Bài viết

Chuyện tình bên dòng Xê-ca-mán

Mồng chín tháng Giêng xuân Giáp Thân (2004), tôi được dự cuộc gặp mặt đầu Xuân của nhóm biên soạn Lịch sử Quân y Trường Sơn. Căn nhà gỗ ở thành phố Vinh được Đại tá, bác sĩ Nguyễn Khắc Tuyên chọn mượn làm địa điểm gặp mặt. Nhóm biên soạn gồm mười mấy CCB đều đã lục tuần thất tuần, tôi là khách chầu rìa cũng “ngũ thập huyên thuyên”...

Hà Tĩnh10/04/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Mồng chín tháng Giêng xuân Giáp Thân (2004), tôi được dự cuộc gặp mặt đầu Xuân của nhóm biên soạn Lịch sử Quân y Trường Sơn. Căn nhà gỗ ở thành phố Vinh được Đại tá, bác sĩ Nguyễn Khắc Tuyên chọn mượn làm địa điểm gặp mặt. Nhóm biên soạn gồm mười mấy CCB đều đã lục tuần thất tuần, tôi là khách chầu rìa cũng “ngũ thập huyên thuyên”. Đang chuyện trò rôm rả bỗng anh Nguyễn Phương Thoan đứng lên trịnh trọng:

- Thưa anh em đồng đội, Xuân này tôi 64 tuổi. Ban đầu định sống để bụng chết mang đi, nhưng bữa nay tôi xin được tự thú trước anh em chuyện tình sét đánh xảy ra cách nay 30 năm bên dòng Xê-ca-mán. Mong mọi người nghe và ghi nhận lời sám hối muộn màng của lão già này, qua đó muốn nhận được sẻ chia thông cảm nhiều hơn.

…Cuối năm 1973 từ Thượng Lào, Trung đoàn của Nguyễn Phương Thoan được lệnh xuống Nam Lào tham gia chiến dịch lớn sắp mở màn. Hành quân bằng ca-nô theo dòng Xê-ca-mán, mấy ngày anh sốt li bì, quân y dùng cơ số thuốc cao nhất vẫn không thể cắt sốt. Khi đoàn quân ngang qua bản Pài huyện Xay-thệt Thà, tỉnh A-tô-pơ, ban chỉ huy gửi anh trong nhà dân, cử một y tá, một trinh sát ở lại cùng gia chủ chạy chữa thuốc thang. Chủ nhà thuộc diện thế lực trong vùng, có 6 con trai thì nửa trốn theo bộ đội Pa-thét, nửa bị bắt đi lính ngụy Lào, còn mỗi gái út Si-li-sa ở nhà phụ giúp bố mẹ. Là con cưng của gia đình khá giả, Si-li-sa được học hành tử tế, nhất là vốn Pháp văn của cô khá phong phú.

Từ hôm trong nhà có bộ đội tình nguyện Việt Nam trú ngụ, hằng ngày Si-li-sa lấy cớ giúp mẹ lên nương để che mắt kẻ xấu trà trộn trong bản, thực ra cô vào rừng tìm hái các thứ lá, để bố chế cắt sốt cho anh. Sau một tuần vẫn chưa cắt được cơn sốt, hai chiến sĩ được cử làm nhiệm vụ phải lên đường đuổi theo đơn vị, chỉ còn Thoan ở lại tiếp tục điều trị.

Hết tuần thứ 4 cơn sốt được tống khứ ra khỏi cơ thể tiều tụy, anh chờ tuần thứ 5, rồi tuần thứ 6 vẫn không thấy người đơn vị trở lại đón. Mấy lần khoác ba lô chia tay gia đình để đi tìm đơn vị, bấy lần bị ông chủ nhà ngăn lại:

-Anh biết đâu mà tìm. Nếu biết địa điểm đơn vị trú chân, bố và Si-li-sa sẽ đưa anh đến bàn giao tận nơi.

Dân bản Xại làm lễ buộc chỉ cổ tay cho ông Thoan.

Một chiều nọ đang ngồi cô đơn như thế, ngoảnh lại anh giật mình thấy Si-li-sa ngồi sau lưng tự bao giờ. Rồi những chiều tiếp đó dòng suối lung linh in bóng hai người. Si-li-sa dạy anh học tiếng Pháp, anh dạy cô nói tiếng Việt, không hiểu sức mạnh của tình yêu hay của tư chất thông minh, qua vài tháng Si-li-sa nói khá chuẩn tiếng Việt, hát được Giận thì giận và thương thì thương dân ca xứ Nghệ và Người ở đừng về quan họ Bắc Ninh.

Mười một năm làm nhiệm vụ quốc tế trên đất bạn, nay Thoan mới được nghe thôn nữ Lào hát dân ca Việt bằng tiếng Việt. Anh nhận ra trong giọng hát của Si-li-sa đã pha thổ âm xứ Nghệ quê anh-thứ thổ âm trong như nước sông Lam, được Si-li-sa giữ lại trong ánh mắt biết nói, trong động tác diễn xuất y chang của thiếu nữ Việt, khiến anh cồn cào nhớ vợ nhớ con, nhớ quê hương xứ sở , nơi ấy vợ anh đang tay xách nách mang hai đứa con thơ.

Xuân 1974.

Chiều ấy Si-li-sa và anh lại ra sông giúp mẹ tưới rau và nghe cô hát nhiều hơn mọi ngày. Tiếng hát Si-li-sa hòa trong nắng gió ngàn, mênh mang dập dờn theo dòng Xê-ca-mán. Rồi Si-li-sa ngừng hát, đắm đuối nhìn anh:

- Đạn bom không san được dãy Trường Sơn, đạn bom không ngăn được tiếng hát của em dành cho bộ đội Việt Nam.

Chỉ có nắng gió tràn trề, chỉ còn tiếng sóng dội vào bờ Xê-ca-mán chứng kiến tình yêu của Si-li-sa tự nguyện hiến trọn cho anh. Những ngày tiếp đó điều Si-li-sa sợ nhất là đơn vị cử người đến đón anh đi. Rồi thời khắc Si-li-sa sợ nhất đã đến, tốp bốn chiến sĩ tình nguyện Việt Nam tìm vào bản Pài, hỏi đường vào nhà cô.

Chiều 8-3-1974 cô cùng mọi người tiễn Thoan ra bến sông để lên ca-nô. Đứng một mình trên mô đất, cô như ngầm nói với anh hãy khắc ghi, hãy lưu giữ buổi chiều đặc biệt bên sông... Khi chiếc ca-nô đưa tốp chiến sĩ Việt Nam ra giữa dòng Xê-ca-mán, anh dõi vào vẫn thấy Si-li-sa đứng một mình vẫy theo và tới phút cuối của cuộc chia ly không hẹn ngày tái ngộ, cô vẫn dấu kín cái điều anh muốn biết.

Khoảng đầu năm 1975, đồng chí Bùi Chư-Chủ nhiệm chính trị Trung đoàn, thay mặt đơn vị trở lại cảm tạ gia đình Si-li-sa hết lòng cưu mang bộ đội Việt Nam. Thấy Bùi Chư chăm chú nhìn bé gái 4 tháng tuổi đẹp như thiên thần, vợ chồng chủ nhà động viên con gái nói ra sự thật. Si-li-sa e ấp nhận hết “tội lỗi” về mình, cô chắp tay van xin đơn vị tha thứ cho Thoan. Đêm ấy cô thức rất khuya biên thư thăm anh, kể cho anh nghe nhiều chuyện về con. Khi đồng chí Bùi Chư về tới đơn vị đang đóng quân ở mặt trận phía Nam Việt Nam, trước đó mấy hôm Nguyễn Phương Thoan và một số cán bộ chiến sĩ của Trung đoàn đã lên đường ra Bắc điều dưỡng.

Xuân năm 1975.

Ra Hà Nội công tác, Chủ nhiệm Bùi Chư tranh thủ tìm đến trại điều dưỡng thăm Thoan. Sáng 22-3-1975 hai anh em đi thăm chùa Tây Phương, đến gần trưa hai người ra ngoài lan can đứng hóng mát, mãi đến lúc ấy Thoan không ngờ “chuyện động trời” sắp ập đến với mình.

Đồng chí Bùi Chư lặng nhìn chàng sĩ quan thuộc quyền, lát sau ông mở ca táp lấy ra tập thư viết bằng chữ Lào trao cho anh:

- May cho cậu, đến giờ chỉ tớ biết chuyện này, nhưng trước hết cậu phải cảm ơn Si-li-sa. Ngoài lá thư cô ấy nhờ mình mang về, mấy lá thư tiếp đó cô ấy gửi theo hòm thư đơn vị, tất cả đều viết bằng chữ Lào, tớ tìm cách “ôm” hết để có ngày giao cho cậu. Việc đã vậy rồi, trước mắt cậu yên tâm điều dưỡng, tập trung suy nghĩ thật kỹ và chọn thời điểm thích hợp thú tội với bà xã. Việc giải quyết “tư tưởng hậu phương” sẽ khó khăn nặng nề, nếu cậu thấy quá sức cứ báo để mình hỗ trợ. Chúc vạn sự tốt lành.

Sau lễ buộc chỉ cổ tay, ông Thoan và bà Si-li-sa (thứ 2 từ trái sang) lăm-vông cùng bà con bản Xại.

Năm 1976 anh nghỉ phép 10 ngày. Tạm gửi hai con cho ông bà, anh bảo chị đóng hết cửa trong cửa ngoài để anh nói những lời nặng hơn núi Thái Sơn. Vợ anh tím tái mặt mày, hai ngày liền nằm vật vã trong buồng chẳng thiết ăn uống. Nỗi đau như thế nhưng nghĩ lại thì việc đã xảy ra với anh, muốn hay không vẫn đồng hành với chị, đúng hơn là đồng hành với sự tồn tại hay không tồn tại của tổ ấm gia đình hai người chung tay vun đắp. Giữa lúc nước sôi lửa bỏng chị thừa hiểu câu trả lời hoàn toàn nằm ở phía mình, ở buồng tim đang rỉ máu của mình.

Mười ngày phép đã hết, sáng mai anh trở lại trạm điều dưỡng, đêm ấy chị ôm tấm thân gầy yếu của anh mà nước mắt nghẹn ngào:

-Em trách anh một, em trách sự khốc liệt tàn bạo của cuộc chiến này gấp ngàn lần. Trong sống chết gang tấc con người ta càng muốn hy sinh dâng hiến cho nhau. Anh gắng thu xếp để sớm sang thăm mẹ con dì ấy.

Một chiều hè năm 1996.

Nguyễn Phương Thoan đang bách bộ bên đại lộ Hồ Tùng Mậu, thành phố Vinh, tình cờ mấy lữ khách đang trò chuyện với nhau bằng tiếng Lào. Anh chủ động dùng tiếng Lào làm quen. Khách cho biết là thành viên của Bộ Giáo dục Lào, do Thứ trưởng dẫn đầu sang làm việc với tỉnh Nghệ An. Nghe anh kể 11 năm chiến đấu trên chiến trường Lào với những kỷ niệm khó quên, họ vui vẻ giúp anh mang bức thư gửi theo theo địa chỉ cũ để tìm bà Si-li-sa.

Sau gần một phần tư thế kỷ bị đứt đoạn, lá thư đã hoàn thành sứ mạng nối kết thông tin hai mái Đông-Tây Trường Sơn của hai phía đời anh. Lá thư giúp cho Thô-xay-la, con gái anh biết vẫn có cha là người Việt, đang sống trên đất Việt dù chưa gặp bao giờ.

“... Cha muôn vàn kính yêu. Ngày 4-8-1996 vừa qua con đã nhận được thư và ảnh của cha... Nếu như đời con có cha bên cạnh để cùng mẹ tháng ngày chăm nom nuôi dạy, cho con được học hành chu đáo đến nơi đến chốn thì đâu đến nỗi này. Càng lớn con càng cảm nhận sự thiệt thòi khi sống thiếu người cha bên cạnh. Tại sao cha không đến đỡ đần cho con dù chỉ một lần? Con gái của cha đã xây dựng gia đình rồi, chúng con sinh được ba cháu, hai trai đầu và gái thứ ba... Con thực sự muốn đi tìm cha lắm, hiềm nỗi đã nghèo vì tiền bạc, lại không biết mặt mũi cha như thế nào. Rồi nữa, tiếng Việt chữ Việt đều không biết thì làm sao tìm cha được cha ơi! Con hy vọng rồi đây cha sẽ tìm đến với con để con được gục vào lòng cha mà khóc cho bõ tháng năm dài cách biệt. Ngày lại ngày con chỉ có mẹ, có chồng và các cháu, còn cha thì cứ vắng bóng mãi sao? Mẹ không lấy chồng nữa, mẹ nói lấy ai thì cũng không bằng cha. Ông ngoại mất khi con mới lên 2 tuổi, bà ngoại nay đã già yếu lắm rồi...”.

Ông Thoan và con gái Thô-xay-la.

Trong thư, con gái anh còn cho biết hai mẹ con cô và bản làng nay đã chuyển đến địa điểm mới, bản cũ phải nhường mặt bằng cho một dự án dân sinh đang chuẩn bị triển khai thi công…

Thư từ qua lại, mãi đến 14 năm sau, Thoan mới có điều kiện trở lại thăm mẹ con Si-li-sa. Ngày 27-3-2010 lên xe rời thành phố Vinh, tối anh và Hương Lam (con gái thứ hai của vợ chồng anh) đã có mặt tại thủ đô Viêng Chăn của nước bạn Lào, rồi từ đó hai bố con tiếp tục hành trình gần 1000 cây số về bản Xại (bản mới) tỉnh A-tô-pơ.

…Bản làng nay đã hoàn toàn đổi khác, anh ngỡ ngàng bị vây giữa bà con dân bản đã đứng vòng trong vòng ngoài. Phút bỡ ngỡ qua nhanh, 5 đứa cháu ngoại vây quanh, trong đó hai đứa nhỏ nhất níu chặt tay ông như là thân quen tự lâu rồi.

Khoảng nửa giờ sau mới thấy bà Si-li-sa trở về nhà, mới hay bà đang chơi bên hàng xóm, được con gái tìm đến báo tin bà chạy bộ về nhà. “Si-li-sa nhìn mình với ánh mắt bình tĩnh không để lộ vẻ gì, mình giới thiệu Hương Lam là con gái thứ hai cùng đi. Em mỉm cười thân thiện hỏi “khỏe không”? Em gầy, đen, tóc nhiều chỗ đã đốm bạc. Giọng nói vẫn nhỏ nhẹ, nụ cười không dấu hết nỗi buồn, đặc biệt ánh mắt em thăm thẳm của một đời chịu đựng, suy tư….”, ông ghi trong nhật ký như vậy.

Tối ấy khi khách đã vãn, Hương Lam quay ra nhà trọ nghỉ ngơi, anh và Si-li-sa lên nhà trên nói chuyện. Si-li-sa kể anh nghe tháng ngày vượt cạn, rồi nuôi con một mình… mà không hề có lấy một lời trách móc giận hờn, khiến anh day dứt, ngậm ngùi, ân hận vô cùng, càng thương Si-li-sa chục năm nay phải chống chọi với bệnh bướu cổ và dạ dày, từng lên Viêng Chăn điều trị suốt hai năm vẫn chưa thuyên giảm.

Dường như suy nghĩ của anh về cuộc đời Si-li-sa ai đó đã biết, để rồi gói hết vào trong bài Muối dưa vỏn vẹn 4 câu:

Mai đi về phía cầu vồng/Khi về cải đã lên ngồng, khổ chưa!

Em ngồi phơi kỷ niệm xưa/Muối thời con gái làm dưa ăn dần.

Trước hôm lên đường trở về đất Việt, bà con dân bản tập trung tại nhà Si-li-sa làm lễ buộc chỉ cổ tay (chúc phúc) cho bố con anh. Từng 11 năm sống chiến đấu trên đất Lào, nhiều lần anh chứng kiến tục lễ tốt đẹp của nhân dân Lào, nhưng để tổ chức hẳn một lễ buộc chỉ cổ tay đưa tiễn bố con anh, thì diễm phúc lớn này lần đầu trong đời anh mới được hưởng.

Hôm sau chia tay, bà con dân bản tập trung đứng hai bên đường lưu luyến đưa tiễn. Si-li-sa rưng rưng nhìn anh, từ lúc nào Thô-xay-la đã đầm đìa nước mắt. Con gái muốn nói với cha nhiều lắm nhưng không cất thành lời.

Trở về Vinh, mấy hôm sau Nguyễn Phương Thoan hồ hởi đạp xe đến báo tin với bạn bè, thân hữu, anh bộc bạch với tôi:

- “Chuyến đi sám hối” của anh có thể nói đã trọn tình vẹn nghĩa, từ nay nếu có mệnh hệ gì anh cũng đỡ phần áy náy em ạ.

Không ngờ trăn trở đáy lòng lại như là điềm báo, từ Lào về năm trước, năm sau phát hiện anh bị ung thư phổi. Tổ chức đám cưới cho đứa con trai xong, 8 hôm sau, ngày 14-4-2012 anh thanh thản ra đi.

Trước khi chấp bút viết chuyện tình bên dòng Xê-ca-mán, tôi trở lại nhà anh ở đường Văn Đức Giai, phường Hưng Bình, thành phố Vinh dâng hương xin anh viết người thật, việc thật, tên tuổi địa chỉ thật ở đôi phía Trường Sơn. Chị Quyền kể lại:

Phút cuối anh ngồi tựa lưng vào người chị thế này này. Một tay chị làm gối đỡ phần đầu, một tay xoa ngực cho anh đỡ cơn đau. Bỗng anh mở mắt nhìn chị mà không nói gì rồi từ từ lịm dần. Anh “đi” giữa vòng tay của chị, chị cảm nhận anh rất toại nguyện và thanh thản vô cùng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn