CHUYỆN VỀ NGƯỜI LÍNH HAI LẦN TÌNH NGUYỆN RA TRẬN
Câu chuyện kể về cuộc đời đầy kiêu hãnh và đức hy sinh của cựu binh Hoàng Doãn Đương. Từ một chiến sĩ dũng cảm trong kháng chiến chống Mỹ, ông đã khiến mọi người ngỡ ngàng khi tiếp tục viết đơn tình nguyện ra mặt trận Vị Xuyên vào năm 1978 dù đã ở tuổi xế chiều. Không chỉ là một người lính anh dũng, ông còn là biểu tượng của tình đồng chí thiêng liêng với tâm niệm "không bao giờ bỏ lại đồng đội phía sau". Dù mang trên mình những vết thương từ chiến trường, ông trở về đời thường với sự giản dị,
Năm 1975, khi đất nước ca khúc khải hoàn, người lính ấy hoàn thành nhiệm vụ và trở về quê hương trong niềm vui đoàn tụ. Thế nhưng, đến năm 1978, khi mái đầu đã điểm bạc, ông lại đưa ra một quyết định khiến gia đình và đồng đội vô cùng ngỡ ngàng: Viết đơn tình nguyện ra mặt trận lần thứ hai.
Điều gì đã thôi thúc một cán bộ huyện Bắc Sơn tiếp tục cầm súng khi tuổi tác đã cao? Cái giá nào cho sự bình yên nơi biên thùy? Hôm nay, tôi xin được kể lại câu chuyện về một "nhân chứng sống" đặc biệt ngay tại quê hương Bắc Sơn anh hùng: Ông Hoàng Doãn Đương.
Một thời hoa lửa dọc dải Trường Sơn
Ông Đương sinh ngày 25/02/1947 tại xã Hữu Vĩnh, huyện Bắc Sơn. Nhập ngũ ngày 15/10/1965 khi mới 18 tuổi, ông mang theo ý chí của thanh niên vùng căn cứ cách mạng đi dọc chiều dài đất nước. Từ chiến trường miền Bắc vào miền Nam, rồi sang cả nước bạn Lào và Campuchia, dấu chân ông in hằn trên những cung đường máu lửa.
Vào ngày 05/10/1969, ở tuổi 21, ông vinh dự được đứng vào hàng ngũ của Đảng. Trải qua các vị trí từ Tiểu đội trưởng đến Đại đội trưởng, ông chính là hiện thân của thế hệ "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước", bước vào cuộc chiến với tinh thần "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh".
Mệnh lệnh từ trái tim và tình đồng chí
Trong ký ức mà ông chia sẻ với chúng tôi, chiến tranh không chỉ có vinh quang. Đó là những ngày đối mặt với mưa bom bão đạn, là ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết. Nhưng điều thiêng liêng nhất giữ họ lại bên nhau chính là tình đồng chí. Với ông, mệnh lệnh cao cả nhất đến từ trái tim: Không bao giờ bỏ lại đồng đội phía sau.
Ông xúc động kể lại:
"Năm 2013, ông Hà Bắc đến thăm tôi và khóc. Ông bảo nếu không có tôi cõng ra khỏi trận địa năm xưa, chắc giờ nắm xương tàn cũng chẳng còn. Lúc ấy anh em mình chỉ biết bảo nhau: Đã là đồng chí, dù chết cũng phải cứu nhau cho bằng được."
Gác lại bình yên, hướng về biên cương
Hòa bình lập lại, ông trở về công tác tại địa phương, ngỡ rằng súng đã gác lại để vui vầy bên gia đình. Thế nhưng, khi biên cương Tổ quốc gọi tên vào năm 1978, người cựu binh ấy lại đưa ra một quyết định đầy xúc động. Gác lại niềm vui đoàn tụ, ông một lần nữa viết đơn tình nguyện xin ra tuyến đầu tại mặt trận Vị Xuyên.
Chiến tranh đi qua để lại trên ngực áo ông những tấm huân chương lấp lánh:
Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Ba.
Huân chương Giải phóng hạng Nhất, Nhì, Ba.
Nhưng dấu ấn sâu đậm nhất lại nằm ở vết thương trên cơ thể. Trận chiến Vị Xuyên những năm 1984 - 1989 đã lấy đi một phần xương máu của ông khi cứu ba người đồng đội trong căn hầm đổ nát năm xưa. Giờ đây, mỗi khi trái gió trở trời, vết thương cũ lại đau nhức, nhưng đó là minh chứng hào hùng nhất cho một đời hy sinh vì Tổ quốc.
Lời nhắn nhủ cho thế hệ măng non
Tháng 05/1987, rời tay súng, người thương binh ấy trở về là một bác nông dân chất phác giữa đời thường. Dù bàn chân thương tật ở Vị Xuyên vẫn còn đau nhức, nhưng ông chưa bao giờ hối tiếc vì đã dành trọn tuổi thanh xuân cho đất nước.
Câu chuyện của ông Hoàng Doãn Đương đã dạy cho thế hệ chúng tôi một bài học lớn: Lòng yêu nước không nằm ở lời nói suông, mà nằm ở sự sẵn sàng dấn thân. Ngày xưa ông sẵn sàng ra trận khi Tổ quốc cần; còn ngày nay, yêu nước chính là nỗ lực học tập, là lòng biết ơn và trân trọng hòa bình.
Thay mặt thế hệ măng non, chúng cháu xin hứa sẽ rèn đức luyện tài, sống xứng đáng với máu xương mà cha ông đã đổ xuống. Kính chúc ông thật nhiều sức khỏe, mãi là "cây cao bóng cả" để chúng cháu soi mình và học tập.


