Bài viết

Chuyện về một người lính Lê Dương trở thành Bộ đội Cụ Hồ (phần 1)

Gia Lai17/05/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Chuyện về một người lính Lê Dương trở thành Bộ đội Cụ Hồ (phần 1)

Bảo tàng Lịch sử Quân sử Quân sự Việt Nam hiện lưu giữ bức ảnh in từ phim gốc có số đăng ký P.4746 với nội dung: Chủ tịch Hồ Chí Minh với các đại biểu tại Hội nghị Quân huấn toàn quân, tháng 5 năm 1949. Trong bức ảnh, có một chiến sĩ quốc tế đội mũ ca lô đứng hàng đầu bên trái. Để tìm hiểu về nhân vật đó, tôi đến tìm cụ Đào Văn Trường, nguyên Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, nguyên Đại đoàn trưởng Đại đoàn Công Pháo 351 trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, người cũng có mặt trong bức ảnh.Cụ Đào Văn Trường cho biết: Người đó là Ernst Frey (En-xtơ Phrây, người Áo), có tên Việt Nam là Nguyễn Dân (thường gọi là Nguyễn Dân, đặt theo gợi ý của Đại tướng Võ Nguyên Giáp). Ernst Frey sinh năm 1914, là người Áo gốc Do Thái, từng chiến đấu trong đội quân tình nguyện quốc tế chống phát xít ở Tây Ban Nha. Năm 1938, ông ấy sang Pháp và tham gia lính Lê dương[1], khi chính phủ Petain (Pê-tanh) đầu hàng phát xít Đức, tháng 7/1941 bị điều sang Đông Dương, thuộc Tiểu đoàn 3, Trung đoàn Lê dương 5è (R.E.I.) đóng ở Việt Trì (Phú Thọ). Sau sự kiện Nhật đảo chính Pháp (09/3/1945), ông ấy cùng nhiều người khác trốn sang hàng ngũ Việt Minh làm công tác binh vận. Tôi và Ernst Frey là những người bạn thân thiết của tôi từ năm 1946. Cụ Trường chậm rãi kể lại rằng: Năm 1946, tôi được điều về cơ quan Tham mưu của Trường Lục quân Trung học Quảng Ngãi, Hiệu trưởng là đồng chí Nguyễn Sơn (sau này là Thiếu tướng Nguyễn Sơn). Lần đầu gặp mặt, tôi được tiếp xúc và có cảm tình với Nguyễn Dân. Vì biết tiếng Pháp, nên có thể làm việc trực tiếp và giúp đồng chí phiên dịch tiếng Pháp cho học sinh nhà trường. Sau trận “Tu Bông - Vạn Giã”, quân ta thắng lớn ở Nam Trung Bộ, đà tiến quân ào ạt của giặc Pháp bị chặn đứng. Để phòng địch quay lại, đồng chí Nguyễn Sơn yêu cầu tôi cùng Nguyễn Dân vào ngay vùng Phù Mỹ, Phù Cát với nhiệm vụ lên phương án lập “phòng tuyến ngăn chặn”, nghiên cứu khả năng địch có thể đổ bộ ở vùng bờ biển Tam Quan (Bình Định).
Bức ảnh Hội nghị Quân huấn toàn quân tháng 5/1949, tại Định Hóa, Thái Nguyên (in từ phim gốc có số đăng ký P.4746). Đại tá Nguyễn Dân là người đứng ngoài cùng bên trái, đội mũ ca-lô, cụ Đào Văn Trường là người đứng khoanh tay. Ảnh tư liệu BTLSQSVN. Vào một đêm, chúng tôi cùng nhau đi dạo dọc bờ biển Phù Mỹ. Tôi kể cho Nguyễn Dân về thời kỳ làm công tác binh vận khi chỉ huy Đệ nhị Cứu Quốc quân. Khi đó, tôi là người viết truyền đơn biểu ngữ viết bằng tiếng Kinh, tiếng Thái, tiếng Nùng, kêu gọi lính “khố xanh”, “khố đỏ” chống lại chỉ huy, tự tay viết nhiều truyền đơn biểu ngữ bằng tiếng Pháp kêu gọi lính Pháp, lính Lê dương phản chiến, quay súng lại, chạy sang hàng ngũ quân cách mạng Việt Nam. Dưới truyền đơn biểu ngữ bao giờ cũng có các khẩu hiệu viết bằng tiếng Pháp: Vive la Légion révolectionaire de l’Indochine! Vive la Révolution européenne et mondiale! Vive la Révolution indochinoise! À bas terreur blanche! Salut fraternel! À bientot et au front! (Section, R.R.I) “Đoàn quân Cách mạng quốc tế Đông Dương muôn năm!” “Cách mạng thế giới muôn năm!” “Cách mạng Đông Dương muôn năm!” “Đả đảo khủng bố trắng! Chào anh em! Hẹn gặp nhau ở mặt trận!” Cuối cùng, còn ký tên đàng hoàng: “Đệ nhị trung đội Cứu quốc quân, Trung đoàn 1, Quân cách mạng Đông Dương!”
Cụ Đào Văn Trường dự buổi lễ tiếp nhận hiện vật của Bảo tàng LSQS Việt Nam năm 2016. Ảnh BTLSQSVN. Đến đây, Nguyễn Dân bất ngờ nói lớn: “Có đấy! Không những chỉ có lính Lê dương, lính Pháp phản chiến mà còn có cả một chi bộ bí mật của Đảng Cộng sản Đông Dương trong Quân đội Pháp ở Việt Trì”. Sau một hồi lặng đi, sâu lắng, mắt đăm đăm xa xôi, Nguyễn Dân đột nhiên quay lại, ôm chầm lấy tôi. Và ông ấy đã khóc, kể lại cho tôi nghe những chặng đường thử thách đầy gian nguy mà đồng chí đã phải vượt qua, để được “toại nguyện” phục vụ cách mạng Việt Nam. Nguyễn Dân tâm sự: “Tôi vào đội quân Lê dương năm 1941, ở Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 5 (3/5è R.E.I). Mình còn là một người “Do Thái”, một tên “Do Thái” có cả chục người thân ở quê hương đã bị phát xít Đức tàn sát hay quẳng vào lò thiêu như những mớ rẻ rách! Nỗi đau của mình là không biết tin tức gia đình… Vậy mà, giờ đây ở Việt Nam, ở Tổ quốc thân yêu của cậu, khi là “lính Lê dương đi đánh thuê”, tận mắt mình còn biết thế nào là chủ nghĩa diệt chủng của phát xít Nhật. Là “da trắng” hay “da vàng”, bọn chúng, những tên “đồ tể phát xít” giống nhau y hệt. Những làng xóm bị thiêu đốt hay tàn phá, những ngôi nhà sụp đổ, những em bé khóc hết hơi, rên rỉ bên xác mẹ, những con người còn sống bị chém đầu. Và còn ghê rợn hơn nữa là nạn đói. Hàng trăm, hàng ngàn “bóng ma”, gầy đét, trơ xương, đen thủi, đen thui, lảo đảo kéo nhau đi trên khắp các nẻo đường... Nhiều người còn sống hẳn hoi, ngã gục ở đầu đường, quán chợ, trong lùm cây, bụi cỏ... Và cả ở trong và trên những đống xác chết, người ta gom lại, chưa kịp đem chôn.
Chân dung En-xtơ Phrây hay Nguyễn Dân. Ảnh từ hồi ký “Việt Nam, tình yêu của tôi” (Ernst Frey). Nguyễn Dân thở dài, hạ giọng: Y hệt như ở Đức, Ý, Ba Lan, Áo.., ở trong các trại tập trung, ở trong các “lò thiêu người” thành tro bụi ở quê hương khốn khổ của mình. Không chỉ thế, mình còn rơi vào “thùng rác lính đánh thuê” của đội quân Lê dương Pháp, trước điều kiện “nếu không, sẽ bị trao trả cho Phát xít. Sự có mặt của chúng tôi ở đây đâu có phải là tình cờ. Nguyễn Dân bỗng đổi giọng, sôi nổi, xúc động: Nhưng, riêng với bọn mình, được đưa sang Đông Dương, sang Việt Nam lại là “hạnh phúc”. Năm 1941, thỉnh thoảng mình lại thấy xuất hiện những tờ truyền đơn của Việt Minh từ ngoài lọt vào trại lính Lê dương. Tháng 11/1941, có người lính trong cùng đơn vị Trung đoàn 5 đi vây quét quân cách mạng nổi dậy ở Thái Nguyên (Bắc Sơn - Võ Nhai) bị thương, được đưa về điều trị ở Hà Nội. Ra viện, người lính ấy đã lén mang theo truyền đơn của “Quân cách mạng Việt Nam kêu gọi binh lính Pháp và lính Lê dương phản chiến, quay súng lại, chạy sang hàng ngũ quân cách mạng Việt Nam, tham gia “Đoàn quân quốc tế” của cách mạng Đông Dương”. Nguyễn Dân bỗng đập mạnh vào bả vai tôi, giọng sảng khoái: “Thì ra, cho đến bây giờ mình mới biết tác giả của những truyền đơn, biểu ngữ ấy lại chính là “cậu”, là “đồng chí” ngồi ngay bên mình. Thật là “kỳ diệu”, như trong giấc mơ vậy”. (Còn nữa) (Ghi theo lời kể của cụ Đào Văn Trường)

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Chuyện về một người lính Lê Dương trở thành Bộ đội Cụ Hồ (phần 1) | Câu chuyện thời hoa lửa