Chuyện về anh hùng “bắt” máy bay Mỹ
Vũ Đức Chính nhập ngũ năm 1960 và công tác tại lực lượng ra-đa của Quân chủng Phòng không - Không quân. Trong kháng chiến chống Mỹ, ông không chỉ sửa chữa hàng trăm thiết bị ra-đa mà còn có nhiều sáng kiến quan trọng giúp bảo vệ bầu trời miền Bắc. Nhận thấy các trạm ra-đa ở đồng bằng dễ bị máy bay Mỹ phát hiện và đánh phá, ông mạnh dạn đề xuất đưa ra-đa lên đỉnh núi. Sau khi triển khai thành công tại núi U Bò ở Quảng Trị, tầm quan sát của ra-đa được mở rộng đáng kể, giúp phát hiện sớm máy bay đ
Với sáng kiến đưa ra-đa lên đỉnh núi, cùng nhiều kinh nghiệm trong kháng nhiễu, nhận diện máy bay B52, Anh hùng LLVT nhân dân Vũ Đức Chính, trú tại Vũ Đức Chính nhập ngũ năm 1960 và công tác tại lực lượng ra-đa của Quân chủng Phòng không - Không quân. Trong kháng chiến chống Mỹ, ông không chỉ sửa chữa hàng trăm thiết bị ra-đa mà còn có nhiều sáng kiến quan trọng giúp bảo vệ bầu trời miền Bắc.
Nhận thấy các trạm ra-đa ở đồng bằng dễ bị máy bay Mỹ phát hiện và đánh phá, ông mạnh dạn đề xuất đưa ra-đa lên đỉnh núi. Sau khi triển khai thành công tại núi U Bò ở Quảng Trị, tầm quan sát của ra-đa được mở rộng đáng kể, giúp phát hiện sớm máy bay địch và hỗ trợ hiệu quả cho nhiều chiến dịch lớn.
Bên cạnh đó, ông còn nghiên cứu và chia sẻ kinh nghiệm kháng nhiễu, nhận diện chính xác máy bay Boeing B-52 Stratofortress dựa trên độ cao bay và đặc điểm tín hiệu. Những kinh nghiệm này được phổ biến rộng rãi trong lực lượng phòng không, góp phần giúp quân dân ta đánh bại các cuộc tập kích đường không của Mỹ, đặc biệt trong Chiến dịch Điện Biên Phủ trên không.
Với những đóng góp xuất sắc cho sự nghiệp bảo vệ bầu trời Tổ quốc, ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Câu chuyện của ông là tấm gương về sự sáng tạo, tinh thần trách nhiệm và ý chí vượt khó của người lính kỹ thuật trong chiến tranh. đã có những đóng góp tích cực, giúp quân và dân ta tiêu diệt hiệu quả “đám giặc trời”, lập nên những chiến công vang dội trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Đồng chí Vũ Đức Chính khi còn trong quân ngũ. Một trong những khó khăn mà lực lượng phòng không của ta phải đối mặt thời đó, chính là không quân Mỹ có phương tiện trinh sát rất hiện đại. “Mình di chuyển trận địa đến đâu, Mỹ phát hiện và đánh phá đến đó. Tôi đã nhiều lần thoát chết chỉ trong gang tấc, khi trạm ra-đa bị trúng bom”, cựu chiến binh Vũ Đức Chính nhớ lại. Vì vậy, ông luôn trăn trở, làm sao để hạn chế tối đa khả năng phát hiện của địch đối với các trạm ra-đa của ta. Nhận thấy, việc bố trí ra-đa ở khu vực đồng bằng vừa hạn chế tầm hoạt động vừa khiến địch dễ quan sát, ông Chính tham mưu cho chỉ huy đơn vị đưa ra-đa lên đỉnh núi.Đây là ý tưởng táo bạo, mang tính đột phá nhưng rất khó thực hiện, thậm chí bị cho là không khả thi. Bởi để đưa được ra-đa lên núi phải tháo rời các bộ phận, cần nhiều người vận chuyển, đi qua quãng đường dài hiểm trở, rất dễ hỏng hóc. Tuy nhiên, từ quá trình nghiên cứu cẩn thận, tỉ mỉ và sự quyết tâm, ông Chính đã thuyết phục được chỉ huy đơn vị nhất trí với phương án đưa ra-đa lên núi. Sau một tháng vận chuyển, lắp ráp, trận địa ra-đa đầu tiên được bố trí trên đỉnh núi U Bò thuộc địa bàn xã Bố Trạch, tỉnh Quảng Trị ngày nay.Cựu chiến binh Vũ Đức Chính cho biết: “Ngay khi đưa lên núi, hiệu quả hoạt động của ra-đa tăng lên rõ rệt, chúng tôi có thể phát hiện máy bay Mỹ khi chúng vừa cất cánh ở căn cứ trên lãnh thổ Thái Lan và từ Hạm đội 7 ở Biển Đông”. Được rừng núi che chở nên trận địa ra-đa trên đỉnh núi U Bò không bị Mỹ phát hiện và đánh phá, hoạt động ổn định, kịp thời phát hiện máy bay địch và thông báo cho các đơn vị của ta có phương án ứng phó hiệu quả, góp phần làm nên chiến thắng Khe Sanh, Đường 9 - Nam Lào,…
Anh hùng LLVT nhân dân Vũ Đức Chính ôn lại kỷ niệm chiến trường. Cùng với thành công trong việc đưa ra-đa lên đỉnh núi, cựu chiến binh Vũ Đức Chính còn đóng góp nhiều kinh nghiệm trong việc kháng nhiễu, nhận diện chính xác máy bay B52. Ông Chính chia sẻ: “Thủ đoạn gây nhiễu của Mỹ rất tinh vi, ra-đa của ta phát ra tần số nào, chúng lại phát đúng tần số đó, do đó màn hình của ta trắng xóa, không thể phát hiện máy bay địch”.Để khắc phục tình trạng này, theo ông Chính, ta cần đổi tần số. Tuy nhiên, như vậy vẫn chưa đủ, bằng kinh nghiệm sửa chữa ra-đa và nhiều lần đối mặt với các loại máy bay Mỹ, ông Chính rút ra đặc điểm, B-52 thường bay ở độ cao 9 đến 11km, bay ở độ cao 5 đến 7km là các loại máy bay cường kích, còn máy bay trinh sát thường bay ở độ cao khoảng 4km. Dựa vào quy tắc đó, kết hợp với máy đo độ cao và điều chỉnh cánh sóng thu sẽ phát hiện được B-52.Nhờ kinh nghiệm mà ông Chính chia sẻ, Trung đoàn 290 đã phát hiện và tiêu diệt hiệu quả B52, kinh nghiệm này cũng được phổ biến trong toàn lực lượng phòng không của ta thời đó, cùng quân dân miền Bắc, làm nên trận Điện Biên Phủ trên không.Cùng với hai chiến công kể trên, theo cuốn Đơn vị, cá nhân Anh hùng LLVT nhân dân và Anh hùng Lao động của Quân chủng Phòng-Không quân, trong kháng chiến chống Mỹ, cựu chiến binh Vũ Đức Chính sửa chữa được gần 500 lần/chiếc các loại máy ra-đa khác nhau, sửa chữa thành thạo các loại ra-đa sóng mét (II-10, 513K, 514, II-12, 406…), ra-đa sóng cen-ti-mét (II-35).Với thành tích và đóng góp xuất sắc, ngày 6-11-1978, đồng chí Vũ Đức Chính vinh dự được trao tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân. Trong quá trình công tác, ông cũng được tặng nhiều huân chương cao quý, danh hiệu thi đua./.


