Chuyến nghe về lịch sử
Thoại Ngọc Hầu là một danh tướng nổi danh của triều Nguyễn, tên thật là Nguyễn Văn Thoại, sinh ngày 25-11 năm Tân Tỵ (1761) tại huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam. Cha ông là Nguyễn Văn Lương và mẹ là Nguyễn Thị Tuyết. Sau này nhờ Thoại Ngọc Hầu có công lao nên hai người đều được tước phong.
Chuyến nghe về lịch sử
Trong một chuyến đi tham quan Hà Tiên, em đi trên xe dọc kênh Vĩnh Tế thì được mẹ em kể đó là con kênh được ông Thoại Ngọc Hầu đào. Em về tìm hiểu và biết ông sinh năm (1761–1829), tên thật là Nguyễn Văn Thoại, là khai quốc công thần triều Nguyễn, danh tướng kiệt xuất và nhà doanh điền vĩ đại có công lớn trong việc mở mang, giữ vững bờ cõi vùng Tây Nam Bộ. Ông nổi tiếng với việc chỉ huy đào kênh Thoại Hà, kênh Vĩnh Tế và lập 5 làng biên thùy.
Thoại Ngọc Hầu là một danh tướng nổi danh của triều Nguyễn, tên thật là Nguyễn Văn Thoại, sinh ngày 25-11 năm Tân Tỵ (1761) tại huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam.
Cha ông là Nguyễn Văn Lương và mẹ là Nguyễn Thị Tuyết. Sau này nhờ Thoại Ngọc Hầu có công lao nên hai người đều được tước phong.
Do có công lớn nên được chúa Nguyễn phong tước hầu. Ngoài ra cũng vì có công “bảo hộ” Cao Miên nên còn được gọi là Bảo hộ Thoại.(Thoại là tên của ông, Ngọc chỉ là mỹ tự dùng làm tên đệm, Hầu là tước phong).
Thời ông sống, lịch sử nước ta xảy ra chiến tranh Nam - Bắc giữa Trịnh với Nguyễn, tiếp theo là phong trào Tây Sơn. Thoại Ngọc Hầu phải cùng gia đình thân thuộc chạy vào Nam, cuối cùng định cư ở làng Thới Bình nằm trên cù lao Dài, sông Cổ Chiên thuộc địa phận Vũng Liêm, Vĩnh Long. Hiện nay ở đây còn một khu mộ gọi là lăng ông Bảo Hộ, gồm mộ mẹ đẻ và cha mẹ vợ của ông.
Tính đến năm 1777, khi được 16 tuổi, Thoại Ngọc Hầu xin đầu quân chúa Nguyễn tại Ba Giồng. Năm 1778, ông có mặt trong trận chiến đấu chiếm lại thành Gia Định. Năm 1782, Tây Sơn đại phá quân Nguyễn ở cửa Cần Giờ diệt cả tên chỉ huy Pháp Manael, ông và chúa Nguyễn phải bỏ chạy. Năm 1784, tiếp theo năm 1785, ông theo Nguyễn Ánh sang Xiêm cầu viện.
Từ năm 1787 đến năm 1789, ông đã có công trong việc thu lại thành Gia Định nên được phong chức Cai cơ. Năm 1791, được cử là Trấn thủ hải khẩu Tắc Khái (tức cửa Lấp thuộc Bà Rịa). Năm 1792, ông lại sang Xiêm, trên đường về ông đã đánh tan bọn cướp biển Bồ Đà (Giavanays), liên tục các năm 1796, 1797, 1799 ông đều được Nguyễn Ánh cử sang Xiêm công cán. Chức tước cao nhất sau khi đi sứ năm 1799 ở Xiêm về của ông là Thượng đạo Đại tướng quân. Ông cũng đi sứ sang Lào một lần.
Năm 1800, Thoại Ngọc Hầu được phong Khâm sai Thượng đạo Bình Tây tướng quân, phối hợp với Lào đánh quân Tây Sơn ở Nghệ An. Nhưng đến năm 1801, ông bị giáng cấp, xuống chức Cai đội quản suất Thanh Châu đạo vì tự ý bỏ về Nam mà không đợi lệnh trên.
Năm 1802, Nguyễn vương thống nhất Nam - Bắc.
Trong dịp tặng thưởng các bề tôi có công, Thoại Ngọc Hầu cũng chỉ được phong Khâm sai Thống binh cai cơ.
Lúc ra Bắc tham gia thu phục Bắc Thành mới được cử Trấn thủ Bắc Thành rồi Trấn thủ Lạng Sơn. Năm 1808, trở về Nam nhận chức Trấn thủ Định Tường. Năm 1812, ông sang Cao Miên đón Nặc Ông Chân về Gia Định, năm 1813 hộ tống vị vua này về nước và ở lại “bảo hộ” Cao Miên.
Ở đó được 3 năm, ông được triệu về nước để nhận chức trấn thủ Vĩnh Thanh
Năm 1821, Minh Mạng sắc chỉ cho ông là Thống chế Bảo hộ Cao Miên, kiêm Quản quân vụ Trấn Hà Tiên - Châu Đốc. Năm 1827, ông dâng sớ xin tuyển mộ tráng đinh, lập các đội quân An Hải và Châu Đốc để bảo vệ lãnh thổ phía Nam. Ngoài chăm lo việc đào kênh, lập làng, khẩn hoang Ông còn cho xây dựng nhiều tuyến đường bộ quan trọng nối liền nước ta và Cao Miên.
Ông mất ngày 6-6 năm Kỷ Sửu (1829). Sau khi trực tiếp xây dựng xong khu lăng miếu của chính mình và hai vị phu nhân, ông cho qui tụ hài cốt những người có công đào kinh Vĩnh Tế, khai hoang lập ấp về đây chôn chung trong lăng.
Là một người con An Giang em rất khâm phục tài năng và lòng dũng cảm của các vị anh hùng dân tộc của quê hương mình. Em sẽ cố gắng học thật tốt để xứng đáng là người con của An Giang, làm rạng rỡ quê hương mình.



