Bài viết

CHUẨN BỊ VŨ KHÍ TẤN CÔNG ĐÀ NẴNG

Đà Nẵng08/07/2026Nguyễn Ánh Quyên (THPT Nguyễn Văn Thoại)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Người kể: PHAN MINH TÂN NGUYỄN NHO KHIÊM ghi

Khoảng tháng 8 năm 1967, chiến dịch mùa khô sắp kết thúc, địch mở các trận càn rất quy mô ra các vùng giải phóng, còn ta thì cương quyết đánh bại mọi trận càn của địch, tạo thế chủ động để chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công, nổi dậy Xuân - 1968.

Lúc bấy giờ kho vũ khí đơn vị để ở các hầm bí mật tại Lộc Hưng, ngay nơi bọn Mỹ ngụy chọn điểm đóng quân khống chế vùng giải phóng. Chúng xúc dân đi nơi khác, càn trắng một vùng rộng lớn trong khi dưới mặt đất nơi ấy là nơi ta cất giữ vũ khí. Làm sao chống lại những trận càn của địch nếu thiếu vũ khí, trong khi chỉ còn hơn 6 tháng nữa là đến Tết Mậu Thân? Làm sao ổn định tình hình để có thời gian sản xuất vũ khí phục vụ chiến trường? Trước yêu cầu cấp thiết đó, Bộ Tư lệnh mặt trận chỉ thị bằng mọi giá phải lấy cho được số vũ khí trên để cấp cho các đơn vị tiếp tục chiến đấu.Lúc bấy giờ đồng chí Hoàng Hải (tức là Hoàng Nghị) - Trưởng phòng quân giới - và đồng chí Lê Quánh - xưởng trưởng - được giao nhiệm vụ trực tiếp chỉ huy theo dõi tình hình địch, chớp thời cơ thuận lợi tiếp cận các hầm bí mật chứa vũ khí ở Lộc Hưng chuyển vũ khí về cho quân ta trước khi địch phát hiện.

Trong số anh em đi lấy vũ khí năm ấy có trên 20 đồng chí, trong đó có tôi và các đồng chí Nguyễn Văn Bảy (hiện thường trú 336 Phan Chu Trinh, Đà Nẵng), Lê Dũng (Trung tá, hiện đã nghỉ hưu) và Hoàng Ngọc Xi, Nguyễn Tửu.Khi đến Quảng Đại - Lộc Phước, đồng chí Quánh và đồng chí Hải ở lại để củng cố lực lượng, chúng tôi tiếp tục dẫn quân đi sâu vào lòng địch giữa ánh pháo sáng địch bắn liên tục ở bên kia sông thuộc vùng Lộc Hưng, Lộc Phong, Giao Thủy... Chúng tôi vẫn luồn sâu vào vùng địch đóng, màn đêm yên lặng lạ thường, chúng tôi như nghe thấy cả hơi thở của đồng đội hồi hộp trước mục tiêu. Chốc chốc pháo sáng như chiếu rõ từng anh em đang nằm sát đất bò dần từng bước một hướng về phía trước - nơi Mỹ đang đóng quân. Còn cách địch khoảng 150m, tôi nghe tiếng Mỹ xì la xì lô tại khu vực mình cất giấu vũ khí.Thấy tình hình căng thẳng tôi cho anh em nằm tại chỗ chờ lệnh. Còn tôi, đồng chí Bảy và đồng chí Xi bám sát trận địa. Đồng chí Bảy đi trước không may bị gai móc vào áo nhùng nhằng, khi đồng chí đang loay hoay với bụi gai tôi vượt lên đi trước.

Tôi và đồng chí Xi lao về phía trước khoảng 30m thì gặp giao thông hào. Tôi nói với đồng chí Xi: “Tôi theo giao thông hào đi thám thính trước, anh đi sau chờ thằng Bảy, tình hình thuận lợi tôi sẽ quay lại đón anh em”.Men theo giao thông hào tôi tiến về phía trước, đến một chạc ba (nơi giao thông hào chia làm 3 nhánh) bất ngờ gặp thẳng Mỹ phục kích chờ sẵn đó. Dưới ánh pháo lúc tỏ, lúc mờ thình lình thẳng Mỹ xông lại chụp cánh tay trái tôi, lúc đó tinh thần hoàn toàn bất ngờ thì tôi phản ứng một cách vô thức mà thần diệu: nó vừa chụp vào thì tôi rúc luôn qua nách nó, tông nó ngã và rượt chạy. Khi tung mình nhảy vọt qua chiến hào thì tôi nghe một loạt đạn nổ ngay bên tai, tôi tưởng tên Mỹ bắn theo liền nhào lăn xuống vực sâu và tiếp tục chạy vào bụi rậm. Ở trong bụi rậm kiểm tra lại súng tôi mới vỡ lẽ rằng loạt đạn khi nãy không phải tên Mỹ bắn mà do cây súng cải tiến trong tay tôi bị lướt cò. Ngay sau đó địch tập trung hỏa lực bắn về hướng có tiếng súng nổ khi nãy, tôi liền đổi hướng chạy vào bãi bắp và nấp ở đây.Trong lúc tôi bị bao vây, đồng chí Bảy và đồng chí Xi chạy ra cho rút quân an toàn. Ngồi trong bãi bắp, tôi thấy một đoàn xe bọc thép ra án ngữ triền sông Thu Bồn, cách chỗ tôi trốn không xa. Đang suy nghĩ tìm kế sách thoát thân, thì địch hành quân tiến về phía trước, tôi lùi lại đi sau lưng địch, bám ra đến bờ sông thì đã 3 giờ sáng. Đúm cây súng, chiếc áo vào bao ny-lông tôi bơi qua sông, chân vừa chạm đất thì địch phát hiện bắn theo tấp nập, tôi nhanh chóng lăn qua đường mương nước rồi bò vào lũy tre làng gặp đường giao thông hào của ta. Ngồi thở hinh hịch, tim đập phình phịch, chân run lập cập, đạn bên kia sông bắn về phía tôi rào rào như mưa rừng. Bỗng dưng máu nóng trong tôi trỗi dậy, tôi thu tay chọi mạnh vào đầu gối của mình rồi hét lên: “Con cật tau!”. Chửi thề câu ấy xong tôi thấy sướng, không còn run sợ gì cả.Khi chưa nghe súng nổ thì ai cũng tưởng tôi đã hy sinh, nhiều đồng chí khóc nhưng khi nghe súng địch bắn liên hồi thì đồng chí Tửu cười khúc khích nói: “Thằng Tân không chết đâu, hắn là thằng đạn chê, bom hờn!”. Khi tôi trở về đơn vị, ai nhìn tôi cũng kinh hoàng, tưởng người về từ... cõi chết!”.

Đến tháng 10 âm lịch năm 1967 đơn vị tập trung về cứ chỉnh huấn chuẩn bị cho Tổng tiến công xuân 68. Học xong lớp chỉnh huấn các phân xưởng, phân đội kiểm tra vũ khí và vật liệu báo gấp cho thủ trưởng kịp thời báo về trên.Phân xưởng hóa chất báo:Thiếu axit, thiết hàn, sơn, hắc ín, nhựa thông, đèn sáp ... chỉ còn tồn kho sản xuất được 2/10 so với yêu cầu.Đồng chí Lê Quánh xưởng trưởng vừa nghe thì dậm chân: "Trời ơi! Chết tôi rồi! Vũ khí là sự sống còn, là vận mệnh của đất nước, các đồng chí có hiểu không? Những vật liệu chúng ta đang thiếu chỉ có ở Đà Nẵng, các đồng chí, làm sao vận chuyển về?”.Đồng chí Tôn Thất Nga chính trị viên đề nghị: "Thôi anh ạ, bây giờ chúng ta họp Chi ủy mở rộng lấy ý kiến tập thể quyết định".

Sau khi họp Chi ủy xong, đồng chí Quánh và đồng chí Nga phổ biến tình hình bão lụt và tình hình hiện nay địch đang đổ quân Đèo Le, Kiểm Lâm, Nông Bà Tình, Giao Thủy, Ái Nghĩa... Về yêu cầu cần kịp sản xuất vũ khí chuẩn bị cho Tết Mậu Thân, đồng chí Quánh động viên tinh thần tự giác xung phong của anh em, nhưng chưa thấy ai xung phong gì cả bởi chưa ai hình dung được cách vượt qua vòng vây địch từ Đại Lộc đến Điện Bàn ra Đà Nẵng gom hàng và chuyển hàng về căn cứ! Mọi người bàn tán xôn xao, tôi thì ngồi lặng im cau mày bóp tay vào trán suy nghĩ, đồng chí Quánh gọi tôi hỏi: - Đồng chí Tân, sao anh em ai cũng bàn cãi còn đồng chí ngồi im như thế? - Dạ, tôi đang suy nghĩ tìm kế sách ạ! - Kế sách gì tìm được chưa? - Chắc chắn được vì vận mệnh đất nước đang kêu gọi chúng ta lúc này hơn lúc nào hết, tất cả mọi người phải tiến lên! Xin đồng chí cho tôi nhận nhiệm vụ này!

Suy nghĩ một lát đồng chí Quánh nói “Được!”, Chính trị viên tiếp lời: - "Đảng tin tưởng đồng chí, tôi mong đồng chí sớm trở thành một đảng viên chính thức, một đảng viên ưu tú của Đảng, một Đảng viên luôn tiến lên khi Đảng cần vì vận mệnh Tổ quốc, một Tổ quốc đang bị giày xéo, bị chà đạp. Bọn chúng cướp của chúng ta hết tất cả, bây giờ Đảng kêu gọi chúng ta lúc này hơn lúc nào hết, chúng ta phải lấy lại, giành lại những gì chúng ta đã mất".

Đồng chí Quánh tiếp lời: "Bây giờ đồng chí Tân trình bày kế sách và đề nghị gì?". Tôi nói: "Đề nghị đồng chí Huỳnh Văn Trừ cùng đi với tôi", đồng chí Quánh đồng ý và hỏi tôi về tình hình địch như thế nào, đi về Đà Nẵng mua, vận chuyển vật liệu bằng cách nào, đường nào? Tôi quyết đoán: "Đi bằng đường thủy!". Đồng chí nói: "Ghe đâu, nước sông Thu Bồn ngày càng dâng cao làm sao đi?". Tôi trả lời: "Bằng hai khúc chuối kẹp nách và lấy sợi dây dù cột Bèo Nhật Bản chụm lại chung quanh, lúc đó tôi sẽ ở giữa đám bèo trôi theo dòng nước...".

Mọi việc bàn tính, chuẩn bị đã xong, hai chúng tôi bắt tay chào anh chị em đơn vị từng người rồi lên đường. Biết công việc hết sức nguy hiểm, nhưng tôi không chút lo sợ, chỉ tiếc giá như anh Bảy, Xi, Tửu mà không bị ốm lúc này cùng đi với mình thì tốt biết mấy. Hai chúng tôi im lặng bước đi, mỗi người như có những dòng suy nghĩ rất riêng tư. Đồng chí Trừ chạy tới vỗ vai tôi hỏi: "Suy nghĩ gì rứa mi", tôi giật mình nói: "À, lúc này anh em mình về đến xã Hòa Hải của mình mới liên hệ được mua các mặt hàng này, lúc này nhớ quê chi lạ!". Anh Trừ tỏ ra rất mừng: "Như thế mi với tay có thể tranh thủ về thăm nhà được rồi". Tôi trả lời: "Không được đâu mày, lúc này là lúc thi hành mệnh lệnh, khắt khe hơn lúc nào hết, về thăm nhà lỡ sơ suất việc gì thì hỏng chuyện lớn...".

Tôi và anh Trừ cùng kết nạp Đảng một lần, ảnh lớn hơn tôi 5 đến 7 tuổi, tuy chức tôi trên ảnh nhưng sống với nhau như tri kỷ. Biết bao nhiêu thử thách cùng chịu đựng, biết bao nhiêu gian khổ từng nếm qua, nay 2 chúng tôi bước vào đợt thử thách mới đầy cam go, những khó khăn ấy vượt rất xa so với tài trí của chúng tôi, nhưng tuyệt đối không được chủ quan liều mạng. Tôi nghĩ không phải lấy cái chết để nói lên tinh thần dũng cảm, mà phải quan niệm rằng sự hy sinh đó có cao cả, có dũng cảm hay không. Liều mạng chết là chết vô ích. Cái chết đối với hai chúng tôi trong giờ khắc này nhẹ như lông hồng.

Xuống đến Gò Đu ở Lộc Thành pháo từ An Hòa bắn qua chi chít, không may anh Trừ trúng đạn nhưng bị thương nhẹ cánh tay. Vừa ngớt pháo thì 2 chiếc máy bay H-U-T-A quần qua, quần lại mãi, bắn xối xả vây 2 chúng tôi vào thế vòng tròn, tưởng chừng như bắt sống chúng tôi. Tôi băng xong vết thương cho anh Trừ rồi tôi cởi áo ra, anh Trừ hỏi: "Chú mi cởi áo làm gì?" Tôi nói: "Đánh lừa máy bay, nếu không thì chết! Bây giờ tôi bò lại cây cành rành đằng kia, tôi phủ chiếc áo lên và đội chiếc mũ giả làm người, anh nằm đây xem máy bay đổi hướng là lủi đi thật nhanh nghe chưa". Bò qua bụi cành rành tôi nhanh chóng làm một “hình nhân” như thật. Đúng như dự đoán, 2 chiếc máy bay quần ngược, quần xuôi thay nhau bắn xối xả vào “hình nhân”, còn anh em tôi thoát khỏi trận địa an toàn.Xuống đến Quảng Đại - Lộc Phước trời vừa chập choạng tối, chúng tôi vào nhà bác Kiểm (mẹ đồng chí Tửu) ở lại, vết thương anh Trừ bị mưa thấm ướt nên trở chứng phát sốt, thế là khó khăn đang đè nặng lên chúng tôi. Lẽ ra nên đi 3 người thì hay biết mấy. Bây giờ vết thương anh Trừ không biết diễn biến ra sao, chắc anh không đi được. Chỉ còn lại một mình lúc khó khăn hoạn nạn lấy ai mà bàn mưu tính kế, lấy ai mà nương nhau lúc nguy hiểm. Tôi tâm niệm “không được chùn bước”, tôi ra sau vườn Bác Kiểm đốn 2 khúc chuối chát to vác ra bờ sông, tôi đi dọc bờ sông lấy bèo Nhật Bản kết lại thành chùm. Trong đêm, tôi ôm 2 khúc chuối vào nách, chui mình vào giữa đám bèo bơi thử. Xong xuôi đâu đấy, khoảng 3 giờ sáng tôi vào nhà ăn cơm, anh Trừ phát sốt nóng ran cả người không ăn uống gì được, tôi lựa lời nói với bác Kiểm: “Bác ơi, tình thế nguy nan này, bác cho tôi gửi anh Trừ ở lại, bác giúp chăm sóc ảnh và tìm cách báo cho đơn vị biết". Tôi ra bến sông, bác Kiểm lủi thủi theo sau, tôi nhìn lại thấy bác, tôi nói: "Vào đi". Bác chần chừ không muốn vào, tôi nói tiếp: "Vào để cháu đi, trời gần sáng rồi bác ạ, đã 4 giờ rồi nè". Thật ra tâm lý bác cũng muốn tận mắt nhìn, bác thấy tôi lụi cụi chuẩn bị thì nước mắt lại rơi, tiếng nói lại nghẹn ngào không ra tiếng.

Còn tôi cũng không muốn để bác thấy khi mình đắm mình xuống dòng nước cuốn trôi. Bác quay lưng ngoảnh mặt lại nói: "Ông bà, cô bác, trời đất phù hộ con đi mạnh khỏe rồi về với mẹ nhé!". Tôi “dạ” thật to rồi kẹp hai khúc chuối vào nách, phủ lên người đám bèo, đạp mạnh chân trôi ra một đoạn thì bị dòng nước xoáy cứ quay tròn như muốn nhận chìm tôi xuống. Tôi nương theo dòng xoáy tiếp tục bơi đi. Trời bắt đầu sáng. Tôi ngước mặt lên nhìn thấy cầu Giao Thủy, nhìn xuống mặt nước thì thấy một rừng bèo lớp trước, lớp sau đan chen nhau chờ đợi qua phao. Lúc này tôi thấy tôi cũng như bao dải bèo kia đang chờ đợi, nghỉ xả hơi để qua cầu. Tôi ngước đầu lên nhìn, thấy mình trôi gần đến hàng phao chắn bảo vệ cầu, tôi liền ôm lệch khúc chuối nổi về sau và co 2 chân lấy sức rút gân, nín thở, cúi đầu rúc xuống dưới hàng phao, đám bèo cũng chen chúc đi theo một ít. Tôi vừa thở phào nhẹ nhõm bỗng hồi chuông báo động chát chói vang lên, lính Mỹ gác hai bên đầu cầu la to “Vi-Xi, Vi-Xi” rồi chăm chăm bắn tới tấp vào đám bèo, nhưng sao tôi lại không sợ mới lạ chứ? Mà nghĩ cho cùng có gì phải sợ khi mình đã xác định rõ mục tiêu! Trong lúc này tôi chỉ nghĩ là phải hoàn thành nhiệm vụ, giữ vững niềm tin của Đảng đối với mình. Nhờ niềm tin ấy, bao nhiêu đạn bọn lính bắn xối xả xuống sông, tan tành các đám bèo, nhưng riêng tôi thì “đạn chê không thèm” nên tôi cứ trôi theo dòng sông nương về thành phố. Trên đường đi phải vượt qua cầu Vĩnh Điện và bao nguy hiểm khác trên đường, nhưng sự may mắn luôn mỉm cười và tôi về được xã Điện Nam - Điện Bàn.

Tại Điện Nam, tôi liên hệ với cơ sở cách mạng và các đồng chí lãnh đạo Đảng ủy. Sau khi biết rõ nhiệm vụ quan trọng cấp trên giao chuẩn bị cho Tổng tiến công mùa xuân 1968, các đồng chí Đảng ủy chọn 15 người là đảng viên, đoàn viên ưu tú và du kích lo việc chuyển hàng, rồi đồng chí Bí thư Đảng ủy dẫn tôi đến gặp một người chuyên buôn bán từ Đà Nẵng đến Điện Nam. Tôi xác định đây là người có thể làm đường dây mua hàng từ Đà Nẵng về rất an toàn, dễ qua mắt được sự kiểm tra của địch, nhưng gia đình chị này thành phần không được tốt lắm vì cả gia đình, chồng con đã bỏ ra Đà Nẵng sinh sống. Đồng chí Bí thư phải đích thân dẫn tôi đi tới nhà chị vừa trao đổi tình cảm, động viên thuyết phục vừa có ý răn đe. Điều may mắn là chị ấy sau khi nghe chúng tôi trình bày đã nhận lời ngay. Chị nói: “Dạ, em sẽ cố gắng góp phần cho cách mạng mà các anh không hiểu cho em sao?”

Đồng chí Bí thư trả lời: "Hiểu chứ, tin chứ, không hiểu không tin làm sao tới đây nhờ chị, đây là công việc cách mạng phân công cho chị, chị phải tuyệt đối giữ bí mật”. Như thế là tôi dừng lại ở Điện Nam gom hàng chứ không về Hòa Hải nữa.

Ba ngày sau, số hàng chị ấy đã mua về đầy đủ và các đồng chí Trà, Trúc, Nghiên, cả xã đội trưởng và chính trị viên xã đội dẫn 15 dân công đến giao cho tôi, tôi đề nghị các đồng chí đó cho du kích bám đường để đoàn chúng tôi qua đường số 1 khi trời vừa chập choạng tối chứ đi trễ thì địch sẽ phục kích.

Đoàn chúng tôi chọn phương án đi bộ, qua những con đường an toàn do giao liên dẫn đường để về căn cứ. Đến chợ La Tháp - Xuyên Hòa tôi tìm giao liên và hỏi dân chúng tình hình địch ở Kiểm Lâm và Nông Bà Tình, lúc đó lại gặp 3 đồng chí trinh sát R20 cùng đi. Một người dân cho biết: “Vào lúc 1 giờ chiều nó (tức địch) từ Kiểm Lâm dẫn 1 trung đội qua Nông Bà Tình, nhưng bây giờ nó rút rồi, chúng tôi đếm từng thằng nó về hết rồi”.

Thế là chúng tôi yên tâm đi nhưng trong tôi có gì cảm thấy lo lo, dặn dò mọi người cảnh giác không được chủ quan.

Đoàn dân công vừa qua chưa khỏi sườn đồi thì bất thình lình súng nổ, 3 trinh sát đánh trả, còn tôi cũng bắn bần bần mấy phát ngắn, rồi chạy ngược lại sau hô to: "Tiến nhanh lên, không được ai lùi, lùi là chết!". Vừa bắn trả vừa gùi hàng cắt đường chạy, rất may trong đoàn chỉ bị thương nhẹ 4 người, trong đó có tôi cũng mang một vết sẹo ở trán. Người dân ấy nói không sai, Mỹ đi lên một trung đội đã về một trung đội, nhưng ngờ đâu đó là Trung đội Mỹ “cõng”. Nó lợi dụng trời mưa nó đi 1 trung đội, cõng thêm 1 trung đội nữa, khi nó về cũng đủ 1 trung đội, còn 1 trung đội nằm lại phục kích. Dù bị Mỹ phục kích, nhưng với ý chí quyết tâm vì ngày mai chiến thắng, vì mùa xuân 1968 chúng tôi đã vượt qua mọi gian nguy đem về cho đơn vị đủ số hàng cần thiết để sản xuất vũ khí. Chiến công của tôi cũng như bao đồng đội quân giới khác rất thầm lặng nhưng không kém phần hào hùng trong công cuộc giải phóng đất nước, quê hương, làm nên mùa xuân 1968 rực rỡ trong lịch sử dân tộc.Sau chiến công này, tôi được lệnh điều động về làm trợ lý quân giới 70C. Ngày 25 tháng 12 năm 1967 âm lịch, tôi xuống kiểm tra tình hình sản xuất vũ khí xưởng 74 tại Gò Nổi. Trong lúc đang ngồi làm việc với các đồng chí tổ hóa chất thì 2 chiếc F4 bay rất sát gầm thét, tôi nói “đề phòng cắn trộm nhé”, nó lượn lại 2 vòng nữa sát hơn, tôi bảo: “Anh em xuống hầm Chim đi”, anh em xuống hết còn tôi ở hầm nổi vừa nhón chân theo sau chợt nghe tiếng cắt bom của máy bay và tôi không còn biết gì nữa, sau khoảng 20 phút tỉnh dậy thì nhìn thấy máu miệng trào ra, sờ lên tai cũng có máu và lúc đó cũng không nghe thấy gì cả, tôi cố bò khoảng 15m nữa, nằm đó 10 phút.

Sau khi tỉnh lại, nhìn xuống bụng thì chả thấy quần đùi lại tự thẹn thùng nhìn quanh thấy hàng chuối trơ trụi không có lá lành, tôi cố sức đè xuống một cây dùng răng cắn lấy lá non, lột ra để che, nhưng lá quá non lột ra chừng nào rách chừng ấy. Tiếp tục lột bẹ chuối, sẵn có mảnh bom gần đó tôi lấy cắt từng miếng rồi khâu lại quanh người làm như cái khố của dân tộc, rồi chạy vào tổ Hóa thứ hai. Đồng chí Thê, Mai, Hậu, Quý chạy ra thấy tôi mặc khố bụm miệng cười rơi nước mắt, rồi hối nhau vào lấy một cái quần đen alia ra cho tôi mặc vào. Các đồng chí đó băng bó xong, tôi chạy lại chỗ cũ xem tình hình anh em ra sao. Đến nơi thấy anh em đang cặm cụi đào tìm, đồng chí Tửu nhìn thấy tôi, chửi liền: "Ông nội mày, thằng đạn chê bom sợ hành anh em tao đào tìm xác mi muốn chết - tìm đến ngoài cách xa 20m chỉ thấy vũng máu chứ không thấy mày. Thôi đem mấy gói mỳ ông Phật và hộp cá ra nấu tế sống thằng đạn chê bom sợ đi”.

Đơn vị của tôi là đơn vị sản xuất vũ khí phục vụ chiến đấu, nên thời gian chuẩn bị cho Tổng tiến công nổi dậy mùa Xuân 68 mất gần 7 - 8 tháng trước đó. Mùa xuân 1968, đơn vị chúng tôi không trực tiếp cầm súng tiến về Đà Nẵng, nhưng những chiến công của đồng đội đều có máu thịt của anh em quân giới - những người chế tạo vũ khí phục vụ chiến trường trong giai đoạn gieo neo nhất của lịch sử.

Bây giờ tôi nhớ lại những chuyện thực tế mình đã tự làm, đã vượt qua mà chính mình cũng không tin mình đã làm được như thế. Nhưng đó là sự thật, sự thật ấy bây giờ kể lại nghe như huyền thoại...

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn