CHUYỆN KỂ BÊN DÒNG KÊNH PHÚ QUỚI
Chiều hôm ấy, chúng tôi tìm đến nhà bác Trần Văn Ký khi ánh nắng cuối ngày đang dần buông xuống bên dòng kênh nhỏ ở xã Phú Quới, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Căn nhà của bác nằm nép mình dưới những hàng dừa xanh mát, bình yên như chính con người của bác vậy.
ừa thấy khách đến, bác bước ra đón bằng nụ cười hiền hậu. Dáng bác giờ đã chậm hơn trước, mái tóc bạc gần hết nhưng giọng nói vẫn sang sảng và ấm áp. Sau vài câu hỏi thăm, bác rót trà rồi bắt đầu kể cho chúng tôi nghe về những năm tháng tuổi trẻ của mình – những năm tháng mà bác gọi là “không thể nào quên”.
Bác nói, hồi đó đất nước còn chiến tranh, khắp nơi đều là khói lửa. Khi vừa tròn hai mươi tám tuổi, bác quyết định rời quê hương để tham gia lực lượng Thanh niên xung phong.
“Ngày đi, má bác khóc dữ lắm,” bác cười buồn, “nhưng ai cũng hiểu lúc đó thanh niên phải đứng lên góp sức cho đất nước.”
Năm 1978, Tiểu đoàn 1 mang tên Nguyễn Văn Tiên được thành lập, sau này đổi thành Tiểu đoàn D1. Bác Trần Văn Ký là một trong những thanh niên đầu tiên của quê hương Phú Quới tình nguyện tham gia đơn vị.
Những năm đầu hoạt động, bác được điều về vùng Thường Phước, tỉnh Đồng Tháp. Theo lời bác kể, đó là nơi vô cùng khắc nghiệt. Mùa nắng thì cháy da, mùa mưa nước ngập khắp nơi.
Công việc mỗi ngày của họ là mở đường, đắp đê, vận chuyển lương thực và dựng căn cứ phục vụ chiến đấu. Ban ngày làm việc quần quật dưới nắng gắt, ban đêm lại thay phiên nhau canh gác.
“Có hôm đang làm thì máy bay địch bay tới,” bác kể rồi đưa tay mô tả tiếng bom nổ, “tụi bác nằm rạp xuống đất, chờ bom dứt rồi lại đứng dậy làm tiếp.”
Nghe bác kể, chúng tôi mới hình dung được sự gian khổ của lực lượng Thanh niên xung phong ngày ấy.
Bác nhớ nhất là những đêm hành quân xuyên rừng. Muỗi dày đặc, nhiều người bị sốt rét đến run người nhưng vẫn không ai bỏ vị trí.
“Lúc đó chỉ nghĩ đơn giản là ráng chịu cực để đất nước sớm hòa bình,” bác nói.
Rồi bác chậm lại khi kể về những người đồng đội đã hy sinh.
Có người hôm trước còn ngồi ăn cơm, cười nói với nhau, hôm sau đã mãi mãi nằm lại giữa chiến trường.
Nhắc đến đó, bác im lặng thật lâu.
Đôi mắt già nua nhìn xa xăm như đang nhớ về một khoảng thời gian rất cũ.
Đến tháng 7 năm 1979, bác tiếp tục được điều động sang Campuchia tham gia chiến dịch giải phóng Prey Veng.
Nơi đất bạn, cuộc sống còn khó khăn hơn nhiều. Thiếu thuốc men, thiếu lương thực, khí hậu khắc nghiệt khiến nhiều người kiệt sức.
Bác kể:
“Nhiều đêm nhớ quê dữ lắm, nhớ má, nhớ nhà… nhưng ai cũng động viên nhau cố gắng hoàn thành nhiệm vụ.”
Chính tại chiến trường Campuchia, bác đã chứng kiến nhiều đồng đội ngã xuống. Có những người tuổi đời còn rất trẻ.
“Đến giờ bác vẫn còn nhớ tên từng người…” bác nói nhỏ.
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, bác trở về quê hương vào dịp Tết năm 1979. Nhưng hòa bình lúc ấy vẫn còn nhiều khó khăn. Không nghỉ ngơi, bác tiếp tục tham gia công tác dân vận, giúp bà con khôi phục cuộc sống sau chiến tranh.
Sau đó, bác được điều động về Trà Vinh để cùng anh em khai hoang, phục hóa ruộng đồng, bảo vệ rừng và giúp dân ổn định cuộc sống.
“Chiến tranh thì góp sức đánh giặc, hòa bình thì góp sức dựng quê hương,” bác cười hiền.
Năm 1981, khi đơn vị giải thể, bác trở về quê nhà sinh sống. Dù không còn khoác áo Thanh niên xung phong, nhưng tinh thần cống hiến vẫn luôn còn nguyên trong bác.
Khi Nhà nước ban hành Nghị quyết 62, bác cùng đồng đội cũ đi tìm kiếm và quy tập hài cốt những người đã hy sinh năm xưa.
Bác kể:
“Mỗi lần tìm được một đồng đội, tụi bác mừng mà cũng đau lòng lắm…”
Giờ đây, ở xã Phú Quới chỉ còn khoảng mười bảy đến mười tám người đồng đội cũ của bác còn sống. Dù tuổi đã cao, họ vẫn thường xuyên gặp nhau để ôn lại những kỷ niệm của một thời tuổi trẻ đầy gian khó nhưng rất đáng tự hào.
Trước khi chia tay, bác nhìn chúng tôi rồi chậm rãi nói:
“Tuổi trẻ của tụi bác đã dành hết cho Tổ quốc nên không có gì phải tiếc. Bác chỉ mong thế hệ trẻ bây giờ sống tốt, học hành đàng hoàng và biết quý trọng hòa bình.”
Rồi bác nghẹn ngào:
“Bác chỉ mong có ngày gặp lại đầy đủ anh em đã từng chiến đấu cùng mình năm xưa…”
Rời khỏi căn nhà nhỏ bên dòng kênh Phú Quới, lòng chúng tôi vẫn còn đọng lại nhiều cảm xúc. Những câu chuyện của bác Trần Văn Ký không chỉ là ký ức về một thời chiến tranh gian khổ, mà còn là bài học quý giá về lòng yêu nước, tinh thần cống hiến và trách nhiệm của tuổi trẻ đối với quê hương, đất nước.


