CHUYỆN VỀ GIA ĐÌNH MẸ LÊ THỊ KHÁM
Thuở sinh thời, người con gái chân quê Lê Thị Khám, gặp chàng nông dân
Nguyễn Thế Chắt trong buổi hai người cùng đi làm đồng. Anh Chắt cày ruộng ở
cánh đồng làng Tri Yếu, chị Khám cắt cỏ ở gần bên. Sau cái buổi ban đầu ấy, họ
quen nhau rồi thân nhau. Ý hợp tâm đầu, chẳng mấy mà hai người yêu nhau.
Như bao lứa đôi khác, họ thường gặp nhau. Anh Chắt năng đến nhà chị
Khám. Vào cuối năm 1938, đám cưới của hai người được cha mẹ hai bên lo liệu.
Đôi vợ chồng trẻ vốn là con nhà nông dân cần cù chất phác, sống rất đầm ấm, hạnh
phúc. Ban ngày họ cùng đi làm, cấy hái vài sào lúa ở đồng đầm Tri Yếu. Tháng ba
ngày tám họ cắp nón đi làm thuê, rồi kiếm thêm con cua, con ốc. Nghèo đói nhưng
căn nhà vách đất mái tranh luôn đầy ắp tiếng cười.
Năm 1940, chị Khám sinh con trai đặt tên là Tuân. Cuộc sống gia đình ngày
càng túng thiếu, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc nhưng họ cố gắng nuôi con.
Năm cháu Tuân 3 tuổi, ông bà sốt ruột khuyên con đẻ thêm đứa nữa cho có anh có
em. Các cụ dạy “Tre ấm bụi, một con một của ai thừa”… Chị Khám nhỏ nhẻ trả lời
“cám ơn cha mẹ đã quan tâm, nhưng cái nghèo bám riết hai vợ chồng con. Vài sào
ruộng đầm “chiêm khê mùa thối” chẳng đủ ăn, bây giờ mà sinh cháu nữa chúng
con đói mãi”…
Hai vợ chồng dồn hết tình thương cho con, họ yêu quý, nâng niu như hòn
ngọc. Tối nào hàng xóm cũng thấy bé Tuân cười như nắc nẻ, khi thì nhong nhong
trên lưng trên lưng bố, khi thì nũng nịu sà vào lòng mẹ. Thấy vậy, người em trai
than vãn “anh chị chiều thằng Tuân quá, sau này sinh hư”. Nhưng dự đoán trên
không đúng với trường hợp của Tuân. Càng lớn Tuân càng ngoan và yêu quý bố
mẹ, khiêm nhường với bạn bè. Từ bé, Tuân đã có tính tự lập. Bố mẹ đi làm suốt
ngày nhưng Tuân không khóc, tự ăn nắm cơm, củ khoai mẹ phần trong rá.
Nhưng rồi sự bất hạnh đã đến mái ấm gia đình. Sau những ngày làm lụng vất
vả, ăn ít làm nhiều, chị Khám kiệt sức ốm liệt giường. Anh Chắt hết lòng chạy
chữa, nhưng hồi ấy thuốc men không có, ấm lá, chén thuốc nam không chữa khỏi
bệnh. Bé Tuân không rời xa, hết sờ đầu lại nắm chân tay cho mẹ. Thỉnh thoảng bé
cầm quả chuối, kề sát miệng mẹ dỗ dành “mẹ ăn đi để chóng khỏe, mẹ lại đi cấy
lấy thóc nuôi con…” Nghe con nói nước mắt người mẹ trào ra. Bà nghiêng đầu bên
phải, rồi bên trái không cao cất đầu dậy được. Cứ như thế, sức mẹ kiệt dần. Vào
một buổi sáng tháng 6, trời đầy mây mẹ Khám vừa thở dốc, vừa nói những lời cuối
cùng dặn dò ông Chắt. Khi ngoài vườn có tiếng giọt mưa đêm lộp bộp trên tàu
chuối, kèm theo những tiếng sét xé trời của cơn mưa mùa hạ thì mẹ Khám trút hơi
thở cuối cùng.
Mẹ Khám qua đời, ông Chắt lâm vào cảnh “gà trống nuôi con”. Ban ngày đi
làm gửi bé Tuân sang nhà người em trai, tối hai bố con quấn túm nhau trong căn
nhà vốn nhỏ bé, bống trở thành rộng thênh thang vì thiếu vắng người phụ nữ.
Mùa thu năm 1955, trong không khí sục sôi cách mạng tháng Tám, làng Tri
Yếu rợp bóng cờ đỏ sao vàng. Lớp trẻ náo nức quên ăn, quên ngủ tham gia công
việc xã hội. Ông già bà cả cũng hăng hái chẳng kém thanh niên. Cách mạng tháng
Tám 1945 đã thổi bùng ngọn lửa đến từng gia đình, từng người dân ở Tri Yếu.
Năm 1946, sau cuộc họp thôn ở đình làng về, ông Chắt dắt con trai sang nhà
người em, với vẻ nghiêm trang nói “ba ngày nữa tôi lên huyện tập trung đi Vệ quốc
quân, nhờ chú thím và các cháu nuôi cháu Tuân lên người”. Thế là anh Chắt tạm
biệt con trai, bà con làng xóm lên đường đánh giặc, mang theo hình bóng người vợ
hiền xấu số và một chút băn khoăn về đứa con thơ dại.
Chín năm kháng chiến chống Pháp là 9 năm gia đình trông ngóng tin tức anh
Chắt. Bé Tuân đã hơn 10 tuổi chỉ nghe các bác, các anh kể về mẹ về cha. Hơn ai
hết, em mong bố trở về, bố con gặp lại. Vào một ngày tháng 7-1955, có anh bộ đội
về thăm gia đình và báo tin anh Chắt đã hy sinh. Theo nguyện vọng của gia đình,
anh kể giọng xúc động: vào bộ đội, anh Chắt chiến đấu trong trung đoàn 42. Ngày
24-10-1949 đơn vị về Yên Kỳ, Hưng Yên phối hợp với du kích địa phương chống
càn. Trong trận chiến đấu ác liệt, anh Chắt đã hy sinh anh dũng… Kể tới đây, anh
bộ đội mở ba lô lấy ra một quyển sổ nhỏ: Đây là quyển nhật ký anh Chắt gửi lại
cho con.
Được tin, cả làng đến chia buồn cùng gia đình. Tuân buồn lắm. Em bỏ bữa,
đọc mãi quyển nhật ký của người cha mà em không nhớ mặt. Lòng nung nấu quyết
tâm đi bộ đội trả thù nhà.
Những năm tháng miền Bắc sống trong hòa bình xây dựng, Tuân học hết cấp
II và được đi học trường Dược, sau đó về làm việc ở hiệu thuốc của huyện. Trong
khí thế cả nước vì miền Nam, lớp lớp thanh niên lên đường nhập ngũ, Nguyễn Thế
Tuân như có lửa đốt trong lòng. Tuân gặp xã đội, gặp các bác ở Ủy ban nằng nặc
xin đi chiến đấu. Cán bộ xã, huyện đều biết Tuân là con duy nhất của liệt sĩ
Nguyễn Thế Chắt nên không đồng ý. Nhưng giải thích thế nào Tuân cũng không
nghe, kể cả lời khuyên của chú thím.
Vào mùa thu năm 1962, cũng vào mùa cách đó 16 năm Tuân tiễn cha đi bộ
đội, gia đình người chú cùng bà con thôn xóm tiễn Tuân lên đường. Trước khi rời
quê hương vào Nam chiến đấu, Tuân về thắp hương mộ mẹ. Trong làn khói hương,
Tuân hứa với mẹ sẽ làm trong nhiệm vụ để xứng đáng là con của cha mẹ. Đơn vị
Tuân chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị. Đã nhiều lần Nguyễn Thế Tuân được
tặng danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ”, “Dũng sĩ diệt Ngụy”.
Thiếu úy Nguyễn Thế Tuân đã hy sinh trong trận chiến đấu chiếm lại cao
điểm ở phía tây Quảng Trị. Trước khi ngã xuống, anh tiêu diệt 5 tên thám báo, mở
đường cho đồng đội tiến lên. Cũng như người cha, Nguyễn Thế Tuân đã hy sinh
cuộc đời vì Độc lập, Tự do của dân tộc.
Trước khi chia tay, đồng chí chủ tịch xã Đặng Cương nói với tôi: xã em có
182 liệt sĩ, 12 mẹ Việt Nam anh hùng, 69 thương binh. Mỗi cảnh mỗi nhà một
khác, ai cũng đáng trân trọng và xứng đáng ghi vào sử sách. Gia đình mẹ Lê Thị
Khám là một tấm gương để lớp con cháu chúng em noi theo”.



