuyên bố:

- Đây là con đường giải phóng chúng ta!” khi Người bỏ phiếu tán thành Quốc tế Cộng sản và trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp.

Tiếp tục con đường đó năm 1930, tại Quảng Châu (Trung Quốc), Người chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Với tầm nhìn của một nhà chiến lược kiệt xuất.

Sau cuộc hành trình dài đó vào tháng 1 năm 1941, Người trở về Tổ quốc, sống trong hang Pác Bó – một căn hang nhỏ ẩm lạnh, Người ngồi bên bàn đá” chông chênh dịch sử Đảng”, bên cạnh bếp lửa nghi ngút khói, tấm áo sờn vai vẫn lặng lẽ phủ lên dáng người gầy gò nhưng ánh mắt thì sáng rực như lửa. Cuộc sống giản dị, nhưng niềm tin vào thắng lợi của dân tộc thì lớn lao phi thường.

Rồi thời khắc lịch sử ấy cũng đã xảy ra ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội, trước hàng vạn đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam.

Giọng Người trầm ấm, vang lên giữa bầu trời thu xanh thẳm:

- Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, quyền được sống, quyền được tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.”

rồi Người khẳng định với giọng kiên quyết, sắc lạnh như thép:

- Nước Việt Nam có quyền được tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự dọ độc lập.

Khoảnh khắc ấy, cả dân tộc như vỡ òa. Đó không chỉ là một tuyên bố chính trị, mà là lời thề thiêng liêng trước lịch sử.

Trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp và chống Mỹ, Hồ Chí Minh luôn sát cánh cùng nhân dân. Người đến từng bản làng, từng căn hầm nhỏ, chia sẻ từng củ khoai, bát cháo với dân. Dưới ánh đền dầu leo lét, Người viết thư động viên bộ đội, thanh niên xung phong, thiếu niên nhi đồng. Trong những năm ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, tiếng nói của Người trở thành sức mạnh vô hình thôi thúc toàn dân tộc tiến lên. Tuyên ngôn bất hủ của Người trở thành khẩu hiệu chiến đấu:

- Không có gì quý hơn độc lập, tự do.

Từ câu nói ấy, những đoàn quân đã vượt Trường Sơn, những cô gái Ngã ba Đồng Lộc đã nằm lại bên hố bom, những chiến sĩ lái xe trên tuyến đường 559 đã lao đi trong tiếng đạn bom, để giữ trọn lời thề với Bác, với Tổ quốc.

Dù là Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh vẫn sống như một người bình thường. Chiếc áo ka-ki bạc màu, đôi dép cao su giản dị, chiếc nhà sàn nhỏ bên bờ ao… tất cả làm nên chân dung một vị lãnh tụ mà thế giới phải khâm phục.

Một điều mà chẳng người dân nào mong muốn nó sẽ đến ngày 2 tháng 9 năm 1969, Người đã ra đi, để lại trong lòng dân tộc Việt Nam nỗi tiếc thương khôn cùng. Nhưng di sản của Người để lại – tư tưởng, đạo đức, phong cách – “vẫn là ngọn đuốc dẫn đường” cho dân tộc.

Người căn dặn:

- Đoàn kết là một truyền thống cực kì quý báu của Đảng và dân tộc ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết, nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình.

Hồ Chí Minh – Người không chỉ là lãnh tụ của một dân tộc, mà là biểu tượng của khát vọng tự do của cả nhân loại. Cuộc đời Người như một bản hùng ca cháy đỏ trong thời hoa lửa, trong đó mỗi chương đều được viết bằng mồ hôi, nước mắt và trái tim dành trọn cho đất nước. Người để lại cho dân tộc không chỉ Tổ quốc độc lập, mà còn để lại tấm gương về sự khiêm nhường, nhân ái, vị tha, một lòng vì dân vì nước.

Để rồi hôm nay, mỗi khi nhìn lên bầu trời đêm, ta như vẫn thấy một vì sao sáng – vì sao mang tên Hồ Chí Minh – soi rọi con đường Việt Nam đi tới tương lai.

 

 

 

CÂU CHUYỆN  2 : GẶP CỰU CHIẾN BINH NGUYỄN CHÍ HIỀN – NGƯỜI CHIẾN SĨ 7 LẦN ĐƯỢC PHONG TẶNG “DŨNG SỸ DIỆT MỸ”

 

Nhân dịp kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2025), tôi đến thăm một cựu chiến binh tiêu biểu trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, người đã 7 lần đạt danh hiệu “Dũng sỹ diệt Mỹ” cấp 3. Đó là cựu chiến binh Nguyễn Chí Hiền hiện đang sinh hoạt tại Khu phố 7, hội viên Hội Cựu chiến phường Đa Kao, Quận 1, TPHCM.

Ông Nguyễn Chí Hiền sinh năm 1947 tại huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định. Tháng 9/1966, ông nhập ngũ, đơn vị đóng quân tại tỉnh Thái Bình, 1 tháng sau ông chuyển về Đại đội 33 thuộc Tỉnh đội Nam Định, bắt đầu chặng đường binh nghiệp đầy gian khổ nhưng cũng vô cùng vẻ vang.

Tháng 5/1967, sau khóa huấn luyện, ông cùng đồng đội hành quân vào Nam, mất 6 tháng băng rừng vượt suối để tới chiến trường ác liệt.

Những ngày đầu tại miền Đông Nam Bộ, ông Hiền chiến đấu dưới cánh rừng Dương Minh Châu, Tây Ninh, tham gia vào chiến dịch Mậu Thân 1968 thuộc lực lượng Pháo binh miền Đông Nam Bộ. Trong dịp Tết Mậu Thân lịch sử, ông trực tiếp tham gia trận đánh lớn tại sân bay Trảng Lớn, Tây Ninh, góp phần làm rúng động tinh thần quân Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Đặc biệt, trong trí nhớ của ông Hiền, trận đánh tại Đồng Dù - Củ Chi trong Đợt 3 của chiến dịch Mậu Thân là trận đánh ác liệt nhất.

Từ năm 1969 đến 1971, sử dụng thành thạo cối 120mm và hỏa tiễn 12 nòng (H12), ông Hiền đã liên tục tham gia nhiều trận đánh lẻ, liên tiếp tấn công vào các căn cứ quân sự của Mỹ tại Tây Ninh. Trong giai đoạn này, chính sự dũng cảm và hiệu quả trong chiến đấu đã giúp ông 7 lần được phong tặng danh hiệu cao quý “Dũng sĩ diệt Mỹ” cấp 3.

Cũng trong khoảng thời gian này, ông Nguyễn Chí Hiền có 1 lần bị thương nặng bởi mảnh bom găm sát sọ, nhưng ông vẫn kiên cường chiến đấu, không rời bỏ vị trí, quyết tâm bám trụ chiến trường.

Sau Đợt 3 của chiến dịch Mậu Thân, ông Hiền được điều động về Tiểu đoàn 22, Sư đoàn 9 và tiếp tục chiến đấu tại Tây Ninh, Long An. Với thành tích và kinh nghiệm dày dạn, năm 1974, ông được phong quân hàm Thượng sĩ.

Ngày 30/4/1975, Đại đội 1, Tiểu đoàn 22, Sư đoàn 9, nơi ông công tác, được giao nhiệm vụ khống chế sân bay Tân Sơn Nhất. Tuy chưa cần khai hỏa nhưng địch đã hoang mang, đơn vị ông nhận được lệnh nhanh chóng tiến sâu vào nội đô, đánh chiếm các mục tiêu trọng yếu như: ngã tư Bảy Hiền, Bưu điện Chí Hòa và biệt khu Thủ đô.

Sau ngày giải phóng, tháng 10/1975, ông Nguyễn Chí Hiền cùng đơn vị về Trung tâm Huấn luyện Quang Trung, sau đó chuyển công tác về Nhà máy Thủy tinh Thanh Trúc (Quận 8) làm Trưởng ban Bảo vệ Chính trị. Tháng 1/1976, ông chính thức nhận quyết định chuyển ngành, nhận nhiệm vụ bảo vệ an ninh nội bộ nhà máy.

Không dừng lại ở đó, ông còn tham gia tiếp quản và phụ trách công tác bảo vệ Nhà máy Thủy tinh Gò Vấp và Nhà máy Thủy tinh Khánh Hội (Quận 4). Năm 1981, ông chuyển sang ngành may tại Chợ Lớn cho đến khi nghỉ hưu năm 1993.

Trở lại đời sống đời thường, ông có 13 năm giữ vai trò Tổ trưởng tổ dân phố 21 (nay thuộc Khu phố 7), phường Đa Kao, Quận 1. Dù đã ở tuổi xế chiều, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động của Hội Cựu chiến binh phường Đa Kao.

Với những chiến công và đóng góp trong chiến đấu và xây dựng đất nước, ông được tặng thưởng: Huân chương Chiến sĩ hạng Nhất, Nhì, Ba; Huân chương Kháng chiến hạng Ba; Huy hiệu Chiến dịch Hồ Chí Minh; Dũng sĩ quyết thắng Cấp I và nhiều khen thưởng khác.

Cựu chiến binh Nguyễn Chí Hiền là tấm gương sáng về tinh thần chiến đấu, lòng trung thành và sự tận tụy vì nhân dân và Tổ quốc.

 

 

 

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn