con đường cách mạng của Nguyễn An Đông cũng đầy gian nan và bi kịch
Trong lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc Việt Nam, có những con người đã sống và cống hiến một cách thầm lặng, không ồn ào, không hào quang, nhưng sự hy sinh của họ lại góp phần làm nên thắng lợi vĩ đại của đất nước. Và ông cả của em ông Bành Văn Còn, còn gọi là Nguyễn An Đông hay Hai Đông, sinh năm 1923, là một con người như thế – một chiến sĩ tình báo cách mạng kiên trung, một trí thức yêu nước, một tấm gương sáng về lòng trung thành và sự hy sinh vì Tổ quốc.
Trong quá trình hoạt động, ông từng bị địch bắt và giam giữ tại Khám Chí Hòa - một trong những nhà tù khét tiếng thời bấy giờ. Những ngày tháng trong tù không làm ông khuất phục, trái lại càng tôi luyện thêm ý chí và tinh thần cách mạng. Ngay trong chốn lao tù, ông cùng những người đồng đội đã sáng tác và đối đáp với nhau những bài thơ đầy cảm xúc, thể hiện tinh thần lạc quan, niềm tin vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng. Bài thơ dưới đây là đoạn đối đáp giữa đồng chí Nguyễn Văn Thanh và đồng chí Nguyễn An Đông bày tỏ sự nhung nhớ mẹ già:
Khám lạnh canh khuya nhớ mẹ già
Tuổi đời sáu mươi tóc sương pha
Gian truân đau khổ từng giai đoạn
Nhớ cháu, thương con, dạ xót xa!
(Nguyễn Văn Thanh)
Khám lạnh canh khuya nhớ mẹ
Tôi cũng như anh có mẹ già
Cần cù bao quản tóc sương pha
Cho con trọn hiếu cùng dân tộc
Đất nước nặng tình, há xót xa!
(Nguyễn An Đông)
Tuy nhiên, con đường cách mạng của Nguyễn An Đông cũng đầy gian nan và bi kịch. Khi hoạt động tình báo của ông bị lộ, tổ chức đã chuẩn bị đưa ông ra miền Bắc để tránh sự truy lùng gắt gao của chính quyền Mỹ – ngụy. Nhưng chưa kịp thực hiện kế hoạch ấy, thì bi kịch đã xảy ra. Vào ngày 6 tháng 8 năm 1968, khi ông đang di chuyển bằng xe máy trên đường phố Sài Gòn, hai thanh niên áp sát và nổ súng ám sát ông bằng súng giảm thanh. Sau đó, kẻ địch tạo dựng hiện trường giả nhằm che giấu tội ác, khiến nhiều người lầm tưởng rằng ông gặp tai nạn giao thông. Ban đầu, ông được an táng tại Nghĩa trang cũ trên đường 30/4 (nay là khu vực cây xăng). Sau này, khi gia đình và đồng đội tiến hành cải táng, phát hiện thi hài ông vẫn còn nguyên vẹn, sự thật về cái chết của ông mới được làm sáng tỏ: ông đã bị sát hại một cách có chủ đích vì hoạt động cách mạng. Sau đó, hài cốt của ông được đưa về an táng trang trọng tại Nghĩa trang Liệt sĩ Cần Thơ – nơi ghi danh những người con ưu tú đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.
Vì hoạt động với công việc tình báo và đặc thù của công việc là phải giữ bí mật nên ông không thể kể gì với gia đình về công việc của mình cụ thể là làm gì, bản thân ông đã cống hiện được gì, đến ngày ra đi ông cũng chẳng kịp nói lời từ biệt, nhưng có lẽ sự cống hiến trong thầm lặng và sự hy sinh cao cả của ông đã được ghi chép lại, ông Bành Văn Còn (Nguyễn An Đông) đã được Đảng và Nhà nước ghi nhận bằng nhiều phần thưởng cao quý như: Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến hạng Nhì chống thực dân Pháp xâm lược, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất chống Mỹ cứu nước. Những tấm huân chương ấy không chỉ là sự công nhận những đóng góp, tri ân đối với cá nhân ông, mà còn là sự tôn vinh đối với thế hệ những người lính tình báo âm thầm, kiên trung trong lòng địch.
Là một người cháu trong gia đình, em luôn cảm thấy tự hào và xúc động khi được nghe kể lại cuộc đời cách mạng thầm lặng của ông cả của mình - ông Bành Văn Còn. Sự hy sinh và lòng trung thành của ông nhắc nhở em phải biết trân trọng nền độc lập, hòa bình mà hôm nay em đang có. Từ tấm gương của ông, em học được bài học về ý chí kiên cường, không lùi bước trước khó khăn, thử thách trong cuộc sống. Ông còn dạy em rằng tri thức và nghề nghiệp cần được sử dụng để cống hiến cho gia đình, xã hội và đất nước. Là thế hệ đi sau, em tự nhủ phải sống có lý tưởng, có trách nhiệm với bản thân và cộng đồng. Em sẽ cố gắng học tập, rèn luyện đạo đức để xứng đáng với truyền thống yêu nước của gia đình. Đó cũng là cách em bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với ông và những người đã hy sinh vì Tổ quốc



