Chuyện về Anh hùng LLVTND Cao Triều Phát
Tên thật: Cao Triều Phát Sinh ngày: 17/4/1889 Quê quán: Làng Vĩnh Lợi, tổng Thanh Hóa, tỉnh Bạc Liêu (nay là thành phố Bạc Liêu) Chức vụ: Phó Chủ nhiệm Mặt trận Việt Minh tỉnh Bạc Liêu, Ủy viên Trung ương lâm thời của Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khóa I (1955), Cố vấn Ủy ban Hành chính kháng chiến Nam bộ, Đại biểu Quốc hội và Ủy viên Thường trực Quốc hội Khóa I
Cao Triều Phát là một trong những nhân vật lịch sử đặc biệt của tỉnh Bạc Liêu và trong phong trào cách mạng Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Sinh ra trong một gia đình giàu có và có truyền thống yêu nước, Cao Triều Phát đã sớm tham gia hoạt động cách mạng và cống hiến hết mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Với phẩm chất lãnh đạo xuất sắc và lòng yêu nước nồng nàn, ông đã từ bỏ cuộc sống giàu sang để bước vào con đường đấu tranh, góp phần quan trọng trong việc xây dựng và lãnh đạo Mặt trận Việt Minh ở Bạc Liêu.
Cao Triều Phát sinh ngày 17 tháng 4 năm 1889 tại làng Vĩnh Lợi, tổng Thanh Hóa, tỉnh Bạc Liêu. Cha ông, Cao Minh Thành, là một người có uy tín lớn trong cộng đồng và có công lớn trong việc chiêu dân khai hoang lập ấp. Mặc dù gia đình ông có nền tảng kinh tế vững chắc, Cao Triều Phát từ nhỏ đã chịu ảnh hưởng sâu sắc của cha mình về lòng yêu nước, và chính điều này đã định hướng con đường hoạt động của ông sau này.
Sau khi hoàn thành việc học tại Trường Chasseloup Laubat ở Sài Gòn, Cao Triều Phát làm thư ký kiêm thông ngôn tại cơ quan tư pháp ở Bạc Liêu. Tuy nhiên, sau khi chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ, ông bị điều động đi lính và làm thông ngôn cho một đơn vị lính thợ người Việt sang Pháp. Những ngày sống trên đất Pháp, ông không chỉ làm công việc chuyên môn mà còn tích cực tham gia các hoạt động bảo vệ quyền lợi của những người lính thợ Việt Nam. Thế chiến kết thúc, ông được phép về nước chịu tang cha và tiếp tục tham gia các hoạt động cách mạng.
Năm 1920, Cao Triều Phát quay lại Pháp để theo học ngành canh nông. Trong thời gian này, ông tích cực tham gia các hoạt động xã hội và có cơ hội tiếp xúc với các chính khách và thủ lĩnh công đoàn cánh tả tại Pháp. Cùng với các chí sĩ yêu nước như Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, ông đã tham gia vào các buổi thuyết trình về Việt Nam để nâng cao nhận thức của công chúng Pháp về tình hình đất nước. Sau khi về nước, ông tiếp tục công việc chiêu dân khai hoang lập ấp của cha mình và trở thành một đại phú hộ giàu có.
Nhưng đến năm 1933, Cao Triều Phát gia nhập tôn giáo Cao Đài và trở thành lãnh tụ của phái Cao Đài Hậu Giang. Trong vai trò lãnh đạo, ông đã vận động tín đồ đạo Cao Đài tham gia vào phong trào cách mạng và kháng chiến chống thực dân Pháp. Ông nổi tiếng với câu nói: “Bàn thờ tôn giáo thì nhiều, nhưng bàn thờ Tổ quốc chỉ có một” và “Hành đạo là kháng chiến, kháng chiến là hành đạo”.
Tháng 8 năm 1945, khi Mặt trận Việt Minh Bạc Liêu được thành lập, ông được giao làm Phó Chủ nhiệm. Với sự tham gia của đồng bào Cao Đài do ông lãnh đạo, Mặt trận Việt Minh đã trở thành một lực lượng mạnh mẽ ở Bạc Liêu. Ông hiến tặng 5.000 hecta ruộng đất cho chính phủ cách mạng lâm thời và được bầu làm Chủ tịch Ủy ban Hành chính kháng chiến tỉnh Bạc Liêu. Dưới sự chỉ huy của ông, Mặt trận đã chiến đấu quyết liệt chống lại sự tái chiếm của thực dân Pháp tại Nam Bộ.
Năm 1947, trong khi làm cố vấn cho Ủy ban Hành chính kháng chiến Nam bộ, ông nhận được một bức thư từ Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đó Hồ Chủ tịch ghi nhận công lao của ông và hy vọng gặp ông trong tương lai. Tháng 9 năm 1954, sau khi miền Bắc giải phóng, ông nhận lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh và ra Bắc tham dự Đại hội thành lập MTTQ Việt Nam, nơi ông được bầu vào Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam.
Một kỷ niệm đặc biệt mà ông luôn trân trọng là vào dịp Tết 1955, trong bữa tiệc tại Chủ tịch phủ, Bác Hồ đã bắt tay ông, người khách lớn tuổi nhất, và con trai ông, người khách nhỏ tuổi nhất. Những kỷ niệm quý giá này thể hiện sự trân trọng của Hồ Chủ tịch đối với Cao Triều Phát.
Với những đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng, Cao Triều Phát được Đảng và Nhà nước ghi nhận và tôn vinh. Tuy nhiên, vì bạo bệnh, ông qua đời vào ngày 8 tháng 9 năm 1956, hưởng thọ 67 tuổi. Cuộc đời và sự nghiệp của ông là một tấm gương sáng ngời về tinh thần yêu nước, sự hy sinh và cống hiến hết mình cho sự nghiệp độc lập, tự do của dân tộc.



