Dạo tháng 3 năm 1965 mình đang phụ trách quyền tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 3 bộ binh. Tiểu đoàn đóng quân ở xã Nghi Thủy huyện Nghi Lộc tỉnh Nghệ An. Tiểu đoàn nằm trong đội hình lữ đoàn 324, là một trong những đơn vị phòng thủ từ bờ biển Cửa Lò đến Cửa Hội. Lúc này Mỹ đã hai lần ném bom thành phố Vinh. Ta sẵn sàng đập tan âm mưu bọn gây chiến nếu chúng liều lĩnh xua quân ra miền Bắc.
Một ngày đầu tháng 4 năm 1965, lúc 9 giờ sáng một trợ lý cán bộ lữ đoàn đến gặp mình. Anh ta bảo bàn giao mọi công việc cho các anh còn lại trong Ban chỉ huy. Sáng mai sẽ đi Diễn Châu đón nhận một tiểu đoàn mới của Bộ từ Thanh Hóa vào bổ sung cho Quân Khu 4.
Việc bàn giao mình chỉ mất nửa tiếng đồng hồ.
16 giờ 30 cùng ngày, Phòng Chính trị lữ đoàn mời mình lên. Sở chỉ huy phía trước của lữ đoàn cùng đóng trong huyện. Chỗ mình đến đó 35 phút xe đạp. Vừa thấy bóng mình đồng chí phó Chủ nhiệm Chính trị chạy ra cổng đón. Không đưa mình vào nhà, ông đi ngay vào câu chuyện không úp mở. Ông nói: “Một tiểu đoàn bộ binh của Quân Khu sắp lên đường đi B. Thế mà đồng chí tiểu đoàn phó xin đi phép đã quá hạn nhiều ngày đến nay chưa về. Không thể đợi. Bộ Tư lệnh quyết định lên đường. Phải có người thay. Cục Chính trị Quân Khu cân nhắc đi đến quyết định người thay là đồng chí”. Ông nhìn thẳng vào mắt mình có lẽ để thăm dò phản ứng của mình ra sao, mình thản nhiên: “Vâng, còn gì xin đồng chí nói tiếp”. Hình như để lên dây cót tinh thần mình, ông đem bài học vỡ lòng của công tác chính trị ra động viên. Nào là trên thấy đồng chí chiến sĩ thi đua lữ đoàn và cả Quân Khu, từng vinh dự là một trong hai đại đội trưởng của đơn vị mà Quân Khu tặng danh hiệu cao quý “Ba nhất”... Rồi ông nói gì gì lắm thứ làm mình bắt thẹn nóng bừng cả mặt buộc phải ngắt lời ông. Nghe ông nói tuy đầu óc mình đang lùng bùng nhưng vẫn có nụ cười mỉa vì những điều đó với mình đều là “ấu trĩ”. Đem nói với các chàng lính mới thì được. Thế sao không nói ngay từ sáng? Bày chi trò “bàn giao đi nhận quân ở Diễn Châu”. Lừa nhau làm gì thế. Đấy là thủ pháp của công tác chính trị ư?
- Đủ rồi thưa đồng chí phó Chủ nhiệm. Xin đồng chí cho biết lúc nào lên đường?
Ông không đi ngay vào vấn đề mình hỏi mà hỏi lại:
- Sao, đồng chí thấy nhiệm vụ trên giao thế nào?
- Tôi sinh trưởng ở miền Nam. Là bộ đội miền Nam tập kết. Từ lâu tôi ước nguyện được trở về chiến đấu cùng đồng chí đồng bào để giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ Quốc. Đây là nghĩa vụ là vinh dự cho tôi.
Nghe mình nói ông tỏ vẻ hài lòng gật đầu, tiếp lời mình:
- Tiểu đoàn đồng chí sắp về là tiểu đoàn bộ binh 2. Trước kia nó vốn là tiểu đoàn 86 trung đoàn 812 Cực nam Trung Bộ thời kháng Pháp. Vả lại đồng chí vốn sinh trưởng ở tiểu đoàn này. Đồng chí tiểu đoàn trưởng hiện nay cũng vốn từ tiểu đoàn 86. Sức khỏe của đồng chí ấy không trụ được lâu. Trên đường đồng chí về đấy có dụng ý vì là người cũ xuất thân từ tiểu đoàn. Nay mai thay thế đồng chí tiểu đoàn trưởng.
Nhìn thấy trời sắp tối mình hỏi lại:
- Thưa đồng chí phó Chủ nhiệm bao giờ lên đường?
- Sáng mai. Mình chưng hửng. Lần này quá đổi bất ngờ. Cố làm ra vẻ tự nhiên không để lộ sự bối rối ra mặt, mình lập lại hai từ “sáng mai” như kẻ vô hồn.
Ông tiếp: “Sáng mai, 6 giờ đồng chí có mặt. Đơn vị đang tập kết tại khu nhà đối diện Bộ Tư lệnh Quân khu gần Bến Thủy. Đồng chí đến đúng thời gian kịp họp Đảng ủy. Đồng chí có chân trong thường vụ Tiểu đoàn ủy. 10 giờ bộ đội lên đường.
Cái đưa tay của ông cho mình bắt xem như kết thúc câu chuyện.
Chuyên về Nam với mình là điều mong đợi từ lâu. Đầu năm 1959 nghe phong phanh trên tổ chức từng đoàn cán bộ bí mật đi B, mình đề đạt nguyện vọng. Hai lần đi kiểm tra sức khỏe, cả hai lần quân y kết luận phổi và dạ dày có vấn đề. Không được như ý nguyện mình quyết định lấy vợ. Đến tuổi hăm chín rồi mà.Giờ được tin tuy đột ngột nhưng không quá ngạc nhiên vì đó là điều mong đợi. Cái làm mình sững sờ là ngày lên đường sát đít. Mình biết mỗi đoàn trước khi vào chiến trường đều được tổ chức giải quyết mọi quyền lợi rất đầy đủ từ đề bạt không căn cứ niên hạn, việc khen thưởng đến chính sách hậu phương cán bộ nếu có gia đình... Ra đi ai cũng yên tâm. Mọi người đều được tập trung từ hai đến ba tháng bồi dưỡng ăn uống thuốc men với tiêu chuẩn rất cao. Có thế mới đủ sức vượt Trường Sơn chứ. Còn mình báo chiều hôm trước sáng hôm sau đi. Quá đổi bất ngờ chỗ này. Có thể có trường hợp anh tiểu đoàn phó nào đó đến phút cuối biến thành “con cua bò lùi” thật. À, nhân đây có câu chuyện này mình kể mấy cậu nghe:
Mình biết có một ông chính trị viên tiểu đoàn. Mấy năm trước mình còn là đại đội trưởng dưới quyền ông. Ông ở bên khu 5 tập kết có cả vợ con cùng theo. Ông đúng là một nhà có tài ăn nói. Không có cuộc họp, hội nghị nào mà không tràn ngập cả hội trường giọng Quảng sang sảng của ông phân tích hàng giờ không mệt về quan điểm lập trường giai cấp. Chuyện nho nhỏ như anh đi về trễ phép vài giờ đến một buổi trở thành đề tài cho ông thao thao bất tuyệt trong các cuộc họp. Hồi cuối năm 1958, mình tốt nghiệp khóa bổ túc trường Sĩ quan lục quân khóa 10 tại Hà Nội về nhận công tác tiểu đoàn ông. Tính mình lúc ấy ít nói, phần vì đơn vị mới không quen ai, phần có chút tự ti nên mình rất dè dặt với lời ăn tiếng nói. Chỉ thế cũng trở thành chuyện ông đem ra thuyết trình về “một con người trầm trầm khó hiểu!”. Không phải ông nói đùa lúc ấy, mà là nguyên văn nhận xét trong báo cáo thường kỳ gửi lên cấp trên.
Có lần ông hô hào trong đại hội Đảng: “Các đồng chí, chúng ta phải luôn luôn nghĩ rằng mình là người cộng sản. Vậy mỗi người trong chúng ta phải luôn luôn cắm là cờ cộng sản vào trái tim mình”. Những điều ông nói đều đúng không ai bắt bẻ được.
Khi biên chế sư đoàn thành lữ đoàn, ông đi mình vẫn ở tiểu đoàn. Sau đó mình nghe anh em tin lại cho mình biết khi ông nhận nhiệm vụ trở về Nam chiến đấu không hiểu sao bệnh tâm thần của ông bột phát đột ngột.
Chuyện kiểu này không nhiều, cá biệt thôi.
Vì đột xuất nên không có thời gian cho mình chuẩn bị. Mình đợi xem ông phó chủ nhiệm nói gì về chính sách hậu phương. “Một ra đi là không trở về”, một câu trong bài hát mình học của các anh vệ quốc đoàn Nam tiến năm 1945. Dĩ nhiên đi ắt có về. Về nhiều hay ít chưa biết. Đánh giặc chứ đâu diễu binh đi bao nhiêu về bấy nhiêu.
Ông ta đột ngột báo: “Sáng mai đồng chí đi chiến trường”. Giống như ông ta bảo: “Sáng mai cậu ra chợ Vinh đến hiệu phở mình đãi cho một chầu”. Đi chiến trường đánh giặc với chuyện ăn phở ông ta đánh đồng như nhau. Giản đơn thế là cùng. Ông quay lưng, mọi việc chỉ còn một đêm tự mình lo liệu.
Văn hỏi cắt ngang:
- Lúc đó thủ trưởng đã sinh em chưa?
- Có rồi chứ - Tôi đáp lời Văn - Một gái một trai. Đứa gái đầu hơn 3 tuổi, thằng em mới sinh hơn 3 tháng. Lại phải gồng gánh tản cư khỏi thành phố. Gạo đong từng bữa. Nợ nước tình nhà nghe qua như đề tựa kịch bản cải lương. Thế mà là chuyện thực nan giải đối với mình. Nợ nước làm trai phải trả, nhưng tình nhà ai gánh đây? Ông phó chủ nhiệm thay mặt tổ chức lại lờ đi. Ba tháng lương cấp hàm thượng úy tài vụ chưa có tiền phát. Bằng chừng ấy lương gửi tiết kiệm đang nằm trong két ngân hàng. Thà, giá như đầu năm 1959 chưa vợ chưa con bảo đi là đi ngay, chỉ cần 30 phút từ biệt đồng đội và bạn bè. Nhẹ tênh...
Lần này đến phiên cậu Thóc thắc mắc: “Lúc ấy thủ trưởng đã thượng úy, đến bây giờ vẫn thượng úy?”
- Thế thì sao nào - Tôi trả lời Thóc. Mình được phong thượng úy đầu năm 1962 khi là chiến sĩ thi đua lữ đoàn và quân khu 4. Đến ngày đi B được 3 năm rưỡi chả thấy cấp trên động tĩnh gì theo chính sách vào chiến trường.
Mình làm đại đội trưởng cấp hàm thượng úy- Lên tham mưu trưởng, tiểu đoàn phó, tiểu đoàn trưởng, tham mưu trung đoàn, trở lại cái chức tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn các cậu đây vẫn thượng úy, chưa thấy ai chết vì chuyện này cả. Miệng nói thế chứ không ít cay đắng trong lòng. Tôi không giấu giếm điều này. Bởi lẽ trên đời nào ai dám chắc không có đầu óc địa vị. Thiếu gì những người đứng trên bục cao chót vót hô hào: “Các đồng chí hãy loại trừ cá nhân chủ nghĩa, đừng vì quyền lợi của riêng mình mà v.v..” trong khi chính họ lại tôn thờ chủ nghĩa cá nhân như tôn thờ một thứ tôn giáo.
Vướng mắc, có đấy. Tuy thế với tôi lúc này không hề bị chi phối vì cuộc chiến đấu một mất một còn đang diễn ra đây, cấp với chức không phải là lẽ sống của người chiến sĩ đang đứng trên tuyến lửa. Thực tình trong cuộc đấu tranh sinh tử này tôi nghĩ mình khó có thể tồn tại. Người có cấp hàm cao kẻ thấp cái chết đến với ai cũng như nhau. Đã là người lính trực tiếp xung trận, ranh giới giữa cái sống và sự chết rất mong manh. Nếu ôm cái “đầu óc địa vị” đó nó có thể làm lá bùa hộ mệnh thì cũng... ráng ôm. Tôi ghi nhớ tận đáy lòng câu nói giản dị của anh em trong lúc đánh giặc mà chỉ được ăn một ngày một lạng rưỡi gạo: “Mong sao chỉ được ăn no để đánh thắng giặc Mỹ chứ không mong làm tướng làm tá gì sau này”. Vì vậy hơi đâu mà ngồi đó so đo tính toán thiệt hơn. Tôi nói điều này cho Văn và Thóc biết. Tuy nhiên với chính sách “ba năm chưa hẳn là mau, mười năm chưa phải đã chậm” như ông SH lúc bấy giờ là Chủ nhiệm Tổng Cục chính trị từng tuyên bố chỉ làm hụt hẫng lớp cán bộ kế thừa. Khi nghe câu tuyên bố này nhiều cán bộ lúc ấy đặt dấu hỏi: Thế nào là mau, thế nào là chậm? Dù gì chính sách này chỉ thiệt cho quân đội. Quân đội ta cho là còn non trẻ, nhưng cán bộ các cấp thì lại già. Già không phải là già dặn mà già vì tuổi tác. Không ít cán bộ thời gian trong quân ngũ từ 20 đến 25 năm, đạt nhiều thành tích trong chiến đấu và xây dựng mà như gà què ăn quẩn cối xay vẫn mang hàm cấp úy. Một cấp và lần lượt giữ đến năm chức khối người như mình. Cũng như không ít người mang một cấp đến chín, mười năm. Có đồng chí vừa được thăng cấp, anh em đơn vị kéo đến chúc tụng đề nghị “say tiệc liên hoan”, anh cười ứng khẩu thành thơ từ chối khéo: “Chín năm chống gậy tìm sao, có chi vui sướng mà khao với mừng”. Từ đó đẻ ra câu: “Mười năm ngồi đó ngóng sao, hỏi thăm trung tướng Song Hào ở đâu? Hào rằng Hào nghĩ đã lâu. Chuyện kia như nước qua cầu mà thôi!” Rồi còn nhiều nữa những câu đại loại thế này râm rang chuyền miệng trong anh em cán bộ sơ cấp. Chứng tỏ có sự “bất mãn ngầm” ít nhiều gì đó. Nhưng nhìn ảnh Bác Hồ treo trên tường, đóng chặt trong tâm mỗi người tỏa sáng quá. Bác vĩ đại quá. Suốt đời Bác chỉ nghĩ đến dân đến nước. Có hề nghĩ chút gì đến đời riêng của Bác đâu! Giặc Mỹ còn đó đang giày xéo đồng bào miền Nam và quyết làm cho miền Bắc trở lại thời kỳ đồ đá... Vậy thì, hãy vứt bỏ mọi thứ vẩn vơ mà tập trung đánh Mỹ.
Tôi đang làm công tác tư tưởng cho Thóc và Văn mà cũng chính tự làm công tác tư tưởng cho tôi thì Văn chen vào:
- Em nghe nói điều này ít có trong tổ chức các quân đội trên thế giới nhất là quân đội các nước Xã Hội Chủ Nghĩa. Chắc là vì quân đội ta quá khiêm nhường.
Tôi ngắt lời Văn:
- Thôi, chuyện không phải của mình, lại cũng không nên phê phán. Chính sách đúng sai tất yếu hậu quả tốt xấu sau này sẽ rõ.
Văn bác lời tôi: “Thủ trưởng là chỉ huy quân sự mà. Nó chỉ thui chột cán bộ ta thôi”. Tôi rất ngạc nhiên, Văn là chiến sĩ tuổi lại rất trẻ sao lại có suy nghĩ già dặn đến thế.
Thóc cằn nhằn Văn: “Thôi đừng lý sự nữa Văn, để thủ trưởng nói tiếp nghe nào”.
Tôi kể tiếp:
Mình về đến tiểu đoàn bộ. Anh em nghe tin kéo đến chào từ biệt. Không ngờ chuyện tiền nong chỉ mươi phút anh em giải quyết xong cho mình. Đồng chí trợ lý tham mưu đưa ý kiến: “Ai có tiền tập trung lại đây tạm ứng cho thủ trưởng. Sổ lương sổ tiết kiệm thủ trưởng để lại ta sẽ lĩnh thanh toán cho anh em mình sau”. Thoáng chốc xấp tiền đặt ngay trước mặt làm mình vô cùng cảm kích thịnh tình anh em.
Đêm ấy trời không trăng sao, đầy mây. Thành phố Vinh chìm trong bóng đêm. Không một ánh lửa, một ánh sáng đèn. Dân chúng thực hiện di tản hết ra ngoại thành và các huyện lân cận. Hôm gia đình tản cư gặp lúc mình tranh thủ về phép ngày, chủ nhật. Nơi đóng quân về nhà không đến một giờ xe đạp. Cả nhà dắt díu nhau về xã Hưng Mỹ thuộc huyện Hưng Nguyên. Vợ quảy gánh, một đầu đứa con nhỏ trong nôi, đầu kia một đống nồi niêu chăn gối lỉnh kỉnh. Mình cõng đứa con gái trên lưng.
Đêm nay mình về lại Vinh. Cả thành phố vắng tanh vắng ngắt tối đen mịt mùng, thật buồn! Mình sắp phải chia tay nó. Vinh với mình nhiều gắn bó gần gũi thân thiết như nơi chôn nhau cắt rốn.
Vợ con mình ở chung với vợ chồng người anh trai cả cùng bốn cháu nhỏ. Tất cả 9 người sống trong ngôi nhà 3 gian nhỏ hẹp không tới 30 mét vuông. Nhà nền đất, mái lợp lá mía khô, vách phên tre. Tuy vậy rất ấm cúng, lúc nào cũng rộn tiếng reo cười trẻ thơ.
Lúc này tối om trống trơn, vắng lạnh. Tiếng côn trùng ri rỉ thật nao lòng. Mình ngã lưng trên chiếc giường ọp ẹp phủ đầy bụi cố tìm lại chút hơi hướng vợ con. Lát nữa mình sẽ xa nó, vĩnh viễn xa nó, xa mọi thứ vặt vãnh nghèo nàn thô thiển nhưng rất đỗi thân thương. Mình muốn nằm đây cho hết đêm nhưng không thể được, phải về ngay nơi con tản cư. Dắt chiếc xe đạp đi ngang nhà bà cô vợ, trong đêm tối mình cố chong mắt nhìn kỹ nhưng không thấy đâu. Thay vào đó một hố bom đìa sâu hoắm. Hơn một chục năn mình mới thấy lại hố bom. Thời đánh Pháp chưa mục kích những quả bom phá nào để lại cái hố to tướng như cái ao thế này.
Ra khỏi thành phố, đạp xe trên con đường nhỏ gập ghềnh những lỗ chân trâu song song sát cạnh đường tàu. Trời đổ mưa. Cơn mưa bất thần ập đến kéo theo cái lạnh tê cóng cả chân tay. Đường nhão nhoẹt trơn trợt. Đất sét từng bọn bám vào xích, vào lá chắn bùn làm bánh xe không quay được. Không cách nào khác bằng tháo balô ra khỏi xe đeo lên vai, vác cả xe dò dẫm từng bước, “Ừ, thường ngày tao cưỡi mày, bây giờ mày cưỡi tao thế mới công bằng chứ”. Mình lầu bầu với cái xe chết tiệt nó hành hạ mình đến khổ trong đêm tối như bưng giữa cơn mưa tầm tả. Nói thế, chứ cái xe mang tên “hữu nghị” này là cả gia tài của vợ chồng mình. Mình đã phải dành dụm từng hào trong số lương thượng uý ít ỏi hàng năm cùng số tiền tiết kiệm chắt chiu bằng sức lao động của vợ mới sắm được nó. Đi xa, nó là tài sản mình để lại cho vợ con với số tiền mặt anh em mới gom giúp lúc ban chiều.
Mấy lần trượt ngã sóng soài trên mặt đất, chiếc xe trên vai đập vào lưng đau ê ẩm. Dép tụt quai, mưa nặng hạt bắn rát cả mặt. Mình lò dò từng bước. Mười đầu ngón chân bấm sâu vào đất đau buốt kinh khủng.
Khuya lắm mới tìm được nhà bà Thanh nơi vợ con tạm lánh cư. Bà Thanh có người con trai đi bộ đội. Chỉ có bà và người con dâu ở nhà. Vì gia đình bộ đội như nhau mẹ con bà đối với vợ con mình rất ân cần vồn vã.
Mình đứng bên ngoài nhìn qua cửa bếp có ánh đèn mờ mờ hắt ra. Không hiểu sao lúc này vợ mình còn thức. Cô ấy ngồi trên tấm phản gỗ, lưng dựa gốc cột bế thằng con nhỏ trong lòng. Chị nó gối đầu lên đùi mẹ nằm co quắp. Văn chồm dậy cắt ngang:
- Thế cô lúc ấy bao nhiêu tuổi?
- Hăm bảy - Tôi đáp lại Văn.
Thóc lại cằn nhằn Văn:
- Để thủ trưởng kể, đừng cắt ngang - Văn.
Tôi kể tiếp:
- Vừa nghe tiếng mình khẽ gọi, vợ mình bừng mắt mừng rỡ nhưng không dám động mạnh sợ làm tỉnh giấc ngủ của con.
- Ôi anh về. Linh tính báo đêm nay anh về. Em không sao ngủ được, bế con ngồi đây đợi anh.
- Mình xót xa nhìn vợ nhìn con. Tôi nắm tay Văn:
- Cậu bảo lúc chia tay người yêu à mà là vợ hẳn hoi đấy chứ, cậu buồn muốn đứt ruột phải không? Mình cũng thế Văn ạ!
Lần này khóc không tự kềm khóc vụt hỏi: “Thế thủ trưởng cũng như ông Văn đấy à?”
- Ừ ai mà chẳng thế - Văn bốp chát lại - Thóc chưa vợ chưa con, chưa có một chút tình bỏ túi, nên không thấu hiểu hoàn cảnh bố con ta thủ trưởng nhỉ!
Văn triết lý: “Thủ trưởng như mọi người chứ phải “thánh” đâu. Người không tình cảm, không thương yêu lo lắng cho vợ con, sao lại yêu Tổ quốc được”,
Tôi đồng tình ý kiến Văn. Cậu ta được trớn làm tới:
- Này Thóc. Đầu năm tớ sút vào lưới cậu một bàn không gỡ đây nhé.
Thóc nín khe. Tôi tiếp tục kể:
Thấy thái độ cử chỉ mình không tự nhiên. Vợ mình hỏi: Có chuyện gì thế anh?
Không thể nào nói khác, mình báo cho cô ấy biết mọi việc. Cô ngồi đó im lìm lặng lẽ. Từng giọt nước từ hai khe mắt lăn dài trên má rơi vào trán vào mình đứa con nhỏ đang ngủ say trong lòng mẹ. Mỗi giọt lệ rơi như cái gì đó bóp chẹt trái tim mình. Mình thuộc một số tình khúc biệt ly, nhưng không bài hát nào nói hết nỗi niềm vợ chồng mình lúc này. Cả hai không dám đánh thức con. Chúng dậy sẽ ôm chặt lấy mình, liệu mình có đủ nghị lực rời khỏi chúng không?
- Vì nhiệm vụ anh cứ đi. Mong được Trời Phật độ trì. Em sẽ bằng mọi cách nuôi con đợi anh về.
Vợ mình chỉ nói được một câu ấy trong nghẹn ngào ngắt quãng.
Ngọn đèn dầu tù mù đặt trong cái hộp thiếc rọi chút ánh sáng lờ mờ qua khe hở hắt bóng chúng mình lên tấm vách gỗ lay động chập chờn.
Mưa nhẹ hạt. Gà trong xóm cất tiếng gáy.
Mình nhét vội vào balô chiếc áo sợi đan của con gái đôi tất chân của con trai và cả chiếc áo lụa màu gụ của vợ đem theo làm vật kỷ niệm bên mình. Những thứ này sẽ theo sát mình. Nhìn thấy chúng như nhìn thấy vợ con thân yêu. Đây - tôi vỗ vào balô - nó nằm trong này này
Văn lại hỏi: “Hình như thủ trưởng một hai lần gì đó trên đường về Nam lại được phép quay lại thăm nhà phải không?”
- Đúng thế - Tôi đáp: “Hai lần, một lần ở Hà Tĩnh và một lần vào Quảng Bình. Cả hai đều là phần thưởng đặc ân của trên đối với mình. Một lần hoàn thành nhiệm vụ huấn luyện đặc biệt. Một lần tự mình xây dựng phương án “Sư đoàn thực hiện phản kích quân địch vùng đồng bằng”. Phương án này được Bộ Tư lệnh sư đoàn đánh giá cao và được mang ra thực hành diễn tập tham mưu ba cấp trên thực địa dù rằng lúc đó mình ở cấp tiểu đoàn như bây giờ.
Thóc lật đồng hồ đeo trên tay tôi xem giờ rồi nói: còn khuya chưa sáng, Thủ trưởng kể tiếp phần thưởng quí giá được về thăm nhà. Một lần thôi cũng được.
Văn chồm dậy che chắn kín đáo nhúm lửa nấu nước pha trà. Cả ba chúng tôi ngồi sát bên nhau vừa thổi vừa nhấm nháp chén trà nóng bốc hơi. Uống chút trà vào, người càng tỉnh táo. Tôi tiếp tục kể về phần thưởng và một câu chuyện xảy ra trên đường về thăm nhà mà suốt đời tôi không quên. |