Chuyện về Trần Thị Lý
Câu chuyện về Trần Thị Lý

Trong tiến trình lịch sử Việt Nam, ông cha ta ngày trước đã từng bị đô hộ, giày xéo bởi chế độ phong kiến phương Bắc, thực dân phương Tây và cả cuộc chiến tranh mưa bom lửa đạn với thực dân Mĩ. Một ngàn năm Bắc thuộc, một trăm năm đô hộ của thực dân Pháp và hơn hai mươi năm chiến tranh với Mĩ đã quá dài để khiến cho con người ta mệt mỏi, rã rời, kiệt sức để vùng dậy. Thế nhưng những người con mang trong mình dòng máu Việt Nam vẫn không bao giờ chịu khuất phục dưới các thế lực thống trị độc ác, để rồi: “ Ở đâu có áp bức, ở đó có chiến tranh”. Nhờ đó, lịch sử Việt Nam đã chứng kiến và khắc khi nét đẹp vẻ vang với những trang lịch sử hào hùng của dân tộc. Đó không những là sự lãnh đạo tài tình của các bậc minh quân, tướng sĩ, những chàng trai đi lính mà còn có nét chấm phá mảnh mai của cô gái tuổi mười tám, đôi mươi - Trần Thị Lý- người con gái của đất Quảng Nam – một đóa hoa rực rỡ giữa ngục tù đế quốc, tỏa hương thơm của ý chí bất khuất vào trang sử vàng dân tộc. Trần Thị Lý (30 tháng 12 năm 1933 – 20 tháng 11 năm 1992), tên khai sinh là Trần Thị Nhâm, là một nhà hoạt động cách mạng, nữ chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam và Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, tham gia trong chiến tranh Đông Dương và chiến tranh Việt Nam, là nữ tù chính trị dưới các nhà tù Pháp- Mỹ và là Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân Việt Nam. Về phía chính quyền Việt Nam, bà được xem là một "nữ chiến sĩ cách mạng dũng cảm, vì đã từng chịu nhiều cực hình, tra tấn dã man từ chínhbquyền Ngô Đình Diệm trong các nhà tù của Pháp mà vẫn không khai báo và khuất phục Sinh ra và lớn lên giữa mảnh đất “địa linh nhân kiệt”, nơi sản sinh ra những người con không bao giờ biết cúi đầu, nữ anh hùng Trần Thị Lý tham gia cách mạng từ năm mười hai tuổi .Nhờ sự hoạt bát, lanh lợi, tuổi trẻ của bà gắn liền với những cuộc xuống đường, những buổi rải truyền đơn, những đêm chuyển vũ khí dưới làn mưa đạn. Giai đoạn từ 1951 – 1956, bà tham gia đường dây cán bộ nằm vùng và đã từng 2 lần bị bắt nhưng đều được tha vì không đủ chứng cứ. Năm 1956, bị chính quyền Việt Nam cộng hòa bắt lần thứ 3, đó là lúc bắt đầu cho những ngày tháng đen tối nơi ngục tù, nơi mà con người ta mất đi tất cả tự do, hy vọng, thậm chí cả nhân hình. Mỗi lần tra tấn như lửa nung điện giật, dùi đâm, mỗi trận đòn thù, mỗi ngày trong hầm tối biệt giam dường như không làm bà gục ngã, mà chỉ như mài giũa thêm sắc sảo cho tinh thần thép của nữ anh hùng ấy.
Hình ảnh người con gái ấy trở thành biểu tượng cho sức mạnh tinh thần Việt Nam. Dù bị kìm
hãm trong không gian địa lí, thế nhưng niềm tin, tinh thần về một ngày chiến thắng của nữ anh hùng Trần Thị Lý thì không một nhà giam nào có thể giam giữ nổi. Bà trở thành “con chim hoàng yến” – như cách gọi đầy trân trọng của những người đồng chí – hát lên khúc ca về tự do giữa chốn lao tù. Tiếng hát ấy, tiếng thơ ấy, đã vượt qua song sắt, trở thành ngọn đuốc soi đường, thành sức mạnh cổ vũ cho bao đồng đội cùng cảnh ngộ. Sự kiên cường của bà khiến kẻ thù phải khiếp sợ, và khiến bạn bè quốc tế, những người yêu chuộng hòa bình và công lý, phải nghiêng mình kính phục. Câu chuyện về người con gái Việt Nam nhỏ bé mà phi thường ấy đã vang xa, trở thành một phần của cuộc đấu tranh chung vì nhân quyền và độc lập dân tộc.
Tháng 10/1958, bà bị tra tấn tới kiệt sức, phía địch cho rằng chị không thể sống được nữa nên đem vứt bà ra ngoài nhà lao, bà may mắn thoát chết một cách hi hữu, được đồng đội bí mật đón về, chuyển sang Campuchia và được đưa ra Bắc chữa trị tại bệnh viện Hữu nghị Việt – Xô. Tình trạng suy kiệt, 42 vết thương trên người liên tục rỉ máu… sức khỏe giảm sút nghiêm trọng, mất khả năng sinh sản (lúc ấy bà chỉ còn nặng chưa đến 26 kg). Đến thăm bà, Bác Hồ rất cảm động. Nhìn bà đau đớn, Bác tìm cách nói chuyện để nguôi đi phần nào nỗi đau thể xác. Không những vậy, khi nhà thơ Tố Hữu tới thăm bà, ông cũng không thể kìm nổi nước mắt khi chứng người congái mang trong mình đầy vết thương ấy dù có nhỏ bé về mặt thế xác nhưng thể nhỏ bé về tinh thần chiến tranh, lòng quả cảm. Tháng 12-1958, bài thơ Người con gái Việt Nam của ông ra đời (sau đó được dịch ra nhiều thứ tiếng), gây xúc động lòng người và là tâm điểm chú ý của dư luận
quốc tế:
“Em là ai? Cô gái hay nàng tiên
Em có tuổi hay không có tuổi
Mái tóc em đây hay là mây là suối
Đôi mắt em nhìn hay chớp lửa đêm giông
Thịt da em hay là sắt là đồng?
Cho tôi hôn bàn chân em lạnh ngắt
Cho tôi nâng bàn tay em nắm chặt
Ôi bàn tay như đôi lá còn xanh
Trên mình em đau đớn cả thân cành!
Tỉnh lại em ơi, qua rồi cơn ác mộng
Em đã sống lại rồi, em đã sống!
Điện giật, dùi đâm, dao cắt, lửa nung
Không giết được em, người con gái anh hùng!
Ôi trái tim em, trái tim vĩ đại
Còn một giọt máu tươi còn đập mãi
Không phải cho em. Cho Lẽ phải trên đời
Cho quê hương em. Cho Tổ quốc, loài người!”
(Người con gái Việt Nam- Tố Hữu)
Trần Thị Lý trong tim của con người Việt Nam dường như không hề nhỏ bé chút nào, bà không hề kém cạnh những nữ hiệp sĩ trong các huyền thoại Hy Lạp mà chúng ta vẫn được học từ bé. Bà đã chững minh rằng, chính nhờ niềm tin và ý chí sẽ ẩn chứa một sức mạnh tinh thần có thể làm rung chuyển ngục tù, có thể chạm đến trái tim nhân loại. Bà là hiện thân của nữ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam: thầm lặng, dai dẳng, và bất diệt trên dải đất hình chữ S này. Nhụy hoa ấy đã nở từ cát bụi đau thương của chiến tranh, để tỏa một thứ hương thơm không chỉ của lòng dũng cảm, mà còn của lòng nhân ái và khát vọng hòa bình. Tên tuổi và cuộc đời Trần Thị Lý mãi mãi là bài học sáng ngời về ý chí con người, là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam, và là tấm gương để các thế hệ hôm nay và mai sau soi mình, tìm thấy sức mạnh vượt lên mọi nghịch cảnh. Đóa hoa ấy, dù đã trở về với đất mẹ, vẫn cứ ngát hương trong lịch sử và trong lòng người.


