Khác

CHUYỆN Ở CAO ĐIỂM 1978

Cuối năm 1972 – đầu 1973, tại cao điểm 1978 gần Long Chẹng (Xiêng Khoảng), bộ đội Pa-thét Lào và quân tình nguyện Việt Nam đối mặt lực lượng lớn do CIA hậu thuẫn, trong bối cảnh chuẩn bị thi hành Hiệp định Viêng Chăn. Nhận thấy tinh thần lính Thái Lan suy sụp, chỉ huy ta chủ trương địch vận: đặt lương khô, đường sữa và truyền đơn kêu gọi ngừng bắn, về nước. Việc làm nhân văn ấy dần cảm hóa binh lính đối phương, góp phần giảm giao tranh, hạn chế đổ máu. Đúng giờ ngừng bắn 22/2/1973, hai bên phâ

Lai Châu02/03/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trăng hạ tuần mọc muộn, màn đêm yên tĩnh. Ngồi tựa vào thành công sự trên đài quan sát ở cao điểm 1978, mắt tôi như dán vào từng đoạn giao thông hào, từng công sự, từng ụ súng mà địch đã dựng lên. Tôi biết trong đó bọn địch đang chui rúc, ẩn nấp và sẽ chống trả quyết liệt.


Biết bao tình huống giả định, các phương án lởn vởn hiện ra trong đầu tôi. Qua nhiều năm chiến đấu trên chiến trường Bắc Lào, tôi muốn tìm một phương án tác chiến có hiệu quả nhất mà đỡ tốn xương máu. Đang miên man suy nghĩ thì tiếng con chim lợn bất thần hét vang "éc... éc... éc..." cắt đứt dòng suy nghĩ của tôi, đưa tôi nhớ lại một ngày cuối năm 1970.


Đơn vị chuẩn bị một chiến dịch mới thì đồng chí Tổng Bí thư Đảng nhân dân cách mạng Lào Kay-xỏn Phôm-vi-hẳn về thăm. Trong cuộc gặp mặt, có đồng chí cán bộ ta đứng lên hứa với đồng chí Tổng Bí thư:

- Sẽ giải phóng Long Chẹng trong thời gian ngắn nhất.

Cả phòng họp ồn lên, tôi buột miệng nói:

- Ông chủ quan quá đấy!

Người khác lại nói:

- Long Chẹng là thủ đô, là sào huyệt của Vàng Pao, không dễ ăn đâu. Ngắn nhất là bao lâu?

Nhiều cái đầu quay về phía người phát biểu lắc lắc với ánh mắt nghi ngờ. Đồng chí Tổng Bí thư cười mỉm, giơ tay ra hiệu im lặng rồi nói:

- Tôi cũng hứa với các đồng chí sẽ đề nghị tuyên dương anh hùng cho đơn vị các đồng chí.

Tiếng vỗ tay ran lên, không khí buổi gặp mặt trở nên thân tình, cởi mở.

Thế mà bây giờ đây, sau hơn hai năm, trận địa của chúng tôi, cao điểm 1978 này mới chỉ cách Long Chạng có vài cây số đường chim bay mà phải dừng lại. Lòng tôi se lại, mắt lại căng ra nhìn sang trận địa địch.

Những tháng cuối năm 1972, địch huy động một lực lượng lớn chưa từng thấy ở chiến trường Lào do CIA trực tiếp chỉ huy gồm 30 tiểu đoàn quân phái hữu, 28 tiểu đoàn quân phỉ Vàng Pao, 18 tiểu đoàn quân Thái Lan và 3 tiểu đoàn pháo binh với nhiều binh khí kỹ thuật thông tin, công binh, thiết giáp; phản lực Mỹ, B52 chi viện không tiếc bom đạn cho từng trận đánh, trực thăng hàng trăm lần/chiếc/ngày chở quân, cẩu pháo, tiếp tế đủ thứ bảo đảm đến từng đại đội của chúng. Bằng cố gắng cao nhất, sau 5 tháng tiến công đánh chiếm Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, cuối cùng địch cũng phải chịu thất bại.


Mùa khô sắp tới, phát hiện ta chuẩn bị phản công, địch đã lui về, tập trung quân chiếm địa bàn lập tuyến phòng ngự.

Dải núi dài khoảng 4 - 5km chạy qua Phu Lũng Mạt, Thẩm Lửng - Sao Phan có điểm cao 1978 là địa bàn tranh chấp quyết liệt nhất. Sau nhiều đợt tấn công, địch đã phải đưa 4 tiểu đoàn Thái Lan tới lập trận địa phía Tây Nam cao điểm để ngăn chặn một tiểu đoàn quân tình nguyện.


Cả dải núi dài và cao điểm 1978 vốn là những khu rừng già nguyên sinh hàng trăm năm tuổi, quanh năm xanh tốt um tùm, nhiều gỗ quý, nhiều thú hiếm sinh sống ở đây, chỉ sau ít ngày bị bom đạn địch tàn phá đã trở thành đất chết. Mặt đất tả tơi, lở loét, nham nhở những hố bom sâu hoắm, méo mó vì bom nọ nổ chồng lên hố bom kia. Rừng chỉ còn là những cọc gỗ đen thui, cháy nham nhở, sứt sẹo, xơ xác như những cái gai to. Không một sinh vật nào tồn tại, không một màu xanh nào nhú lên được. Ngày cũng như đêm, ngoài tiếng gió thổi, tiếng bom đạn, không một âm thanh nào khác. Im lặng bao trùm. Thỉnh thoảng từ mặt đất lại bốc lên những cột khói trắng, những đám bụi đục ngầu, mùi khét lẹt của những đám cháy do bom napan, bom phá, bom phạt Mỹ gây ra. Bộ đội ta ở đây đã quen với ác liệt, coi thường mọi nguy hiểm. Pháo địch "suýt chết", bom Mỹ "ném chưa chắc đã trúng, mà có trúng chưa chắc đã chết"... Ngày vẫn có cơm nóng, nước nóng, tối trong các hầm dưới ánh nến lung linh vẫn tú lơ khơ. Tất cả cùng chung ý chí cùng một quyết tâm, lạc quan yêu đời, tin chắc vào thắng lợi.


Chỉ còn nửa tháng nữa Hiệp định Viêng Chăn có hiệu lực. Chúng tôi phải lập thêm nhiều đài quan sát, theo dõi sát mọi hoạt động của địch suốt ngày đêm từ nhiều hướng. Chuẩn bị đánh trả ngay từ trước lúc chúng thực hành lấn chiếm khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực nhằm chiếm thêm đất làm chuyện đã rồi như bọn ngụy quân miền Nam Việt Nam đã làm.


Từ ngày lui về phòng ngự, rất ít nghe thấy tiếng máy bay phản lực trực thăng chưa bao giờ tiếp tế đến trận địa. Ngay tại Long Chẹng, một tuần cũng chỉ có một đến hai lần bay đến tiếp tế.

Từ đài quan sát tôi thấy rõ, cứ sáng sáng, từng tốp lính vài ba tên có tên khoác súng, có tên không tỏa ra các hướng, xuống các khe đồi, rãnh núi, vào các bụi rậm đào đào, bới bới, quần áo xộc xệch, mặt mũi phờ phạc, gò má dô ra, hì hà hì hụi. Có lúc chúng reo lên, hành động nhanh hẳn lên như là cố vồ, chộp một con vật nào đó đang cắm đầu chạy. Lúc thì thấy chuột, lúc là cóc... toán khác thì đào củ rừng, bẻ lá cây... đến gần trưa, từ trận địa của chúng bốc lên những đụn khói trắng, xung quanh vài ba tên tranh nhau, chia nhau "chiến lợi phẩm", mồm miệng nhồm nhoàm, mặt mũi nhem nhuốc, cười nói hể hả. Đã nhiều năm chiến đấu ở các chiến trường Bắc Lào, nhưng tôi chưa bao giờ được chứng kiến cảnh tượng "đẹp mắt" như thế. Bỗng trong óc tôi vụt hiện lên một ý nghĩ, thích thú quá tôi buột miệng:

- Ta đã có cách đánh chúng mày rồi, chắc thắng mà ít tốn xương máu.

Định thần lại, tôi nghĩ: "Phải cẩn thận đấy, phải làm từ từ để thử chúng phản ứng thế nào đã...". Lồng ngực tôi giãn ra, từng hơi thở thoải mái làm cho tôi thấy khoẻ khoắn ra.

Bỗng một hôm, vừa rạng sáng tiếng máy bay phản lực đã gầm rú, bom đạn ầm ầm nổ. Dấu hiệu cuộc tấn công đã rõ. Bộ đội ta bỏ cơm sáng, nhanh chóng vào vị trí chiến đấu sẵn sàng đợi lệnh. Sau vài ba đợt oanh tạc của máy bay bầu trời lại yên tĩnh, chờ mãi đến gần trưa mới thấy tiếng súng bộ binh địch nổ lẻ tẻ, rồi lại im ắng. Mãi đến tận chiều, tiếng đạn lại nổ nhiều, cả đạn M79 cũng nổ, súng phóng lựu của chúng cũng đã nhả đạn, cứ thế lặp đi lặp lại ba, bốn lần nhưng không thấy một tên lính nào xuất kích. Quan sát vệt lửa đạn thì chỉ thấy đường đạn bay cao dần lên, có vệt lửa chọc thẳng lên trời. Té ra, mặc dù bọn chỉ huy ác ôn ra lệnh, thúc ép tấn công, binh lính địch chỉ nằm trong hố, chĩa súng ra ngoài hoặc chĩa lên trời bắn loạn xạ, cốt cho hết đạn rồi báo cáo cho chỉ huy bị đối phương đánh chặn ác liệt không tiến lên được. Lúc này ở đây chúng còn tới khoảng 10 nghìn quân, có cả 4 tiểu đoàn Thái Lan cùng nhiều binh khí kỹ thuật, kể cả AD6 đỗ ở Long Chẹng, nhưng rõ ràng tinh thần binh lính đã suy sụp nên tuy đông quân nhưng không có sức chiến đấu.


Tình hình như vậy càng củng cố lòng tin của tôi về việc mở đợt hoạt động địch vận. Bước một bắn truyền đơn sang phía địch để thăm dò. Truyền đơn giải thích hiệp định đình chiến, kêu gọi binh lính Thái Lan không đi đánh nhau, đòi về nước với gia đình và nói rõ bộ đội Pa-thét Lào tôn trọng hiệp định, nếu đối phương khiêu khích vi phạm sẽ bị trừng trị thích đáng.


Những ngày sau đó, mặt trận trở nên yên tĩnh, bộ đội ta được nghỉ ngơi và theo dõi sát địch, sẵn sàng chiến đấu.

Trời cuối mùa khô, không khí mát dịu, thỉnh thoảng có những cơn mưa nhỏ vào buổi sáng. Ban ngày trời quang đãng, trong vắt, ánh nắng xuyên qua làn sương mỏng làm cho cảnh vật trở lên lung linh, nhiều màu sắc huyền ảo.

Phát huy thắng lợi, chúng tôi chủ trương bằng mọi cách phải cảm hóa binh lính địch. Sáng kiến được nảy ra trong cuộc họp toàn đơn vị. Tuy có tranh luận, có khi gay gắt, nhiều ý kiến khác nhau nhưng cuối cùng cũng đi đến nhất trí: Bớt một lượng trong khẩu phần ăn của anh em và dùng một ít trong dự trữ cho thương bệnh binh làm địch vận. Quyết nghị xong, mọi người lao vào làm việc. Người thì lấy dao găm chặt, đẽo, gọt những cành cây khẳng khiu, cháy dở nham nhở, người đi tìm bất cứ thứ gì có thể buộc, ghép được để làm một cái bàn. Chân bàn cao khoảng hơn đầu người ngồi. Ngay tối hôm đó, chiếc bàn đã được chôn sát hàng rào dây thép gai của địch, trên bàn đặt dăm gói lương khô, vài gói đường, một vài hộp sữa Ông Thọ, có tờ giấy nhỏ lấy từ vỏ bao thuốc lá Trường Sơn lộn ngược ghi rõ bằng chữ Lào: "Thấy binh lính Thái Lan thiếu đói, phải đào chuột, củ rừng về ăn, chúng tôi để thực phẩm ở đây cho các anh lấy về dùng".


Khi bóng đêm phủ xuống trận địa, ánh trăng cuối tháng mờ mờ trong làn sương nhưng vẫn đủ để quan sát động tĩnh. Về khuya, trong một công sự địch, binh lính lố nhố ra cửa, một tên lom khom bò thấp ra phía bàn, ngó nghiêng trước, sau, phải, trái. Đến gần bàn nó vụt đứng lên, lại vội ngồi xuống nhanh như con rối. Yên tĩnh, hắn ngồi sát bàn, chỉ từ mắt trở lên mới cao hơn bàn, chăm chú nhìn vật phẩm đặt trên đó. Cẩn thận nhưng vẫn luống cuống, cúi thấp hơn mặt bàn, với tay quờ quạng, vét vét bất cứ thứ gì tay chạm phải ra sát mép, một tay lấy vạt áo ra hứng các vật phẩm được vét ra rơi xuống. Xong việc nó ôm gói đồ trước bụng, một tay chống bò về công sự vội vàng.


Mọi hành động của tên lính Thái đều lọt vào mắt tôi. Sau khi tên lính Thái chui vào hầm, tôi mừng thầm nhưng đầu óc lại nghĩ miên man. Hình ảnh cuộc họp buổi chiều vẫn lởn vởn, day dứt trong tôi. Dáng ngươi gầy gò, gương mặt cương nghị của một chiến sĩ và lời nói của đồng chí đó đến giờ vẫn không quên được:

- Tôi sẵn sàng nhịn đói để các em thơ, các mẹ già ở Xiêng Khoảng được ăn, chứ không đồng ý cho kẻ địch dùng. Làm như vậy là mất lập trường.

Bây giờ tôi vẫn băn khoăn tự hỏi, không biết những tên lính Thái Lan được ăn lương khô, đường sữa ấy có nghĩ gì không? Liệu việc làm này có giúp phần nào cảm hóa được chúng không? Những tên lính đánh thuê chỉ có một mục đích vì tiền. Và tự an ủi mình: Dù sao việc đó cũng có tác dụng trước mắt. Mình chỉ làm vì muốn đỡ xương máu cho cả hai bên. Đầu óc tôi cứ miên man, rồi hai mắt cứng lại, rồi hai mi sụp xuống, lưng tựa vào vách hầm, tôi đi vào giấc ngủ lúc nào không biết, chỉ mơ mơ màng màng thấy mình đang múa Lăm vông với đồng bào Phôn Sa Vẳn mừng chiến thắng trong ánh lửa trại, tiếng trống bập bùng... bập bùng...


Sau một tuần như vậy, không phải đợi đến đêm mà ngay buổi chiều, khi chúng tôi mang lương khô, đường sữa, cả họa báo nữa đặt lên bàn quay về thì binh lính Thái Lan đã chạy ra, tranh nhau vồ lấy thực phẩm, hớn hở quay về công sự, tay ngoái lại vẫy vẫy, vái vái vài lần. Một buổi sáng, chúng tôi nhận được tờ giấy của lính Thái đặt trên bàn: "Cảm ơn bộ đội nhà Phật. Chúng tôi đang đòi về nước". Như giải tỏa được nỗi lòng, anh em ai cũng thấy mình đã làm đúng; bụng tuy đói nhưng vẫn vui vẻ. Lúc rảnh rỗi anh em còn đi tìm hoa phong lan về tô điểm cho hầm của mình.


Đúng 12 giờ trưa ngày 22 tháng 2 năm 1973, lệnh ngừng bắn trên toàn lãnh thổ Lào có hiệu lực. Bọn lính địch ào cả ra hò hát nhảy múa lung tung. Hai tay giơ cao hơn đầu lắc lắc, khua bất cứ cái gì có trong tay. Khăn mặt trắng, khăn rằn ri, áo, quần, mảnh dù rách, cành cây. Mặt mũi nhem nhuốc, gầy gò, hốc hác, quần áo nhàu nát. Âm thanh lộn xộn, đám lính lộn xộn, nhưng thấy tên nào cũng hả hê sung sướng như đã thoát khỏi địa ngục và chờ đợi một điều gì đó lâu lắm rồi nay mới toại nguyện. Nhìn cảnh ấy, tôi chợt thốt lên thật to để anh em ta nghe thấy:

- Các đồng chí ơi! Chúng ta đã ghi được điểm rồi!

Bên ta vẫn bình tĩnh, đã chờ ngày thực hiện kế hoạch cắm cờ phân giới tuyến. Đúng giờ, 3 tổ, mỗi tổ 3 đồng chí quân phục chỉnh tề, đầu đội mũ lưỡi trai (mũ Pa-thét Lào), tay cầm những bó cờ nhỏ vải đỏ hiên ngang đi đều, những bước chân chững chạc tiến thẳng ra hàng rào của địch, lần lượt cắm chắc chắn những cây cờ, nhằm tỏ rõ ranh giới, hạn chế phạm vi hoạt động của đối phương chỉ được đến đó. Bọn lính Thái Lan nhìn sang dãy cờ đỏ lơ láo, ngơ ngác, đến khi anh em ta quay về chúng mới hiểu được mục đích việc phân tuyến. Những lá cờ đỏ vẫy vẫy trong gió như mừng thắng lợi bước đầu của chúng tôi, như vẫy chào những người con anh dũng của nhân dân Lào. Dãy cờ ngăn chặn mọi bàn tay tội ác của kẻ thù.


Hai bên nhìn nhau trong im lặng lúc lâu rồi tản về các nơi. Tôi xúc động, nước mắt làm nhòa đi hình ảnh bẩn thỉu, lem luốc của bọn lính phía bên kia. Bỗng nhớ lại, mới hôm nào đây mà đã hơn hai năm trôi qua, lời hứa với đồng chí Tổng Bí thư Đảng nhân dân cách mạng Lào chưa thực hiện được trọn vẹn. Từ đây vào Long Chẹng chỉ còn vài cây số thôi mà phải dừng lại, tự thấy xấu hổ nhưng trấn tĩnh lại ngay, vẫn còn thời gian để làm nốt phần còn lại. Chắc chắn như vậy.


Chấp hành chỉ thị của trên, bộ đội Pa-thét Lào sẽ vào tiếp nhận địa bàn, trực tiếp tiếp xúc, quân tình nguyện lui về sau đứng làm dự bị. Chúng tôi đón đoàn cán bộ Lào do đồng chí Khăm Kiệu - Trưởng ban tác chiến quân khu bạn vào chuẩn bị. Đồng chí Khăm Kiệu dáng hơi thấp, nước da ngăm ngăm, thân hình chắc nịch, mặt hơi gầy nhưng hiền hậu, đôi mắt đen, lanh lợi, dáng đi chắc, nói năng thận trọng từ tôn và nói sõi tiếng Việt. Bạn, ta gặp nhau dù quen hay không đều chạy tới ôm chầm vào nhau, vồ vập, hết người này đến người khác như những anh em ruột thịt xa cách nhau lâu ngày mới gặp lại. Không khí hân hoan vỡ ra bởi những âm thanh tíu tít lẫn lộn cả tiếng Lào, tiếng Việt, chỉ cốt nói để thỏa tấm lòng thương nhớ, chờ đợi nhau. Tôi đã đôi lần được hưởng cái hạnh phúc ấy trên các chiến trường Bắc Lào mà hôm nay mắt vẫn nhoè đi xúc động. Sau những phút nồng ấm, chúng tôi đưa đoàn bạn đi nắm tất cả các vị trí từ phía sau ra phía trước. Đến sát tiền duyên, đoàn cán bộ bạn tản ra, mỗi người tìm một vị trí quan sát thuận lợi theo ý định và nhiệm vụ của mình. Khăm Kiệu đi đến từng người một, chỉ chỉ chỏ chỏ, nói với cán bộ của mình như dặn dò những chỗ, những điểm cần chú ý. Trước khi ra về để dẫn quân vào, Khăm Kiệu thay mặt đoàn cán bộ Lào nói:

- Cảm ơn các đồng chí. Các đồng chí đã tạo những điểm hiệu, những lợi thế tốt nhất cho chúng tôi. Chắc chắn chúng tôi sẽ thực hiện thay quân đúng kế hoạch, bí mật, sẽ hoàn thành nhiệm vụ và luôn mong muốn sự hỗ trợ của các đồng chí.


Đơn vị bạn đã tiếp quản xong tất cả các vị trí. Mọi hoạt động của bạn vẫn diễn ra đúng như trước đây ta vẫn làm nên địch không hề biết. Bạn đã yên tâm, Khăm Kiệu hoạt bát hẳn lên, dáng đi thoăn thoắt nhanh nhẹn, khác hẳn những ngày đầu vào thâm nhập khu vực phòng ngự.


Sắp hành quân về phía sau, lòng tôi rộn ràng mừng lo lẫn lộn. Trong đầu bao nhiêu câu hỏi xuất hiện: "Không biết có còn điều gì mình chưa nói hết với Khăm Kiệu không? Bạn còn khó khăn gì không?". Nhưng tôi nghĩ lại, qua các buổi diễn tập chiến đấu theo các tình huống giả định, bạn đã tỏ ra nắm vững ý đồ, nắm vững quyết tâm, kế hoạch tác chiến; trong xử trí của chiến sĩ có nơi còn sáng tạo hơn, nhanh hơn đáp án. Tôi hoàn toàn yên tâm.


Chào Khăm Kiệu ra về, nhưng chúng tôi cứ ôm lấy nhau, bịn rịn không muốn rời ra, miệng thì thầm:

- Cảm ơn bạn, chúng ta sẽ nhớ mãi những ngày này.

Một làn gió mát thổi qua, tôi buông tay, vừa đi vừa ngoảnh lại, tay vẫy vẫy:

- Tạm biệt, chúng ta nhất định sẽ chiến thắng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn