Anh hùng Lực lượng vũ trang

CHUYẾN HÀNH QUÂN LỊCH SỬ

“Chuyến hành quân lịch sử” kể về hành trình của chàng thanh niên Bùi Đình Chiến cùng hơn 300 đội viên Đội Thanh niên xung phong K53 từ miền Bắc vào chiến trường miền Nam năm 1965. Họ phải đi bộ gần hai tháng, chủ yếu hành quân vào ban đêm để tránh máy bay đánh phá. Đến chiến trường Trị Thiên, ông Chiến vừa làm giao liên, vận chuyển lương thực, đạn dược, vừa đưa thương binh trở về tuyến sau. Những mất mát trên đường hành quân, đặc biệt là sự hy sinh của người đồng đội tên Hưởng khi vượt sông Thạ

Quảng Ninh02/07/2026Phường An Sinh (Phường An Sinh)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Năm 1965, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn quyết liệt, Bùi Đình Chiến cũng như nhiều thanh niên miền Bắc mong muốn được trực tiếp tham gia chiến đấu. Ông đăng ký khám tuyển nghĩa vụ quân sự nhưng không đạt yêu cầu vì thân hình nhỏ bé, cân nặng khi ấy chỉ khoảng 39 kg.

Tưởng rằng nguyện vọng lên đường phải tạm gác lại, ông bất ngờ được Bí thư Đảng ủy xã đến nhà vận động tham gia một lực lượng đặc biệt do Trung ương Đoàn tổ chức. Đó là Đội Thanh niên xung phong K53, đơn vị quy tụ những thanh niên có tinh thần giác ngộ, sẵn sàng vào chiến trường miền Nam thực hiện nhiệm vụ.

Đội K53 được thành lập năm 1965, gồm 347 thanh niên tuổi mười tám, đôi mươi đến từ nhiều địa phương. Đây là đội thanh niên xung phong đặc biệt của Trung ương Đoàn được cử trực tiếp vào chiến trường miền Nam. Sau thời gian huấn luyện tập trung tại Hà Nội, ngày 16.8.1965, đơn vị chính thức lên đường.

Ông Chiến được xếp vào “Lớp Anh Trỗi 1”, mang tên Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi. Trước ngày xuất phát, các đội viên được huấn luyện cấp tốc về hành quân, vận chuyển, cứu thương và xử lý những tình huống có thể gặp trên đường vào chiến trường.

Cuộc hành quân không có xe chở quân hay những con đường thuận lợi. Hơn 300 con người phải đi bộ liên tục gần hai tháng, mang theo tư trang và những vật dụng cần thiết. Để hạn chế nguy cơ bị phát hiện, đoàn thực hiện phương châm đi vào ban đêm, nghỉ vào ban ngày.

Trong bóng tối của núi rừng, những người trẻ lần lượt vượt qua nhiều địa bàn. Ông Chiến không thể nhớ hết tên từng nơi đã đi qua, nhưng ông vẫn nhớ những bến phà tại Thanh Hóa và Quảng Bình thường xuyên bị máy bay đánh phá. Mỗi khi có tín hiệu báo động, đội hình phải nhanh chóng tìm nơi ẩn tránh rồi tiếp tục hành quân khi tình hình tạm yên.

Sau khi vượt sông Bến Hải, ông Chiến và đồng đội đặt chân tới chiến trường Quảng Trị. Họ được phân công phục vụ trên tuyến vận tải chiến lược 559 – đường Trường Sơn, tuyến đường giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc chi viện sức người và vật chất cho chiến trường miền Nam.

Công việc của những đội viên K53 vô cùng nặng nhọc. Khi đi vào phía nam, họ mang gạo, thuốc men, quân trang và các hòm hàng phục vụ chiến đấu. Khi quay về, họ thường cáng những chiến sĩ bị thương ra tuyến sau. Đường rừng dốc cao, trơn trượt; khí hậu khắc nghiệt và những trận đánh phá có thể xảy đến bất cứ lúc nào.

Một trong những kỷ niệm đau xót nhất của ông Chiến là lần đơn vị vượt sông Thạch Hãn trong mùa nước lớn. Dòng nước từ thượng nguồn đổ về mạnh, khiến việc qua sông vô cùng nguy hiểm. Đơn vị phải căng một sợi dây thừng từ bờ này sang bờ kia để từng người bám vào vượt qua.

Giữa lúc đội hình đang qua sông, dây thừng bất ngờ bị đứt. Người đồng đội tên Hưởng bị dòng nước cuốn đi và hy sinh. Điều khiến ông Chiến day dứt là người bạn ấy chưa kịp trực tiếp bước vào trận đánh nào. Mất mát trên đường hành quân giúp những đội viên trẻ hiểu rằng chiến tranh không chỉ có hiểm nguy nơi trận địa mà còn hiện diện trong từng bước chân, từng con sông và từng cung đường.

Dù đau thương, đơn vị vẫn phải tiếp tục nhiệm vụ. Mỗi người cố nén tình cảm riêng, động viên nhau tiến về phía trước. Đối với ông Chiến, tình đồng đội chính là sức mạnh giúp những con người còn rất trẻ vượt qua nỗi sợ hãi, sự mệt mỏi và những thiếu thốn kéo dài.

Cuối năm 1965, Đội K53 tham gia mở một tuyến giao liên và vận tải mới chạy song song với đường 559. Các đội viên phối hợp với cán bộ, du kích địa phương bảo vệ hành lang vận chuyển, tổ chức bến đò và đưa lực lượng qua sông. Một số đội viên làm giao liên, một số vận tải, trinh sát bảo vệ đường và khi cần thiết còn trực tiếp tham gia chiến đấu.

Năm 1967, chiến trường thiếu quân số, một bộ phận thanh niên xung phong, trong đó có ông Bùi Đình Chiến, được bổ sung vào Quân giải phóng. Ông trở thành chiến sĩ Trung đoàn 6, Quân khu Trị Thiên, đơn vị về sau được vinh danh là Trung đoàn Phú Xuân Anh hùng.

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968, ông cùng đơn vị chiến đấu liên tục 26 ngày đêm tại Huế. Điều kiện sinh hoạt hết sức thiếu thốn. Quần áo không đủ thay, nước sạch và thuốc chữa bệnh khan hiếm, nhiều chiến sĩ mắc các bệnh ngoài da. Tuy nhiên, họ vẫn bám đơn vị, giữ vững quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ.

Những đóng góp của ông Bùi Đình Chiến được ghi nhận trong bảng vàng truyền thống của trung đoàn. Ông cũng được trao tặng các huân chương, huy chương, trong đó có Huân chương Kháng chiến hạng ba.

Năm 1976, ông xuất ngũ trở về quê hương. Chiến tranh kết thúc nhưng ông không lựa chọn cuộc sống nghỉ ngơi. Ông từng làm Bí thư Chi bộ hơn mười năm, đảm nhiệm công việc của xóm, tham gia Ban Chấp hành Hội Cựu chiến binh và phụ trách Hội Cựu thanh niên xung phong tại địa phương.

Dù tuổi đã cao, ông vẫn tích cực tham gia các phong trào, giúp đỡ đồng đội và giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ. Với ông, việc phục vụ cộng đồng là cách tiếp tục trách nhiệm của một người từng được quê hương, đất nước nuôi dưỡng và rèn luyện.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn