Cờ Đảng trên núi Bài Thơ
Ai đến đấ mỏ cũng biết núi Bài Thơ. Đó là ngọn núi đứng án giữa thị xã Hòn Gai và vịnh biển. Từ đỉnh đến chân núi có nhiều mợp đá lởm chởm, trông xa như những cái gai khổng lồ, nên người ta gọi đây là Hòn Gai. Nghe nói hồi thế kỷ 18, chúa Trịnh đi qua đây, thấy núi đẹp, trèo lên chơi và đề thơ vào vách núi. Từ đấy núi mang tên là Bài Thơ.
Ai đến đấ mỏ cũng biết núi Bài Thơ. Đó là ngọn núi đứng án giữa thị xã Hòn Gai và vịnh biển. Từ đỉnh đến chân núi có nhiều mợp đá lởm chởm, trông xa như những cái gai khổng lồ, nên người ta gọi đây là Hòn Gai. Nghe nói hồi thế kỷ 18, chúa Trịnh đi qua đây, thấy núi đẹp, trèo lên chơi và đề thơ vào vách núi. Từ đấy núi mang tên là Bài Thơ.
Sau khi Đảng ra đời, phong trào công nhân vùng mỏ ngày một lên cao. Một số chi bộ đã được thành lập. Đâu đâu cũng sôi sục bàn chuyện đấu tranh.
Gần đến ngày 1-5-1930, chi bộ Đảng Hòn Gai chúng tôi họp bàn ở lán Đạo trên Ba Đèo, quyết nghị : Nhân ngày 1-5 này, phải dùng nhiều hình thức phát động ý thức giác ngộ của giai cấp công nhân mỏ, làm cho mọi người hiểu biết thêm về Đảng, thấy rằng được Đảng luôn luôn ở giữa những người thợ mỏ bất chấp đàn áp khủng bố. Tôi được giao nhiệm vụ treo cờ Đảng trên núi Bài Thơ và tắt điện cho các đồng chí rải truyền đơn, dán áp phích vào đêm trước ngày kỷ niệm. Nhà tôi ở chân núi Bài Thơ, và tôi là tài xế ô-tô, có biết ít nhiều về điện. Tuổi thanh niên thật là hăng hái. Nhận nhiệm vụ, tôi biết sẽ gặp rất nhiều khó khăn nguy hiểm, nhưng lòng tôi rất hồ hởi. Ngày đêm tôi nghĩ cách để làm tròn nhiệm vụ.
Ngọn cờ Đảng trên núi Bài Thơ
Lúc còn bé, nhiều lần tôi thường rủ mấy người bạn trèo lên núi Bài Thơ chơi. Dần dần tôi thuộc đường lên, đường xuống, biết chắc có một chỗ khó vượt qua nhất, thường phải đạp chân vào mấy mợp đá rồi đưa hai tay vít lên. Tôi cũng đã nhắm được chỗ cắm cờ là một mặt đá rộng bằng chiếc chiếu có những kẽ hở. Rồi tôi tìm sẵn một cái cây làm cán cờ và một cuộn dây. Lúc đầu, chúng tôi định may cờ ở nhà một anh thợ may vốn là cơ sở quàn chúng tốt. Nhưng cửa hàng anh đông người ra vào, chúng tôi sợ lộ, nên phải giao cho chị cả Khương may cờ. Chị cả Khương rất khéo tay, may ngay được là cờ bằng mặt bàn, có hình búa liềm rất cân xứng. - Chuẩn bị cho việc tắt điện của nhà máy điện cọc 5, tôi đã để sẵn ở dưới cầu Kinh Liêm, cạnh cột điện cao thế, hai sợi dây đồng đành thành móc và hai cuộn dây gai.
Chiều 30-4
Cơm nước xong, tôi vẫn mặc nguyên bộ quần áo anh lao động, đi thơ thẩn trước nhà. Dưới lần áo, tôi đã giấu sẵn cuộn dây và lá cờ.Trời nhá nhem, tôi lần đến chân núi Bài Thơ và bắt đấu trèo. Tôi đã quen đường, lại vẫn nom rõ cái bờ đá, kẽ núi, nên trèo rất nhanh. Màu áo xanh lẫn với màu cây núi, chẳng ai nom rõ tôi. Qua chỗ nguy hiểm đã biết trước, tôi đu người một cách nhẹ nhàng. Tôi mỉm cười tự hỏi : biết mấy anh bạn đã từng trèo núi chơi với tôi có biết rằng những cuộc đi chơi đó có ích cho tôi biết chừng nào !
Chẳng mấy chốc, tôi đã lên đến mặt bằng trên đỉnh núi. Tôi rút lá cờ dưới lần áo ra, luồn ngay vào cái cây làm cán đã có sẵn, rồi lấy dây gai buộc chặt hai đầu. Một thoáng là tôi đã cắm được cán cờ vào một kẽ đá. Trên núi cao này nhiều gió lắm, lá cờ vừa mới cắm tung bay phần phật. Tôi đứng một lúc, lặng nhìn xuống chân núi. Cả Hòn Gai đang sáng đèn và tấp nập người đi lại. Xe lửa phụt khói, nhà sàng chạy ầm ầm, cân trục trên bến cảng chuyền mình rót than xuống tàu. Ngày mai, cả Hòn Gai, cả khu mỏ, và bọn địch nữa sẽ thấy là cờ Đảng này phấp phới trên đỉnh cao nhất của núi Bài Thơ. Đảng ra đời, Đảng đến với giai cấp ta, Đảng mãi mãi còn đây. Nghĩ thế, tôi thấy lòng phấn chấn vô cùng, một mình mỉm cười vươn vai trong đêm tối.
Đường xuống khó khăn hơn đường lên nhiều, vì lúc này trời đã tối mù tối mịt, lối núi dốc lắm, đi xuống bao giờ cũng dễ trượt chân. Tôi phải nằm bẹp mà bò lùi, hai chân đạp xuống phía dưới tìm lối, hai tay vẫn bíu lấy những mợp đá phía trên, bụng cứ lo không may ngã mà mất mạng. Nhưng tôi lại nghĩ : Dẫu có chết lúc này cũng đã làm xong nhiệm vụ treo cờ, trước sau đều vì Đảng, vì cách mạng, chẳng có gì đáng phàn nàn cả.
Cuối cùng tôi xuống dưới chân núi Bài Thơ, thở phào một cách khoan khoái. Tôi còn ngoái nhìn lên đỉnh núi một lần nữa, rồi chạy về trụ sở bí mật của Đảng, báo cáo với ban cán sự của Đảng. Tôi được lệnh phải đi tắt điện ngay để đồng chí rải truyền đơn, dán áp phích có điều kiện hoạt động.
Núi Bài thơ với ngọn cờ đã được nhạc sĩ Hoàng Vân dùng làm câu kết trong bài “Tôi là người thợ lò” (“Phất cao ngọn cờ trên núi Bài Thơ năm xưa ta đi tới”)
Tôi vội theo đường sát mé chân đồi ra cầu Kinh Liêm. Đường tối, vắng,hai bên là lau lách, cũng chẳng tên lính tuần nào biết mà lần theo. Tới cầu Kinh Liêm, tôi tháo cuộn dây gai ra, một đầu buộc vào hai móc đồng, một đâu buộc hòn đá. Tôi lấy hết sức mình ném hòn đá vòng qua phía trên những dây điện. Chỉ nghe một tiếng bụp ở đằng kia, không ai hay biết gì cả. Tôi chạy sqang bên kia đường, tìm đầu dây có buộc hòn đá mà kéo cho hai cái móc đồng lên tới những đâu dây điện. Bỗng : một tiếng nổ xoẹt, một ánh lửa xanh lòe lên. Và tất cả trăm ngàn ngọn điện từ Hòn Gai đến cọc 5 tắt ngấm. Khu mỏ ven biển chìm trong bóng tối. Đứng trong bãi sú ẩm ướt và đen như mực tại câu Kinh Liêm, tôi sung sướng tưởng tượng ra cảnh các đồng chí tôi giờ này ở khắp nơi, cổng nhà máy, bến tàu, rạp hát, cửa kho, đường xe, đang hối hả tung truyền đơn, dán áp phích, mà bọn địch chịu bó tay, có mắt như mù…
Ngày mai, tiếng nói của Đảng sẽ đến với hàng ngàn, hàng vạn người thợ mỏ - ngày 1-5 bất diệt của nhân dan lao động toàn thế giới !
Sáng hôm sau, bọn địch lồng lộn lên. Chủ nhất gắt chủ nhì, chủ nhì quất đốc công, đốc công quát cai ký. Mật thám tủa ra khắp đường khắp ngõ. Lính tuần sục sạo mọi nơi. Mặt những tên đội Pháp hầm hầm, đỏ gay. Nhưng đã muộn rổi ! Mọi người dân mỏ trong ngoài thị xã Hòn Gai đã trông thấy lá cờ Đảng trên đỉnh cao của núi Bài Thơ. Người ta sung sướng nhìn nhau và nhìn lên đỉnh núi, bàn tán :
- Làm sao mà tài thế hở anh ?
- Chẳng tài mà lại làm được cộng sản
Qua sự việc này, chúng tôi hiểu rằng : Đảng luôn luông sống giữa lòng ngưới thợ mỏ và người thợ mỏ luôn luôn hướng về Đảng.



