Chuyện một người anh hùng
1.000 ngày giữ đảo Như những chàng trai, cô gái tuổi đôi mươi cùng thế hệ, năm 1962, chàng thanh niên Lê Hữu Trạc nhập ngũ và được biên chế vào Đại đội Lê Hồng Phong, Tiểu đoàn 4, Sư đoàn 341 đóng quân ở Vĩnh Linh, Quảng Trị với nhiệm vụ bảo vệ giới tuyến. Năm 1965, khi cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ bước vào giai đoạn ác liệt, đảo Cồn Cỏ, được mệnh danh là “mắt thần” của miền Bắc trở thành mục tiêu đánh phá của máy bay, tàu chiến Mỹ. Để bảo vệ “mắt thần”, Đại đội Lê Hồng Phong được lệnh cử m
1.000 ngày giữ đảo
Như những chàng trai, cô gái tuổi đôi mươi cùng thế hệ, năm 1962, chàng thanh niên
Lê Hữu Trạc nhập ngũ và được biên chế vào Đại đội Lê Hồng Phong, Tiểu đoàn 4, Sư
đoàn 341 đóng quân ở Vĩnh Linh, Quảng Trị với nhiệm vụ bảo vệ giới tuyến.
Năm 1965, khi cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ bước vào giai đoạn ác liệt, đảo Cồn
Cỏ, được mệnh danh là “mắt thần” của miền Bắc trở thành mục tiêu đánh phá của máy
bay, tàu chiến Mỹ. Để bảo vệ “mắt thần”, Đại đội Lê Hồng Phong được lệnh cử một
trung đội ra Cồn Cỏ.
“Lúc này, hàng ngày các tàu khu trục, tàu tuần dương bao vây đảo và trên đầu là máy
bay quần thảo, nhiệm vụ rất gian khổ và hiểm nguy nhưng ai cũng mong được ra Cồn
Cỏ. Để “cạnh tranh” cùng các đơn vị khác, tôi là Trung đội phó, Bí thư chi bộ đã họp tổ
Đảng và trình bày sáng kiến cạo trọc đầu để tiết kiệm tối đa nước ngọt gội đầu khi ra
đảo. Với lòng quyết tâm và sáng kiến đó, trung đội “cạo trọc” của chúng tôi đã được chỉ
huy Đại đội Lê Hồng Phong lựa chọn ra giữ đảo Cồn Cỏ”, ông Trạc nhớ lại.
Và đêm mùa hè tháng 7/1965, giữa muôn trùng sóng gió và sự bao vây của máy bay,
tàu chiến địch, Trung đội 3 vượt 17 hải lý và đặt chân lên đảo tiền tiêu. Gần 1.000 ngày
giữ đảo, ông không thể nhớ hết có bao nhiêu trận bom, bao nhiêu cuộc chiến. Dưới
mưa bom bão đạn, hòn đảo có khi không còn một bóng cây, mặt đất bị cày đi xới lại.
Vừa chiến đấu, ông và đồng đội vừa đào công sự, hầm hào. Có những thời điểm ác
liệt, tiếp tế nhu yếu phẩm từ đất liền gián đoạn, họ phải sống cầm hơi, chặt chuối rừng
vắt nước uống. Người lính này hy sinh, người lính khác xông lên thay thế. Nhiều đồng
đội của ông đã ngã xuống và thân xác mãi nằm lại trên đảo.
“Sau này, tôi nghe lịch sử thống kê lại từ năm 1964-1968, có trên 1,3 vạn quả bom và
hàng vạn quả rốc két ném xuống Cồn Cỏ; 172 lần tàu chiến bắn trên 4 nghìn quả đạn
pháo lên đảo. Bình quân mỗi cán bộ, chiến sĩ hứng chịu gần 40 tấn bom đạn và mỗi ha
đất là 22,6 tấn. Còn lúc đó, chúng tôi chỉ biết ngày nào cũng bom rơi đạn nổ. Cồn Cỏ vô
cùng ác liệt, nhưng phía sau chúng tôi có cán bộ, nhân dân Vĩnh Linh anh hùng, tình
nghĩa sẵn sàng xung phong tiếp tế cho đảo. Tôi nhớ cụ Thục, tuổi ngoài 60, là “chuyên
gia” theo dõi thời tiết. Mọi chuyến tiếp tế ra đảo hay đưa thương binh vào đất liền nhờ
cụ mà “thuận buồm xuôi gió”, Cồn Cỏ nhờ đó mà vững vàng đến ngày chiến thắng!”,
ông Trạc bồi hồi kể lại.



