Cờ đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Trung đoàn 241
Cờ đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Trung đoàn 241Cờ đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Trung đoàn 241 (có số đăng ký BTBĐQT: 1019/ L- 158) hiện đang được Bảo tàng Quân đoàn 1 (Bảo tàng Binh đoàn Quyết thắng) trưng bày ở một vị trí trang trọng trong chuyên đề “Quân đoàn 1 - nơi hội tụ của các đơn vị anh hùng”. Đây là phần thưởng cao quý mà Đảng và Nhà nước tặng Trung đoàn Phòng không 241 vào ngày 3/6/1976 vì những thành tích xuất sắc của đơn vị trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc.
Mùa khô năm 1965 – 1966, đế quốc Mỹ đẩy mạnh cuộc chiến tranh bằng không quân và hải quân ra miền Bắc. Trước yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu và chấp hành Nghị quyết của Quân ủy Trung ương, tháng 5/1966, Quân chủng Phòng không Không quân kiện toàn tổ chức, phát triển lực lượng cho cuộc chiến đấu mới. Ngày 19/5/1966, tại sân bay Bạch Mai (Hà Nội), Trung đoàn Phòng không 241 mang phiên hiệu ''Đoàn Xung Kích'' (nay là Lữ đoàn Phòng Không 241, Quân đoàn 1) được thành lập. Ngay sau khi thành lập, Trung đoàn khẩn trương củng cố lực lượng, kiện toàn tổ chức biên chế, lập tức bước vào huấn luyện để có thể chiến đấu được ngay. Sau 2 tháng thành lập, 15 giờ ngày 19/7/1966, Trung đoàn 241 đã bắn cháy một chiếc máy bay F105 của địch tại Đông Anh, Hà Nội, mở ra truyền thống đánh thắng trận đầu của Đoàn Xung Kích. Tháng 5/1967, Đảng ủy, Ban Chỉ huy Trung Đoàn phát động đợt thi đua đột kích chào mừng 1 năm Ngày thành lập Trung đoàn và mừng sinh nhật Bác. Đại đội 1 pháo 57mm do Đại đội trưởng Nguyễn Văn Tân chỉ huy đã bắn rơi chiếc máy bay A3J trên phố Lê Trực, Hà Nội [1]. Chỉ sau hơn 1 năm thành lập, cán bộ, chiến sỹ Trung đoàn đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, chống chiến tranh phá hoại, bắn rơi 19 máy bay Mỹ. Chấp hành chỉ thị của lãnh đạo Quân chủng Phòng không - Không quân, ngày 25/11/1967, Trung đoàn làm lễ xuất quân lên đường chiến đấu ở chiến trường miền Nam. Đây là lần đầu tiên Trung đoàn Phòng không chiến đấu ở đội hình binh chủng hợp thành và cũng là lần đầu pháo phòng không tham gia một chiến dịch lớn, đánh dấu một bước tiến mới trong nghệ thuật quân sự của Quân đội ta. Trong Chiến dịch Khe Sanh năm 1968, Trung đoàn đã tham gia chiến đấu 1.421 trận, bắn rơi 32 máy bay địch, hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu hiệp đồng quân binh chủng và bảo vệ tuyến giao thông vận tải chiến lược trên Đường Trường Sơn. 
Cờ đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Trung đoàn 241. Ảnh: BTQĐ1 Tháng 2/1971, Trung đoàn được lệnh hành quân vào tham gia Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào. Do đã có kinh nghiệm từ Chiến dịch Khe Sanh, các đơn vị trong Trung đoàn tích cực nghiên cứu âm mưu, thủ đoạn của không quân địch để tìm ra cách đánh phù hợp. Tại bản Đông, Đại đội 52 của Tiểu đoàn 24 đã mưu trí sáng tạo, nổ súng kịp thời bắn rơi tại trỗ 5 chiếc trực thăng địch. Bên cạnh đó, Đại đội 63 đã bí mật áp sát địch với quyết tâm ''Mở đường mà tiến, đánh địch mà đi''. Bằng lối đánh linh hoạt, đơn vị đã bắn rơi 3 máy bay trực thăng địch, chi viện kịp thời cho các đơn vị tiến công tiêu diệt Lữ đoàn dù số 3, bắt sống tên chỉ huy Đại tá Nguyễn Văn Thọ và Bộ Tham mưu địch. Qua 52 ngày đêm ''luồn sâu, lót sẵn, trụ vững, chốt kiên cường'', Trung đoàn 241 đã bắn rơi 72 máy bay địch, vượt chỉ tiêu đề ra 32 chiếc, đánh dấu bước trưởng thành lớn mạnh vượt bậc của Trung đoàn. Đầu năm 1972, Trung đoàn được lệnh tham gia Chiến dịch Trị Thiên. Trải qua muôn vàn khó khăn thử thách, song với ý quyết tâm ''Không có gì quý hơn độc lập tự do'', Trung đoàn đã tham gia chiến đấu 1.008 trận đánh, bắn rơi 186 máy bay, góp phần cùng mặt trận B5 hoàn thành nhiệm vụ của chiến dịch. Năm 1973, sau khi Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam được ký kết, tình hình trên chiến trường miền Nam thay đổi nhanh chóng, có lợi cho cách mạng Việt Nam. Với mục tiêu xây dựng lực lượng mạnh để thực hiện thắng lợi các mục tiêu quân sự đã đề ra, Bộ Chính trị quyết định thành lập các Quân đoàn chủ lực hiệp đồng quân binh chủng quy mô lớn. Trung đoàn 241 nằm trong đội hình Sư đoàn 367, vinh dự được đứng trong đội hình chiến đấu của Quân Đoàn 1 - Quân đoàn chủ lực, cơ động, dự bị chiến lược đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Sau chiến thắng Buôn Ma Thuật (11/3/1975), Trung đoàn được lệnh hành quân thần tốc từ miền Bắc vào tham gia trận quyết chiến chiến lược cuối cùng để giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Ngày 29/3/1975, Trung đoàn xuất phát từ Yên Khánh, Ninh Bình. Trải qua 15 ngày đêm hành quân liên tục, Trung đoàn đã vượt qua chặng đường dài trên 1700km vào đến Đồng Xoài theo đúng thời gian quy định. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, Trung đoàn phối thuộc bảo vệ đội hình tiến công của Sư đoàn 312; chiến đấu bảo vệ cụm pháo binh chiến dịch của Quân đoàn và bảo vệ ngầm Bến Bầu cho đội hình Quân đoàn vượt sông Bé, góp phần vào thắng lợi chung của Chiến dịch. Ngày 15/5/1975, tại lễ mừng Ngày Toàn thắng, Trung đoàn vinh dự được thay mặt cho lưc lượng pháo phòng không toàn quân tham gia diễu binh trước niềm hân hoan chào mừng của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội và hàng triệu đồng bào. Trong đoàn quân chiến thắng ấy, có các đồng chí tiêu biểu của Trung đoàn như Phạm Ngọc Ánh, một mình bắn hạ 3 máy bay; xạ thủ tên lửa A72 Trần Văn Khôi bắn rơi 8 máy bay Mỹ, có trận bắn rơi tại chỗ 2 chiếc. Để đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, ngày 26/10/1975, Bộ Tổng Tham mưu quyết định phát triển Trung đoàn thành Lữ đoàn Phòng không. Đây là bước phát triển mới của lực lượng Phòng không trong quá trình tiến lên chính quy, hiện đại. Đầu tháng 11/1975, Tiểu đoàn 4 thuộc Bộ Tư lệnh 559 được điều về đội hình Lữ đoàn 241. Ngày 20/12/1975, Lữ đoàn được lệnh điều động của Bộ Tư Lệnh Phòng không - Không quân hành quân ra Bắc về đội hình Quân đoàn 1. Ngày 1/4/1976, Bộ Tư lệnh Phòng không Không quân chính thức bàn giao Lữ đoàn về đội hình Quân đoàn 1. Từ đây, Lữ đoàn 241 trở thành lực lượng nòng cốt trong tác chiến phòng không của Binh đoàn Quyết thắng. Thực hiện chỉ thị của Tư lệnh Quân đoàn, Lữ đoàn chuyển toàn bộ đội hình về đứng chân tại xã Quỳnh Lưu, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình. Trong những năm cuối thập kỷ 70, Lữ đoàn vừa củng cố doanh trại, vừa ra sức huấn luyện sẵn sàng chiến đấu và tham gia lao động trên các công trình trọng điểm. Những ngày đầu, đơn vị mới về đóng quân, mọi sinh hoạt của bộ đội đều thiếu thốn. Tuy nhiên, với khẩu hiệu ''Toàn Lữ đoàn là một công trường lao động sản xuất, xây dựng đơn vị'', những người chiến sĩ vừa rời tay súng lại bắt tay vào cầm cuốc, cầm xẻng, dụng cụ lao động bạt núi, san đồi, cắt tranh, chặt tre xây dựng nơi ăn, nơi ở và nơi sinh hoạt của bộ đội. Cán bộ, chiến sỹ Lữ đoàn luôn cống hiến hết sức mình, phấn đấu trở thành ''Người chiến sỹ giỏi, người lao động giỏi'' trong huấn luyện và xây dựng. Tất cả chạy đua với thời gian, đem hết sức lực xây dựng nên những con đường, những trận địa phòng không, nhà xe, nhà pháo, nhà ở, hội trường tuy đơn sơ nhưng khang trang, sạch đẹp. Giữa những ngày lao động vất vả và khẩn trương, tin vui lại đến với cán bộ chiến sỹ Lữ đoàn. Ngày 3/6/1976, Lữ đoàn Phòng không 241 vinh dự được Đảng, Nhà nước tuyên dương danh hiệu cao quý ''Đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân''. Phần thưởng cao quý này đã khẳng định những cố gắng của cán bộ, chiến sỹ Lữ đoàn sau những năm tháng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Phần thưởng như tiếp thêm sức mạnh cho Lữ đoàn 241 vượt qua mọi khó khăn thử thách, tiếp tục vươn lên trong giai đoạn cách mạng mới, xứng đáng hơn nữa với sự tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Năm 2002, nhằm tuyên truyền, giáo dục và phát huy truyền thống của đơn vị, Ban Chỉ huy Lữ đoàn 241 đã tặng lại cho Bảo tàng Quân đoàn 1 cờ “Đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân nhân Trung đoàn 241” làm hiện vật để lưu giữ và trưng bày. Đây là một hiện vật có giá trị, góp phần tuyên truyền cho các thế hệ cán bộ, chiến sĩ về truyền thống "Xung kích, Quyết thắng" của Lữ đoàn Phòng không 241 anh hùng nói riêng và truyền thống "Thần tốc, Quyết thắng" của Quân đoàn 1 nói chung. [1] Mảnh xác máy bay A3J trong sự kiện này hiện được trưng bày tại Bảo tàng Quân đoàn 1 Ngọc Dao - Bảo tàng Quân đoàn 1

Cờ đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Trung đoàn 241. Ảnh: BTQĐ1 Tháng 2/1971, Trung đoàn được lệnh hành quân vào tham gia Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào. Do đã có kinh nghiệm từ Chiến dịch Khe Sanh, các đơn vị trong Trung đoàn tích cực nghiên cứu âm mưu, thủ đoạn của không quân địch để tìm ra cách đánh phù hợp. Tại bản Đông, Đại đội 52 của Tiểu đoàn 24 đã mưu trí sáng tạo, nổ súng kịp thời bắn rơi tại trỗ 5 chiếc trực thăng địch. Bên cạnh đó, Đại đội 63 đã bí mật áp sát địch với quyết tâm ''Mở đường mà tiến, đánh địch mà đi''. Bằng lối đánh linh hoạt, đơn vị đã bắn rơi 3 máy bay trực thăng địch, chi viện kịp thời cho các đơn vị tiến công tiêu diệt Lữ đoàn dù số 3, bắt sống tên chỉ huy Đại tá Nguyễn Văn Thọ và Bộ Tham mưu địch. Qua 52 ngày đêm ''luồn sâu, lót sẵn, trụ vững, chốt kiên cường'', Trung đoàn 241 đã bắn rơi 72 máy bay địch, vượt chỉ tiêu đề ra 32 chiếc, đánh dấu bước trưởng thành lớn mạnh vượt bậc của Trung đoàn. Đầu năm 1972, Trung đoàn được lệnh tham gia Chiến dịch Trị Thiên. Trải qua muôn vàn khó khăn thử thách, song với ý quyết tâm ''Không có gì quý hơn độc lập tự do'', Trung đoàn đã tham gia chiến đấu 1.008 trận đánh, bắn rơi 186 máy bay, góp phần cùng mặt trận B5 hoàn thành nhiệm vụ của chiến dịch. Năm 1973, sau khi Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam được ký kết, tình hình trên chiến trường miền Nam thay đổi nhanh chóng, có lợi cho cách mạng Việt Nam. Với mục tiêu xây dựng lực lượng mạnh để thực hiện thắng lợi các mục tiêu quân sự đã đề ra, Bộ Chính trị quyết định thành lập các Quân đoàn chủ lực hiệp đồng quân binh chủng quy mô lớn. Trung đoàn 241 nằm trong đội hình Sư đoàn 367, vinh dự được đứng trong đội hình chiến đấu của Quân Đoàn 1 - Quân đoàn chủ lực, cơ động, dự bị chiến lược đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Sau chiến thắng Buôn Ma Thuật (11/3/1975), Trung đoàn được lệnh hành quân thần tốc từ miền Bắc vào tham gia trận quyết chiến chiến lược cuối cùng để giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Ngày 29/3/1975, Trung đoàn xuất phát từ Yên Khánh, Ninh Bình. Trải qua 15 ngày đêm hành quân liên tục, Trung đoàn đã vượt qua chặng đường dài trên 1700km vào đến Đồng Xoài theo đúng thời gian quy định. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, Trung đoàn phối thuộc bảo vệ đội hình tiến công của Sư đoàn 312; chiến đấu bảo vệ cụm pháo binh chiến dịch của Quân đoàn và bảo vệ ngầm Bến Bầu cho đội hình Quân đoàn vượt sông Bé, góp phần vào thắng lợi chung của Chiến dịch. Ngày 15/5/1975, tại lễ mừng Ngày Toàn thắng, Trung đoàn vinh dự được thay mặt cho lưc lượng pháo phòng không toàn quân tham gia diễu binh trước niềm hân hoan chào mừng của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội và hàng triệu đồng bào. Trong đoàn quân chiến thắng ấy, có các đồng chí tiêu biểu của Trung đoàn như Phạm Ngọc Ánh, một mình bắn hạ 3 máy bay; xạ thủ tên lửa A72 Trần Văn Khôi bắn rơi 8 máy bay Mỹ, có trận bắn rơi tại chỗ 2 chiếc. Để đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, ngày 26/10/1975, Bộ Tổng Tham mưu quyết định phát triển Trung đoàn thành Lữ đoàn Phòng không. Đây là bước phát triển mới của lực lượng Phòng không trong quá trình tiến lên chính quy, hiện đại. Đầu tháng 11/1975, Tiểu đoàn 4 thuộc Bộ Tư lệnh 559 được điều về đội hình Lữ đoàn 241. Ngày 20/12/1975, Lữ đoàn được lệnh điều động của Bộ Tư Lệnh Phòng không - Không quân hành quân ra Bắc về đội hình Quân đoàn 1. Ngày 1/4/1976, Bộ Tư lệnh Phòng không Không quân chính thức bàn giao Lữ đoàn về đội hình Quân đoàn 1. Từ đây, Lữ đoàn 241 trở thành lực lượng nòng cốt trong tác chiến phòng không của Binh đoàn Quyết thắng. Thực hiện chỉ thị của Tư lệnh Quân đoàn, Lữ đoàn chuyển toàn bộ đội hình về đứng chân tại xã Quỳnh Lưu, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình. Trong những năm cuối thập kỷ 70, Lữ đoàn vừa củng cố doanh trại, vừa ra sức huấn luyện sẵn sàng chiến đấu và tham gia lao động trên các công trình trọng điểm. Những ngày đầu, đơn vị mới về đóng quân, mọi sinh hoạt của bộ đội đều thiếu thốn. Tuy nhiên, với khẩu hiệu ''Toàn Lữ đoàn là một công trường lao động sản xuất, xây dựng đơn vị'', những người chiến sĩ vừa rời tay súng lại bắt tay vào cầm cuốc, cầm xẻng, dụng cụ lao động bạt núi, san đồi, cắt tranh, chặt tre xây dựng nơi ăn, nơi ở và nơi sinh hoạt của bộ đội. Cán bộ, chiến sỹ Lữ đoàn luôn cống hiến hết sức mình, phấn đấu trở thành ''Người chiến sỹ giỏi, người lao động giỏi'' trong huấn luyện và xây dựng. Tất cả chạy đua với thời gian, đem hết sức lực xây dựng nên những con đường, những trận địa phòng không, nhà xe, nhà pháo, nhà ở, hội trường tuy đơn sơ nhưng khang trang, sạch đẹp. Giữa những ngày lao động vất vả và khẩn trương, tin vui lại đến với cán bộ chiến sỹ Lữ đoàn. Ngày 3/6/1976, Lữ đoàn Phòng không 241 vinh dự được Đảng, Nhà nước tuyên dương danh hiệu cao quý ''Đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân''. Phần thưởng cao quý này đã khẳng định những cố gắng của cán bộ, chiến sỹ Lữ đoàn sau những năm tháng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Phần thưởng như tiếp thêm sức mạnh cho Lữ đoàn 241 vượt qua mọi khó khăn thử thách, tiếp tục vươn lên trong giai đoạn cách mạng mới, xứng đáng hơn nữa với sự tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Năm 2002, nhằm tuyên truyền, giáo dục và phát huy truyền thống của đơn vị, Ban Chỉ huy Lữ đoàn 241 đã tặng lại cho Bảo tàng Quân đoàn 1 cờ “Đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân nhân Trung đoàn 241” làm hiện vật để lưu giữ và trưng bày. Đây là một hiện vật có giá trị, góp phần tuyên truyền cho các thế hệ cán bộ, chiến sĩ về truyền thống "Xung kích, Quyết thắng" của Lữ đoàn Phòng không 241 anh hùng nói riêng và truyền thống "Thần tốc, Quyết thắng" của Quân đoàn 1 nói chung. [1] Mảnh xác máy bay A3J trong sự kiện này hiện được trưng bày tại Bảo tàng Quân đoàn 1 Ngọc Dao - Bảo tàng Quân đoàn 1



