Chuyện kể bên cầu Sông Thương
Chuyện kể bên cầu Sông Thương
Sông Thương hiền hòa đôi dòng trong đục đã quen thuộc với biết bao thế hệ người dân Bắc Giang. Cây cầu sắt bình dị nối đôi bờ từ lâu cũng đã trở thành biểu tượng của thành phố bên sông này. Nhưng thử hỏi, trong dòng người hối hả tấp nập qua lại liệu có bao nhiêu người biết rằng nơi đây đã có một thời oanh liệt, một thời máu lửa với biết bao người đã ngã xuống để giữ được cây cầu huyết mạch giao thông đã từng được coi là "Hàm Rồng thứ hai trên miền Bắc".
Mang nỗi băn khoăn này, tôi đến một vài trường phổ thông trên địa bàn thành phố Bắc Giang.
- Em có biết câu chuyện quân và dân Bắc Giang chiến đấu bảo vệ cầu Sông Thương trong những năm chống Mỹ cứu nước không?
Trước câu hỏi tưởng chừng đơn giản đó, các em học sinh cũng như các thầy, cô giáo đều cười và lắc đầu.
Vâng! Nhiều bạn trẻ hôm nay không biết được những câu chuyện đã cách xa gần 50 năm. Thế nhưng, với những người đã từng chiến đấu bảo vệ cầu Sông Thương và thị xã Bắc Giang ngày ấy, những câu chuyện đó là bài hùng ca không thể nào quên.
Từ cuốn nhật ký chiến trường…
Tại bảo tàng Bắc Giang, trong số những kỷ vật về một thời máu lửa, oanh liệt chống giặc Mỹ có cuốn nhật ký của ông Trịnh Đức Duy- nguyên trung đội trưởng Ra đa -Trung đoàn 216, thuộc sư đoàn phòng không Hà Bắc, nay là sư đoàn 365. Trong chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, trung đoàn 216 trực tiếp chiến đấu, bảo vệ cầu Phủ Lạng Thương (nay là cầu Bắc Giang, thường gọi là cầu Sông Thương). Cuốn nhật ký có hơn 70 trang miêu tả chi tiết diễn biến từng trận chiến đấu ác liệt, chứa đựng những tâm tư, tình cảm của người viết về chiếc cầu huyết mạch này. Hiển hiện lên qua những dòng chữ không chỉ là sự ác liệt của chiến tranh mà còn là lòng nhiệt huyết tuổi trẻ ở một người lính như Trịnh Đức Duy và của cả một thế hệ đã kinh qua cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước...
Cầu Sông Thương là trọng điểm đánh phá của máy bay Mỹ trong chiến tranh phá hoại miền Bắc từ năm 1965 đến năm 1972. Đây là cầu nối quan trọng nhất trên tuyến đường huyết mạch từ phía Bắc vào Hà Nội bằng cả đường bộ và đường sắt. Vũ khí, khí tài hạng nặng, xe tăng, tên lửa, pháo đạn, thuốc men và cả lương thực, thực phẩm từ các nước bạn bè XHCN của ta chuyển sang qua thị xã Bắc Giang chi viện cho chiến trường miền Nam và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Do vậy, cắt được cầu Sông Thương cũng là cắt được đường dạ dày đi khắp cơ thể, cắt được con đường huyết mạch, độc đạo quan trọng nhất từ cả phe XHCN, đặc biệt là Liên Xô, Trung Quốc sang nước ta. Nó không đơn thuần là con đường huyết mạch của Việt Nam mà là của cả một phe đối địch với Mỹ. Bởi vậy, cầu Sông Thương là điểm nóng bỏng thường xuyên, nhất là trong suốt hơn 800 ngày đêm của những năm 1965, 1966, 1967.
Bằng các loại máy bay siêu âm thế hệ mới nhất như F4, F105, F111 và sau này là pháo đài bay B52; các loại bom hiện đại như bom từ trường, bom bi, bom khoan…, giặc Mỹ dùng đủ mọi thủ đoạn xảo quyệt đánh phá cầu Sông Thương và cả những điểm khác của thị xã Bắc Giang. Có thời gian, chúng đánh cả ngày lẫn đêm, có ngày chúng đánh 3 đến 4 trận. Trong suốt 2 thời kỳ địch đánh phá ác liệt, thị xã Bắc Giang là một trong 5 thành phố, thị xã trên miền Bắc bị địch hủy diệt hoàn toàn. Nhiều người dân Bắc Giang thời ấy không thể quên hình ảnh tàn phá khốc liệt, tan hoang của bom đạn Mỹ… Nhưng cũng rất tự hào trước tinh thần lạc quan cách mạng của người dân thị xã.
Đáp trả sự hung bạo của bọn giặc trời, qua 2 cuộc chiến tranh phá hoại, gần 1 nghìn ngày đêm bão lửa, 18 máy bay Mỹ đã phải vùi thây nơi đây, nhiều phi công Mỹ bị bắt sống cúi đầu nhục nhã khuất phục trước ý chí ngoan cường của quân và dân Bắc Giang. Cầu Sông Thương vẫn nối nhịp đôi bờ, giữ vững huyết mạch giao thông đảm bảo cho những chuyến xe, những chuyến tàu chuyên chở hàng vạn tấn hàng hóa chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến. Nhà máy đạm Hà Bắc vẫn ổn định nhịp sản xuất phục vụ những cánh đồng 5 tấn.
Gần 50 năm đã qua, những dấu tích của bom đạn khốc liệt ngày ấy đã không còn, nhưng trong cuốn nhật ký đã sờn ố vì thời gian vẫn còn lưu giữ những chi tiết sinh động chứa đựng sự hào hùng, anh dũng hiện lên rất thật, rất rõ.
Trong nhật ký, ông Trịnh Đức Duy viết: "…Thị xã Bắc Giang ngày 1-5-1966. Trận chiến đấu thứ 7! Gần như là quy luật về thời gian địch xuất hiện đều dẫn xác vào khoảng từ 14 giờ đến 15 giờ… Chúng xuất hiện với tốc độ rất nhanh trên 250m/giây, bay qua Hà Nội, Đáp Cầu, Bắc Giang, ra biển. Các đơn vị đều nổ súng… Sáu trận đánh trước chúng đã phải bỏ lại xác máy bay mà cầu vẫn nguyên vẹn, sừng sững, hiên ngang như những chủ nhân của nó.”



