CHUYỆN KỂ MÙA XUÂN - KÝ ỨC VỀ MỘT THỜI MÁU LỬA
Tết năm nay, tôi có dịp về một huyện ngoại thành Hà Nội để thực hiện bộ ảnh tư liệu về những nhân chứng lịch sử. Người dẫn đường cho tôi là anh Hùng - cán bộ Đoàn của huyện, cũng là cháu nội của một liệt sĩ thời chống Mỹ. Anh bảo: "Đi với em, chị sẽ gặp những con người mà cả cuộc đời họ là những trang sử sống động nhất."
PHẦN I: NHỮNG CON NGƯỜI CÒN MÃI
Gặp gỡ đầu xuân
Tết năm nay, tôi có dịp về một huyện ngoại thành Hà Nội để thực hiện bộ ảnh tư liệu về những nhân chứng lịch sử. Người dẫn đường cho tôi là anh Hùng - cán bộ Đoàn của huyện, cũng là cháu nội của một liệt sĩ thời chống Mỹ. Anh bảo: "Đi với em, chị sẽ gặp những con người mà cả cuộc đời họ là những trang sử sống động nhất."
Điểm đến đầu tiên là nhà Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Ba. Bà đã 94 tuổi, đôi mắt đã mờ nhưng giọng nói vẫn sang sảng. Trên bàn thờ trong nhà là ba di ảnh: chồng bà - liệt sĩ thời kháng chiến chống Pháp; con trai cả - liệt sĩ thời chống Mỹ; và con gái út - thanh niên xung phong hy sinh trên đường Trường Sơn.
Bà kể: "Ngày ấy, thằng Cả nhà tao đi bộ đội, nó mới 19 tuổi. Trước khi đi, nó ôm tao nói: 'Mẹ ơi, con đi giải phóng quê hương rồi con về. Mẹ ở nhà giữ gìn sức khỏe nhé. Khi nào hết giặc, con sẽ đưa mẹ ra thăm Hà Nội, đi xem lăng Bác Hồ.' Thế rồi nó đi luôn, không bao giờ về nữa."
Người lính già kể chuyện
Rời nhà bà Ba, tôi đến thăm ông Đỗ Văn Tuyển - thương binh 1/4, nguyên chiến sĩ Đặc công Quân khu 9. Ông Tuyển năm nay 82 tuổi, ngồi trên chiếc xe lăn vì vết thương cột sống từ năm 1972. Nhưng đôi mắt ông vẫn sáng, giọng nói vẫn hào sảng của một người lính từng vào sinh ra tử.
Ông mở tủ lấy ra một chiếc hộp gỗ cũ kỹ. Trong đó có những lá thư đã ố vàng, một chiếc khăn rằn sờn mép, một mảnh áo trận bạc màu và nhiều tấm huy hiệu. Ông run run cầm một lá thư lên
"Đây là lá thư cuối cùng của thằng Ba - bạn chiến đấu cùng tiểu đội tôi. Nó viết cho vợ nó trước trận đánh ngày 27/4/1972. Nó bảo: 'Vợ ơi, nếu anh có mệnh hệ nào, em hãy nuôi con khôn lớn. Dạy con rằng ba nó đi đánh giặc để con cháu sau này được sống trong hòa bình.' Rồi trận ấy, nó hy sinh ngay bên cạnh tôi. Tôi cõng nó về, người nó ướt đẫm máu. Tay nó vẫn nắm chặt lá thư này."
Ông Tuyển lau nước mắt. Căn nhà nhỏ bỗng lặng đi trong phút mặc niệm. Tôi nhìn quanh căn nhà đơn sơ với những kỷ vật chiến tranh, chợt hiểu rằng mỗi món đồ ở đây là một câu chuyện, một số phận, một cuộc đời đã đi qua chiến tranh.
PHẦN II: NHỮNG CHUYẾN ĐI KHÔNG TRỞ LẠI
Người mẹ của trăm con
Chiều hôm sau, tôi được gặp cô Phạm Thị Thúy - nguyên Tiểu đội trưởng Thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn huyền thoại. Cô Thúy năm nay 78 tuổi, mái tóc bạc trắng, nhưng khi kể về những năm tháng tuổi trẻ, đôi mắt cô như sáng bừng lên.
"Cô vào thanh niên xung phong năm 18 tuổi. Ngày ấy, con gái Hà Nội đứa nào chẳng muốn vào chiến trường. Chúng tôi hát vang 'Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước' mà lòng rộn ràng như đi trẩy hội. Nào ngờ đâu, đó là những ngày tháng khốc liệt nhất cuộc đời."
Cô kể về những đêm mưa rừng lạnh thấu xương, những ngày nắng cháy da trên đỉnh đèo, những trận bom B52 rung chuyển cả núi rừng. Cô kể về đồng đội - những cô gái tuổi mười tám đôi mươi, ngày san đá mở đường, đêm nằm võng đan áo cho bộ đội. Có những người đã nằm lại vĩnh viễn bên đường khi tuổi đời còn quá trẻ.
"Đứa em kết nghĩa của cô - con bé Hoa quê Nam Định - nó mới 17 tuổi. Một lần bom Mỹ đánh sập hầm, nó bị vùi lấp. Khi chúng tôi đào lên, tay nó vẫn còn nắm chặt cái cuốc. Mắt nó mở to nhìn về phía Nam. Nó muốn vào giải phóng miền Nam lắm, nhưng chưa kịp thì đã ra đi. Chúng tôi chôn nó bên đường, dựng tấm biển: 'Tiểu đội 3, TNXP - Liệt sĩ Hoa - 17 tuổi.'"
Cô Thúy lấy chiếc khăn lau nước mắt: "Bây giờ mỗi lần đi trên đường Hồ Chí Minh, cô vẫn nhận ra những nơi đồng đội đã nằm xuống. Các con ấy vẫn đang nằm đó, canh giữ cho con đường Tổ quốc."
Người anh hùng thầm lặng
Người thứ ba tôi gặp là ông Nguyễn Văn Thành - một cựu chiến binh từng được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT Nhân dân. Ông Thành là người ít nói, trầm tính. Khi tôi hỏi về những chiến công, ông chỉ cười hiền: "Có gì đâu cô, tôi chỉ làm nhiệm vụ của người lính thôi."
Nhưng anh Hùng kể cho tôi nghe: ông Thành từng một mình bắn rơi hai máy bay Mỹ bằng súng bộ binh trong chiến dịch Khe Sanh năm 1968. Trong một trận đánh, ông bị thương nặng nhưng vẫn ôm bộc phá xông lên tiêu diệt lô cốt địch, mở đường cho đơn vị tiến công.
"Đơn vị tưởng tôi chết rồi" - ông Thành kể - "Chúng nó báo tử về cho gia đình. Mẹ tôi khóc suốt ba tháng trời, tưởng tôi đã hy sinh. Mãi sau này, khi tôi được chuyển ra Bắc điều trị, mẹ tôi mới biết tin tôi còn sống. Bà lặn lội từ quê lên tận Viện Quân y 108 thăm tôi. Hai mẹ con ôm nhau khóc như mưa."
Tôi nhìn ông Thành ngồi đó, bàn tay phải đã cụt mất hai ngón vì vết thương chiến tranh, nhưng đôi mắt vẫn ánh lên niềm tự hào. Ông bảo: "Tôi tự hào vì đã được sống, được chiến đấu và trở về. Nhưng tôi cũng day dứt mãi vì những đồng đội đã nằm lại nơi chiến trường xưa. Họ mới là những người anh hùng thực sự."
PHẦN III: HẬU PHƯƠNG VỮNG CHẮC
Người ở lại
Câu chuyện chiến tranh không chỉ có nơi chiến trường ác liệt. Nó còn là câu chuyện của những người ở lại - những bà mẹ, người vợ, người con ngày đêm mong ngóng tin người thân nơi tiền tuyến.
Tôi đến thăm bà Lê Thị Mùi - thân nhân liệt sĩ, vợ của liệt sĩ Trần Văn Phúc. Bà Mùi năm nay 86 tuổi, sống một mình trong căn nhà nhỏ. Chồng bà hy sinh năm 1969, khi bà mới 29 tuổi, đang mang thai đứa con thứ hai.
"Ông ấy đi khi thằng Cả mới lên 3, tôi đang bụng mang dạ chửa đứa thứ hai. Ông ấy bảo: 'Mùi ơi, anh đi đánh giặc, em ở nhà nuôi con. Hòa bình anh về, mình sẽ làm lại cuộc đời.' Tôi đợi, đợi mãi... rồi nhận được giấy báo tử. Nó đến sau ngày ông ấy hy sinh gần một năm."
Bà Mùi lau nước mắt: "Ngày ấy, đứa thứ hai mới biết đi. Nó cứ hỏi: 'Mẹ ơi, bố con đâu?' Tôi chỉ ra di ảnh bảo: 'Bố con đi xa lắm, ở nơi có nhiều sao trên trời.' Lớn lên, nó mới hiểu."
Bà Mùi ở vậy nuôi hai con khôn lớn. Có nhiều người mai mối, khuyên bà đi bước nữa, nhưng bà từ chối. "Tôi thề với ông ấy sẽ thờ chồng nuôi con. Tôi giữ lời hứa đó đến bây giờ. Sắp 60 năm rồi đấy."
Người giúp đỡ cách mạng
Người cuối cùng tôi gặp trong chuyến đi này là ông Lê Văn Đông - một người từng hoạt động bí mật, nuôi giấu cán bộ trong kháng chiến chống Pháp. Ông Đông năm nay đã 96 tuổi, nhưng trí nhớ vẫn còn minh mẫn lạ thường.
"Tôi nhớ như in cái đêm đầu tiên đưa cán bộ về nhà. Năm ấy tôi mới 20 tuổi, làm Trưởng thôn. Có một cán bộ Việt Minh bị thương, cần nơi ẩn náu. Tôi đưa ông ấy về giấu dưới hầm bí mật sau bếp. Ba tháng trời, vợ tôi ngày ngày nấu cháo, giấu thuốc, chăm sóc vết thương cho ông ấy. Nguy hiểm lắm, nhưng chúng tôi nghĩ: cán bộ là của dân, dân phải bảo vệ cán bộ."
Ông Đông kể về những lần giặc Pháp về khủng bố, truy lùng cán bộ. Có lần suýt bị lộ, ông phải đưa cán bộ chạy vào rừng sâu, sống trong hang đá cả tháng trời. Vợ ông một mình ở nhà đối mặt với sự nghi ngờ, tra khảo của giặc.
"Bà ấy bị chúng nó tra tấn dã man, nhưng nhất định không khai. Rồi sau này, bà ấy mất sớm vì những di chứng của những trận đòn năm xưa. Tôi luôn tự nhủ: mình còn sống là nhờ có bà ấy. Cả thôn mình còn đứng vững là nhờ những người phụ nữ như bà ấy."
PHẦN IV: HOA VẪN NỞ TRÊN QUÊ HƯƠNG
Những người trẻ hôm nay
Trước khi chia tay, anh Hùng đưa tôi đi thăm một công trình thanh niên - nghĩa trang liệt sĩ của huyện vừa được tu bổ, tôn tạo. Những ngôi mộ thẳng hàng, khang trang dưới bóng những hàng cây xanh mát. Trên mỗi nấm mồ, hương trầm nghi ngút, hoa tươi thắm.
Anh Hùng bảo: "Đoàn viên thanh niên chúng em thường xuyên ra đây chăm sóc nghĩa trang. Mỗi dịp 27/7, chúng em tổ chức thắp nến tri ân. Năm nào cũng có hàng trăm bạn trẻ tham gia. Có bạn còn tìm hiểu, viết nhật ký về những tấm gương liệt sĩ được an táng ở đây."
Tôi nhìn những gương mặt trẻ trung đang cần mẫn nhổ cỏ, lau bia mộ. Họ là thế hệ sinh ra sau chiến tranh, nhưng vẫn mang trong tim lòng biết ơn sâu sắc với những người đã ngã xuống. Những câu chuyện "thời hoa lửa" vẫn được họ gìn giữ, truyền lại cho nhau như một báu vật vô giá.
Lời kết
Chuyến đi kéo dài ba ngày, nhưng những câu chuyện tôi được nghe sẽ còn đọng mãi. Đó là câu chuyện của bà Mẹ Việt Nam Anh hùng có chồng, con đều hy sinh. Là câu chuyện của người thương binh vẫn giữ những lá thư của đồng đội đã khuất. Là câu chuyện của nữ thanh niên xung phong ngày đêm nhớ về những người em gái nhỏ nằm lại bên đường Trường Sơn. Là câu chuyện của người vợ thủy chung suốt 60 năm thờ chồng nuôi con. Và là câu chuyện của người từng nuôi giấu cán bộ trong kháng chiến.
Tất cả họ, dù ở cương vị nào, đều là những con người đã sống trọn vẹn với lý tưởng, với Tổ quốc. Họ là những "bông hoa" đã nở rộ trong "thời hoa lửa" oanh liệt của dân tộc.
Ra về, tôi ngoái nhìn lại con đường nhỏ dẫn vào làng. Chiều muộn, nắng vàng nhạt trải dài trên những mái nhà. Một đàn chim sải cánh bay về phía chân trời xa. Tôi chợt nghĩ về những năm tháng chiến tranh đã lùi xa, nhưng những câu chuyện, những con người ấy vẫn còn mãi với thời gian, như những trang sử hào hùng còn in dấu trên mảnh đất này.
"Đất nước tôi thon thả ở giọng đò,
Đâu dễ chia cho mỗi người một nửa
Nhưng trái tim tôi rộng như trời xưa,
Là nơi nào Tổ quốc mãi trong tôi..."



