Cựu chiến binh

CHUYỆN KỂ XÚC ĐỘNG VỀ MỘT NGƯỜI TÙ CÔN ĐẢO

Được tiếp xúc với hai cựu tù nhân Côn Đảo, chúng tôi càng cảm thấy trân trọng hơn những chiến sĩ lão thành cách mạng, những tù nhân Côn Đảo ngày nào, giờ đây đã ở tuổi xưa nay hiếm. Các ông đã hy sinh cả cuộc đời cho dân, cho nước, đi qua hai cuộc chiến tranh, trở về sống giữa đời thường vẫn một dạ trắng trong. Chúng tôi thật tự hào về thế hệ cha ông đi trước. Xin được gửi đến các ông những lời tri ân sâu sắc của thế hệ hôm nay.

Phú Thọ01/07/2026Sưu tầm (ĐOÀN XÃ ĐÔNG THÀNH)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Cuối năm 1952, giữa lúc thực dân Pháp đang căng sức rải quân chống lại quân chủ lực của ta ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam thì vào ngày 12/12/1952 ở Côn Đảo các tù nhân chính trị đã tiến hành một cuộc vượt ngục quy mô lớn. Các chiến sĩ cách mạng vượt biển trên những con thuyền thô sơ, phải đối mặt với biển cả hung dữ. Với sự thôi thúc của khát vọng tự do, họ dồn hơi sức cho nhau để đè sóng mà bơi, nhưng trong những giây phút nguy nan, cần phải chọn 5 người nhảy xuống biển cho thuyền nhẹ bớt không bị chìm, ai cũng muốn nhận sự hy sinh về mình, nhường sự sống dù là hy vọng mong manh cho đồng đội. Tuy nhiên, do điều kiện thiên nhiên không ủng hộ và những chiếc thuyền để lâu gỗ đã mục nên cuộc vượt ngục Côn Đảo không thành công, 81 chiến sĩ hy sinh nơi biển cả.

Ông Long xúc động kể lại: "Chúng tôi còn ở trên bờ làm công tác tổ chức cho anh em đi trước, mình đi sau nên còn sống sót. Nhưng tất cả anh em còn lại phải đối mặt với sự trả thù hèn hạ của quân thù. Sau ngày vượt ngục, ngày 13/12/1952 tên chúa đảo đã cho xe chở một bó roi mây đổ vào sân banh III rồi trực tiếp chỉ huy binh lính xông vào từng phòng khủng bố. Địch khủng bố liên tiếp hai ngày, sau đó bắt 60 tù nhân chúng cho là cán bộ chủ chốt giam vào chuồng cọp. Sau 30 ngày không tra hỏi được bất cứ thông tin nào về cuộc nổi dậy vượt ngục, chúng phải thả các tù nhân về lao".

Sau khi hiệp định Giơ-Ne-Vơ được ký kết năm 1954, ông Long và các tù nhân chính trị được trả tự do. Ông cho biết: "Đến ngày trao trả tù binh ở bến Sầm Sơn (Thanh Hóa), quân địch vẫn tiếp tục đánh tù nhân và định lật lọng không trao trả khiến một số đồng chí đã phải nhảy xuống biển hoặc bị bắn chết".

Qua hai cuộc chiến vẫn giữ lòng trắng trong

Sau khi được trả tự do ra miền Bắc, tổ chức phân công ông về bộ Bưu điện. Ông đã cùng các đồng chí của mình tham gia làm đường, xây dựng đường sắt. Trong thời gian này, ông được đồng chí Phạm Văn Đồng, Trưởng ban Thống Nhất khi đó điều ông về lái xe cho đồng chí Trường Chinh, sau 6 tháng phục vụ đồng chí Trường Chinh, năm 1960 ông được cử về bộ Nông trường quản lý đội xe con thuộc cục Cung Tiêu. Ông vẫn tâm niệm, thời chiến cũng như thời bình, tổ chức phân công làm gì mình làm nấy, không nề hà việc gì, cốt sao được phục vụ cho Đảng, cho dân.

Năm 1970, được đồng chí Phạm Hùng triệu tập, ông trở lại mặt trận miền Nam tiếp tục hoạt động ở đơn vị BS69 của Tổ chức Trung ương Cục miền Nam cho đến ngày Sài Gòn giải phóng, đất nước độc lập. Năm 1975 ông về trở về bộ Bưu Điện công tác ở Công ty Bưu điện Gia Định.

Năm 1980 nghỉ hưu ông cùng vợ con chuyển ra Bắc. Lúc này kinh tế gia đình hết sức khó khăn, với đồng lương ít ỏi, ông phải đối mặt với cuộc sống đầy khó khăn. May mắn cho ông có được người vợ hiền đảm đang. Bà vốn là người con gái ngoại thành Hà Nội đẹp người đẹp nết nhất thôn Thiết Úng, xã Vân Hà, huyện Đông Anh, Hà Nội. Bà đã cùng ông chịu đựng những ngày gian khó nuôi dạy 3 người con nên người, chăm sóc ông những lúc trái gió trở trời vết thương của những ngày tù ngục lại hành hạ. Nhưng không may bà mắc bệnh hiểm nghèo và sớm qua đời.

Khi các con đã trưởng thành, lúc này ông Long đã tuổi cao sức yếu nhưng thật may mắn ông gặp được người phụ nữ kém ông 34 tuổi. Bà Đào Thị Khiêm, trước là thanh niên xung phong. Thương hoàn cảnh ông Long, bà quyết định gắn bó, yêu thương chăm sóc ông. Có mặt tại ngôi nhà mái tôn đơn sơ nằm trong xóm Máy cày, thôn Thiết Úng trong những ngày đông lạnh giá, chúng tôi thật sự trân trọng tình cảm ông bà dành cho nhau. Những ngày giáp Tết, sức khỏe ông không được tốt, chiếc xương sườn bị gãy và những vết thương do địch tra tấn khiến ông đau nhức không ngủ được. Cả cuộc đời hy sinh cho cách mạng, ông không đòi hỏi gì cho bản thân mình dù hiện nay cuộc sống của ông rất nghèo. Khi được hỏi sao ông không yêu cầu gì để có cuộc sống tốt hơn, ông mắng: "Bác Hồ hy sinh cả cuộc đời cho dân cho nước có đòi hỏi gì đâu? Hy sinh cho Tổ quốc mình mà đòi hỏi à?". Tôi ngỡ ngàng trước câu nói khẳng khái của ông và chợt thấy cay cay nơi khoé mắt.

Qua ông Long, chúng tôi tìm gặp ông Lý Hải Châu, tổng đại diện tù nhân Khám Chí Hòa. Ông Châu là thủ trưởng cũ của ông Lê Thành Long, người chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng đã dùng ngòi bút để đấu tranh với kẻ thù khi ở trong lòng địch, cũng là một trong những cựu tù nhân Côn Đảo. Ở tuổi 90, sức khoẻ rất yếu, nói không còn rõ tiếng nhưng ông vẫn thều thào nhắc đi nhắc lại hai chữ Tổ quốc và mong muốn các thế hệ thanh niên hôm nay hãy luôn nghĩ về Tổ quốc thiêng liêng.

Được tiếp xúc với hai cựu tù nhân Côn Đảo, chúng tôi càng cảm thấy trân trọng hơn những chiến sĩ lão thành cách mạng, những tù nhân Côn Đảo ngày nào, giờ đây đã ở tuổi xưa nay hiếm. Các ông đã hy sinh cả cuộc đời cho dân, cho nước, đi qua hai cuộc chiến tranh, trở về sống giữa đời thường vẫn một dạ trắng trong. Chúng tôi thật tự hào về thế hệ cha ông đi trước. Xin được gửi đến các ông những lời tri ân sâu sắc của thế hệ hôm nay.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn