Chuyện phi công lái MiG-21 diệt F4 (Phantom - Con Ma) của Mỹ
Chuyện phi công lái MiG-21 diệt F4 (Phantom - Con Ma) của Mỹ
Vào một buổi chiều cuối tháng 11/2012, trong cái rét se lạnh của những ngày cuối Thu, đầu Đông, trong khuôn viên của Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam tại khu vực trưng bày chiếc MiG-21, một trong những chiếc máy bay đã tham gia trận “Điện biên phủ trên không” tháng 12/1972, tôi bắt gặp giọng nói sang sảng của người đàn ông đã lớn tuổi nhưng cơ bắp cuồn cuộn như thanh niên tuổi đôi mươi lộ rõ qua chiếc áo phông ngắn tay, bó sát người. Tôi bắt chuyện và được biết, ông là Nguyễn Hồng Mỹ, sinh năm 1946, quê ở huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An là phi công Việt Nam bắn rơi chiếc máy bay F4 đầu tiên trong chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam của đế quốc Mỹ năm 1972.
Trung tá Phạm Văn Phi, Trưởng phòng Nghiên cứu Sưu tầm - Quản lý nghiệp vụ, Bảo tàng LSQS Việt Nam tiếp nhận mũ bay do phi công Nguyễn Hồng Mỹ trao tặng, ngày 25/12/2012 Như đã hẹn khi gặp nhau tại Bảo tàng, tôi và đồng chí Trung tá Phạm Văn Phi, Trưởng phòng Nghiên cứu Sưu tầm - Quản lý nghiệp vụ (Sau là Đại tá, Phó Giám đốc), Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, tới gặp ông trong căn nhà nhỏ tại phố Cầu Đất, phường Chương Dương, thành phố Hà Nội, qua một vài câu chuyện xã giao, ông đưa cho chúng tôi xem một số hình ảnh, sách báo và chiếc mũ phi công, ông đã sử dụng trong khi lái máy bay MiG-21 đánh đuổi máy bay Mỹ trong những ngày chống chiến tranh phá hoại miền Bắc năm 1972 của đế quốc Mỹ, và những câu chuyện về những năm tháng khốc liệt nhưng rất đỗi hào hùng của người phi công đã từng hạ gục “con ma” F4, một trong những niềm kiêu hãnh của không lực Hoa Kỳ được ông kể cho chúng tôi. Năm 1965, khi đang là sinh viên của Đại học Kinh tế Hà Nội thì có đoàn khám tuyển về tuyển phi công, tôi đánh liều đăng kí đi khám tuyển nhưng trong lòng không bao giờ nghĩ mình có thể trúng tuyển bởi lúc đó cân nặng chỉ trên 50 kg. Ấy thế mà tôi lại trúng tuyển với số điểm cao sau kì sát hạch và nằm trong danh sách 120 học viên được cử sang Liên Xô đào tạo phi công lái máy bay. Một chương trình đào tạo học viên lái máy bay ở nước bạn phải mất 7 năm nhưng do nhu cầu tình hình chiến tranh cấp bách nên khóa học rút gọn trong vòng 3 năm. Tháng 3/1968, tốt nghiệp và trở về nước, tôi là một trong số các phi công đã tốt nghiệp điều khiển chiến đấu cơ MiG-21 cùng lứa với các phi công Vũ Xuân Thiều, Nguyễn Đức Soát, Nguyễn Tiến Sâm, Lê Thanh Đạo, Phạm Phú Thái... Về nước chỉ được phép nghỉ 2 ngày sau đó được điều động vào đơn vị chiến đấu biên chế tại Đại đội 1, Trung đoàn Tiêm kích 921, Quân chủng Phòng không – Không quân. Trong những ngày bom đạn ác liệt, mỗi lần xuất kích, phi công lái chiến đấu cơ như chúng tôi đều xác định rất có thể đây là chuyến bay cuối cùng của mình. Dù bay giữa bầu trời mênh mông xanh thẳm, hay xám xịt nặng nề, thậm chí những chuyến bay xuyên giữa màn đêm đen dày đặc cũng vậy… Chúng tôi đều thể hiện một quyết tâm sắt đá, một tinh thần quả cảm gan dạ, chỉ có chiến đấu giành chiến thắng, ở giữa bầu trời "không có đất" - ông Mỹ chia sẻ. Cuối năm 1968, Mỹ tuyên bố chấm dứt chiến tranh ở miền Bắc. Nhưng thực tế chiến tranh ngày càng leo thang và đặc biệt cuộc chiến trên không tại Khu 4 bắt đầu đi vào giai đoạn quyết liệt. Ngày 19/1/1972 trong trận "không đối không", giữa MiG-21 do phi công Nguyễn Hồng Mỹ điều khiển đã khiến máy bay F4 (Phantom - Con Ma) của Mỹ đã bị bắn cháy. Hôm đó, phi công Nguyễn Hồng Mỹ và phi công Lê Minh Dương nhận nhiệm vụ xuất kích từ sân bay Nội Bài. Nguyễn Hồng Mỹ bay ở vị trí số 1, Lê Minh Dương ở vị trí số 2 có nhiệm vụ yểm trợ và phối hợp tác chiến. Sở Chỉ huy thông báo có tốp máy bay địch gồm 24 chiếc bay ở độ cao 4000m. Có lẽ từ đầu chiến dịch, do chưa bị thất bại trong những lần "không đối không", địch rất chủ quan, sau khi gieo rắc tội ác, chúng thản nhiên bay đi mà không phát hiện hai máy bay MiG-21 của không quân Việt Nam săn đuổi. Cuộc rượt đuổi đến không phận thuộc tỉnh Thanh Hóa thì đèn tín hiệu thông báo máy bay do Nguyễn Hồng Mỹ điều khiển sắp hết nhiên liệu. Sở Chỉ huy yêu cầu Nguyễn Hồng Mỹ quay về để đảm bảo an toàn, nhưng Nguyễn Hồng Mỹ đã xin chỉ huy cố đuổi theo một đoạn nữa. Nguyễn Hồng Mỹ tăng tốc (khoảng 1400km/h) và lấy độ cao cùng máy bay địch, đuổi đến địa phận tỉnh Nghệ An, còn cách máy bay địch khoảng chừng 1500m, thời cơ chín muồi, Nguyễn Hồng Mỹ ấn nút điều khiển, hai quả tên lửa bay về phía trước. Một quầng sáng chói lòa bùng lên trước mắt Nguyễn Hồng Mỹ rồi nhanh chóng tắt lịm, chiếc máy bay địch bổ nhào xuống đất, vạch theo một vệt lửa khói kéo dài trên nền trời. Khi đó máy bay của Nguyễn Hồng Mỹ quá gần vùng cháy của chiếc máy bay địch. Trong một vùng không gian rộng, do máy bay bị cháy làm giảm lượng ô xy, khiến máy bay của Nguyễn Hồng Mỹ rơi vào trạng thái chết máy. Nếu lúc đó Nguyễn Hồng Mỹ nhảy dù thoát hiểm, máy bay của Nguyễn Hồng Mỹ cũng sẽ bị nổ. Nguyễn Hồng Mỹ bình tĩnh lượn vòng quay lại và hạ thấp độ cao. Qua khỏi vùng cháy, khởi động lại động cơ, Nguyễn Hồng Mỹ hạ cánh an toàn xuống sân bay Sao Vàng, Thọ Xuân, Thanh Hóa, cũng là lúc máy bay hết nhiên liệu. Sau trận không chiến đó, Trung úy phi công Nguyễn Hồng Mỹ được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tặng Huy hiệu Bác Hồ, phần thưởng cao quý dành cho những phi công bắn rơi máy bay Mỹ. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nguyên soái Bachisky, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Liên Xô cũng đến động viên biên đội, tìm hiểu, rút kinh nghiệm trận không chiến, đặc biệt là về lực lượng quá chênh lệch giữa biên đội của Nguyễn Hồng Mỹ với Không quân Hoa Kỳ. Sau khi rời quân ngũ, Nguyễn Hồng Mỹ làm việc tại Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam (Bộ Tài chính). Sau khi về hưu 2006, ông vẫn không nghỉ mà tham gia các hoạt động xã hội và tiếp tục công việc khác. Vào năm 2008, thông qua chương trình “Như chưa hề có cuộc chia ly”, ông Nguyễn Hồng Mỹ không thể nghĩ rằng, một ngày nào đó sẽ được gặp lại cả 2 viên phi công Mỹ từng có duyên nợ với ông: Đó là Dan Cherry (người đã bắn hạ ông) và John Stiles (người đã bị ông bắn hạ). Từ kẻ thù của nhau, họ trở thành những người bạn thân thiết, hàn gắn mối quan hệ giữa cựu binh hai nước. Ông Nguyễn Hồng Mỹ chia sẻ và cũng đã được viết trong cuốn “Phi công Mỹ ở Việt Nam” do Nhà Xuất bản Công an Nhân dân, xuất bản năm 2015: Sau chiến tranh, ông hay được những người “bạn” Mỹ mời sang nói chuyện. Ông đã được Chính phủ Mỹ tặng Huân chương Anh hùng, vì là phi công đầu tiên bắn rơi máy bay F2 Mỹ năm 1972. Thống đốc bang Kentucky cũng phong Đại tá danh dự cho ông và ảnh ông được dùng để phát hành một bộ tem, số tiền bản quyền đó đã được ông tặng cho Bảo tàng của bang. Hiện nay, ông Nguyễn Hồng Mỹ đã bước sang tuổi 76, dáng người đậm, trông rất cường tráng, đầy cá tính đúng với phong cách của người lính phi công. Hàng ngày, ông vẫn dành 2 giờ tập gym, đọc sách và giao lưu với bạn bè. Sau buổi nói chuyện hôm đó, ông Nguyễn Hồng Mỹ đã trao lại chiếc mũ phi công được Quân chủng Phòng không - Không quân trang bị năm 1968 trong khi thực hiện nhiệm vụ và cũng là chiếc mũ gắn với ông trong trận bắn rơi máy bay F4 của Không quân Mỹ, ngày 19/1/1972. Hiện nay chiếc mũ là hiện vật của Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam được lưu giữ, bảo quản và phát huy tác dụng./.Lâm Văn Phú
Trung tá Phạm Văn Phi, Trưởng phòng Nghiên cứu Sưu tầm - Quản lý nghiệp vụ, Bảo tàng LSQS Việt Nam tiếp nhận mũ bay do phi công Nguyễn Hồng Mỹ trao tặng, ngày 25/12/2012 Như đã hẹn khi gặp nhau tại Bảo tàng, tôi và đồng chí Trung tá Phạm Văn Phi, Trưởng phòng Nghiên cứu Sưu tầm - Quản lý nghiệp vụ (Sau là Đại tá, Phó Giám đốc), Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, tới gặp ông trong căn nhà nhỏ tại phố Cầu Đất, phường Chương Dương, thành phố Hà Nội, qua một vài câu chuyện xã giao, ông đưa cho chúng tôi xem một số hình ảnh, sách báo và chiếc mũ phi công, ông đã sử dụng trong khi lái máy bay MiG-21 đánh đuổi máy bay Mỹ trong những ngày chống chiến tranh phá hoại miền Bắc năm 1972 của đế quốc Mỹ, và những câu chuyện về những năm tháng khốc liệt nhưng rất đỗi hào hùng của người phi công đã từng hạ gục “con ma” F4, một trong những niềm kiêu hãnh của không lực Hoa Kỳ được ông kể cho chúng tôi. Năm 1965, khi đang là sinh viên của Đại học Kinh tế Hà Nội thì có đoàn khám tuyển về tuyển phi công, tôi đánh liều đăng kí đi khám tuyển nhưng trong lòng không bao giờ nghĩ mình có thể trúng tuyển bởi lúc đó cân nặng chỉ trên 50 kg. Ấy thế mà tôi lại trúng tuyển với số điểm cao sau kì sát hạch và nằm trong danh sách 120 học viên được cử sang Liên Xô đào tạo phi công lái máy bay. Một chương trình đào tạo học viên lái máy bay ở nước bạn phải mất 7 năm nhưng do nhu cầu tình hình chiến tranh cấp bách nên khóa học rút gọn trong vòng 3 năm. Tháng 3/1968, tốt nghiệp và trở về nước, tôi là một trong số các phi công đã tốt nghiệp điều khiển chiến đấu cơ MiG-21 cùng lứa với các phi công Vũ Xuân Thiều, Nguyễn Đức Soát, Nguyễn Tiến Sâm, Lê Thanh Đạo, Phạm Phú Thái... Về nước chỉ được phép nghỉ 2 ngày sau đó được điều động vào đơn vị chiến đấu biên chế tại Đại đội 1, Trung đoàn Tiêm kích 921, Quân chủng Phòng không – Không quân. Trong những ngày bom đạn ác liệt, mỗi lần xuất kích, phi công lái chiến đấu cơ như chúng tôi đều xác định rất có thể đây là chuyến bay cuối cùng của mình. Dù bay giữa bầu trời mênh mông xanh thẳm, hay xám xịt nặng nề, thậm chí những chuyến bay xuyên giữa màn đêm đen dày đặc cũng vậy… Chúng tôi đều thể hiện một quyết tâm sắt đá, một tinh thần quả cảm gan dạ, chỉ có chiến đấu giành chiến thắng, ở giữa bầu trời "không có đất" - ông Mỹ chia sẻ. Cuối năm 1968, Mỹ tuyên bố chấm dứt chiến tranh ở miền Bắc. Nhưng thực tế chiến tranh ngày càng leo thang và đặc biệt cuộc chiến trên không tại Khu 4 bắt đầu đi vào giai đoạn quyết liệt. Ngày 19/1/1972 trong trận "không đối không", giữa MiG-21 do phi công Nguyễn Hồng Mỹ điều khiển đã khiến máy bay F4 (Phantom - Con Ma) của Mỹ đã bị bắn cháy. Hôm đó, phi công Nguyễn Hồng Mỹ và phi công Lê Minh Dương nhận nhiệm vụ xuất kích từ sân bay Nội Bài. Nguyễn Hồng Mỹ bay ở vị trí số 1, Lê Minh Dương ở vị trí số 2 có nhiệm vụ yểm trợ và phối hợp tác chiến. Sở Chỉ huy thông báo có tốp máy bay địch gồm 24 chiếc bay ở độ cao 4000m. Có lẽ từ đầu chiến dịch, do chưa bị thất bại trong những lần "không đối không", địch rất chủ quan, sau khi gieo rắc tội ác, chúng thản nhiên bay đi mà không phát hiện hai máy bay MiG-21 của không quân Việt Nam săn đuổi. Cuộc rượt đuổi đến không phận thuộc tỉnh Thanh Hóa thì đèn tín hiệu thông báo máy bay do Nguyễn Hồng Mỹ điều khiển sắp hết nhiên liệu. Sở Chỉ huy yêu cầu Nguyễn Hồng Mỹ quay về để đảm bảo an toàn, nhưng Nguyễn Hồng Mỹ đã xin chỉ huy cố đuổi theo một đoạn nữa. Nguyễn Hồng Mỹ tăng tốc (khoảng 1400km/h) và lấy độ cao cùng máy bay địch, đuổi đến địa phận tỉnh Nghệ An, còn cách máy bay địch khoảng chừng 1500m, thời cơ chín muồi, Nguyễn Hồng Mỹ ấn nút điều khiển, hai quả tên lửa bay về phía trước. Một quầng sáng chói lòa bùng lên trước mắt Nguyễn Hồng Mỹ rồi nhanh chóng tắt lịm, chiếc máy bay địch bổ nhào xuống đất, vạch theo một vệt lửa khói kéo dài trên nền trời. Khi đó máy bay của Nguyễn Hồng Mỹ quá gần vùng cháy của chiếc máy bay địch. Trong một vùng không gian rộng, do máy bay bị cháy làm giảm lượng ô xy, khiến máy bay của Nguyễn Hồng Mỹ rơi vào trạng thái chết máy. Nếu lúc đó Nguyễn Hồng Mỹ nhảy dù thoát hiểm, máy bay của Nguyễn Hồng Mỹ cũng sẽ bị nổ. Nguyễn Hồng Mỹ bình tĩnh lượn vòng quay lại và hạ thấp độ cao. Qua khỏi vùng cháy, khởi động lại động cơ, Nguyễn Hồng Mỹ hạ cánh an toàn xuống sân bay Sao Vàng, Thọ Xuân, Thanh Hóa, cũng là lúc máy bay hết nhiên liệu. Sau trận không chiến đó, Trung úy phi công Nguyễn Hồng Mỹ được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tặng Huy hiệu Bác Hồ, phần thưởng cao quý dành cho những phi công bắn rơi máy bay Mỹ. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nguyên soái Bachisky, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Liên Xô cũng đến động viên biên đội, tìm hiểu, rút kinh nghiệm trận không chiến, đặc biệt là về lực lượng quá chênh lệch giữa biên đội của Nguyễn Hồng Mỹ với Không quân Hoa Kỳ. Sau khi rời quân ngũ, Nguyễn Hồng Mỹ làm việc tại Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam (Bộ Tài chính). Sau khi về hưu 2006, ông vẫn không nghỉ mà tham gia các hoạt động xã hội và tiếp tục công việc khác. Vào năm 2008, thông qua chương trình “Như chưa hề có cuộc chia ly”, ông Nguyễn Hồng Mỹ không thể nghĩ rằng, một ngày nào đó sẽ được gặp lại cả 2 viên phi công Mỹ từng có duyên nợ với ông: Đó là Dan Cherry (người đã bắn hạ ông) và John Stiles (người đã bị ông bắn hạ). Từ kẻ thù của nhau, họ trở thành những người bạn thân thiết, hàn gắn mối quan hệ giữa cựu binh hai nước. Ông Nguyễn Hồng Mỹ chia sẻ và cũng đã được viết trong cuốn “Phi công Mỹ ở Việt Nam” do Nhà Xuất bản Công an Nhân dân, xuất bản năm 2015: Sau chiến tranh, ông hay được những người “bạn” Mỹ mời sang nói chuyện. Ông đã được Chính phủ Mỹ tặng Huân chương Anh hùng, vì là phi công đầu tiên bắn rơi máy bay F2 Mỹ năm 1972. Thống đốc bang Kentucky cũng phong Đại tá danh dự cho ông và ảnh ông được dùng để phát hành một bộ tem, số tiền bản quyền đó đã được ông tặng cho Bảo tàng của bang. Hiện nay, ông Nguyễn Hồng Mỹ đã bước sang tuổi 76, dáng người đậm, trông rất cường tráng, đầy cá tính đúng với phong cách của người lính phi công. Hàng ngày, ông vẫn dành 2 giờ tập gym, đọc sách và giao lưu với bạn bè. Sau buổi nói chuyện hôm đó, ông Nguyễn Hồng Mỹ đã trao lại chiếc mũ phi công được Quân chủng Phòng không - Không quân trang bị năm 1968 trong khi thực hiện nhiệm vụ và cũng là chiếc mũ gắn với ông trong trận bắn rơi máy bay F4 của Không quân Mỹ, ngày 19/1/1972. Hiện nay chiếc mũ là hiện vật của Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam được lưu giữ, bảo quản và phát huy tác dụng./.Lâm Văn Phú


